Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số: 62 22 03 02) với đề tài "Về sự biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam" được tác giả Nguyễn Văn Sơn thực hiện tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2017, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Ngọc Linh và TS. Vũ Hồng Sơn.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Theo quy luật khách quan của chủ nghĩa duy vật lịch sử, quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản, chi phối tiến trình phát triển của xã hội. Ở Việt Nam, thời kỳ trước đổi mới (trước năm 1986), quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa được xác lập một cách chủ quan, nôn nóng dựa trên việc xóa bỏ nhanh các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa khi trình độ lực lượng sản xuất còn ở mức thấp. Sự không phù hợp này đã kìm hãm sản xuất và dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội.
Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã điều chỉnh nhận thức, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, thừa nhận sự tồn tại đan xen của nhiều loại hình quan hệ sản xuất, trong đó quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa giữ vai trò chủ đạo. Dù vậy, quá trình vận hành thực tiễn vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập: hiệu quả khu vực doanh nghiệp nhà nước chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ, kinh tế tập thể chuyển đổi chậm chạp, cơ chế quản lý và phân phối còn tồn tại vướng mắc. Trước bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, việc khảo sát, nhận diện toàn diện sự biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa dưới góc độ triết học nhằm tìm kiếm các định hướng điều chỉnh là yêu cầu cấp thiết.
Khoảng trống nghiên cứu được xác định: Các công trình trước đây đa phần tiếp cận quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa dưới giác độ kinh tế học chuyên ngành hoặc chỉ khảo sát riêng lẻ từng mặt (sở hữu, tổ chức quản lý, hoặc phân phối) trong từng phân kỳ ngắn hạn. Thiếu vắng các công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện từ góc độ duy vật lịch sử về sự biến đổi đồng thời trên cả ba mặt của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa (trong hai thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể) trong suốt tiến trình đổi mới từ năm 1986 đến nay.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Trên cơ sở phân tích lý luận và thực trạng sự biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, luận án đề xuất các phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy những biến đổi tích cực, hạn chế những biến đổi tiêu cực để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
- Ba nhiệm vụ cụ thể được đánh số theo văn bản:
- Nghiên cứu một số quan điểm lý luận cơ bản về quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và các nhân tố tác động đến sự biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam.
- Phân tích thực trạng sự biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
- Góp phần đưa ra một số phương hướng và giải pháp chủ yếu để phát huy những biến đổi tích cực, hạn chế những biến đổi tiêu cực của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Sự vận động, biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, được xác định cụ thể trong hai thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1986 (bắt đầu công cuộc Đổi mới) đến thời điểm hoàn thành luận án (năm 2017).
- Phạm vi nội dung và không gian: Trong thành phần kinh tế nhà nước, luận án đi sâu khảo sát các doanh nghiệp nhà nước (bộ phận nòng cốt). Trong thành phần kinh tế tập thể, luận án tập trung khảo sát các hợp tác xã (bộ phận trụ cột) trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả phân loại và đánh giá hệ thống công trình nghiên cứu đã công bố theo ba nhóm chủ đề chính:
1. Nhóm công trình về lý luận chung quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa
- Lý luận về sở hữu và cơ cấu kinh tế: Vũ Hồng Sơn (bài báo "Quan niệm của C.Mác về sở hữu và một vài suy nghĩ về sở hữu ở nước ta hiện nay") phân tích việc phân tách quyền sở hữu và quyền sử dụng tư liệu sản xuất. Phùng Hữu Phú và các cộng sự ("Một số vấn đề lý luận - thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam") hệ thống hóa 30 năm đổi mới tư duy kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nguyễn Đức Luận ("Về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam" và "Phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về sở hữu trong giai đoạn hiện nay") làm rõ nét đặc thù của kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Lương Minh Cừ ("Những quan niệm của Mác - Ăngghen và Lênin về sở hữu trong chủ nghĩa xã hội"), Lương Minh Cừ và Vũ Văn Thức ("Sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay - một số vấn đề nhận thức về lý luận và thực tiễn"), Nguyễn Kế Tuấn ("Vấn đề sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam"), Lương Việt Hải ("Vấn đề sở hữu và phát triển bền vững ở Việt Nam và Trung Quốc trong những năm đầu thế kỷ XXI"), Nguyễn Văn Thức ("Sở hữu: lý luận và vận dụng ở Việt Nam" và "Sự tồn tại đồng thời nhiều loại hình sở hữu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay"), Nguyễn Văn Thạo và Nguyễn Hữu Đạt ("Một số vấn đề về sở hữu ở nước ta hiện nay").
- Lý luận về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất: Đề tài của Trần Văn Phòng ("Nghiên cứu, tổng kết làm sáng tỏ một số vấn đề về lý luận về mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa") phân tích tiêu chí tính hiện đại và tính tiến bộ của quan hệ sản xuất. Lương Xuân Quỳ ("Xây dựng quan hệ sản xuất định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện tiến bộ công bằng xã hội ở Việt Nam"). Chử Văn Lâm ("Sở hữu tập thể và kinh tế tập thể trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam").
- Lý luận về quản lý và phân phối: Phú Giang ("Đổi mới quản lý, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước nhằm nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả hoạt động"), Võ Đại Lược ("Kinh tế Việt Nam lý luận và thực tiễn"), Nguyễn Cảnh Nam ("Quản lý doanh nghiệp nhà nước - Bất cập và đề xuất đổi mới"), Nguyễn Thành Nam ("Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao: kinh nghiệm từ Viettel"), Phạm Quang Trung ("Mô hình tập đoàn nhà nước ở Việt Nam đến năm 2020"). Về mặt phân phối có công trình của Lý Bân ("Lý luận chung về phân phối của chủ nghĩa xã hội") và Nguyễn Đức Luận ("Vấn đề phân phối sản phẩm trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay").
2. Nhóm công trình về thực trạng biến đổi quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa
Phạm Quý Thọ ("Kinh tế Việt Nam 30 năm chuyển đổi") đánh giá sự chuyển dịch tư duy kinh tế qua các giai đoạn 1986-1990, 1991-2001 và 2001-2016. Phạm Thế Anh ("Nợ của các doanh nghiệp nhà nước: mối đe dọa nợ công của Việt Nam") phản ánh quy mô nợ khu vực doanh nghiệp nhà nước. Nguyễn Đức Độ ("Một số thách thức trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam"). Ban Kinh tế Trung ương ("Đổi mới mô hình tăng trưởng cơ cấu lại nền kinh tế") phân tích kết quả tái cơ cấu và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2011-2015. Phùng Thế Hùng ("Đổi mới quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam"). Hội đồng Khoa học các Cơ quan Đảng Trung ương ("Doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" với các bài viết của Cao Viết Sinh, Trần Thị Minh Châu). Nguyễn Thị Hà Đông ("Quản lý nhà nước với tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam"). Trương Giang Long ("Bản chất của sở hữu trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam"). Thu Hường ("Luồng gió mới cho kinh tế hợp tác").
3. Nhóm công trình về giải pháp phát triển quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa
Phùng Hữu Phú và các cộng sự (2016), Lương Xuân Quỳ ("Tư duy mới về phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong bối cảnh mới"), Nguyễn Hữu Đạt ("Tập đoàn kinh tế trong việc thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế"), Tạ Ngọc Tấn ("Đổi mới nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa"), Phạm Việt Dũng, Tô Thị Ánh Dương, Nguyễn Thị Hà. Về kinh tế tập thể có Liên minh Hợp tác xã Việt Nam ("Phát triển kinh tế tập thể trong 30 năm đổi mới ở Việt Nam"), Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Vụ Hợp tác ("Tư tưởng hợp tác xã kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam"), Nguyễn Văn Giàu, Lê Mạnh Hùng, Bùi Văn Huyền.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án chỉ ra rằng các công trình đi trước chưa khảo sát sự biến đổi một cách đồng bộ trên cả ba phương diện (sở hữu, quản lý, phân phối) dưới lăng kính triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Đề tài tập trung hệ thống hóa quá trình biến đổi, chỉ rõ cả mặt tích cực lẫn tiêu cực của hai bộ phận trụ cột là doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã trong suốt hơn 30 năm đổi mới, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp triết học - chính trị toàn diện.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Lý thuyết, khái niệm và khung phân tích
Luận án vận dụng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử:
- Khái niệm quan hệ sản xuất: Là quan hệ kinh tế cơ bản giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất, tạo thành cơ sở hạ tầng (cơ cấu kinh tế) của xã hội, là hình thức phát triển của lực lượng sản xuất.
- Kết cấu ba mặt của quan hệ sản xuất:
- Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất: Quan hệ xuất phát, cơ bản, giữ vai trò quyết định đối với các quan hệ khác.
- Quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất: Quan hệ điều hành, vận hành phương thức kết hợp giữa người lao động và tư liệu sản xuất.
- Quan hệ phân phối sản phẩm lao động: Quan hệ xác định tỷ lệ hưởng thụ kết quả sản xuất, tác động trực tiếp đến lợi ích và động lực của người lao động.
- Lý luận về thời kỳ quá độ: Luận án sử dụng quan điểm của V.I. Lênin về tính chất đan xen phức tạp giữa các yếu tố xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở các nước kinh tế chậm phát triển.
- Quan điểm đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991, bổ sung phát triển năm 2011) và Văn kiện Đại hội VI đến Đại hội XII về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập thể là nền tảng.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp các phương pháp cụ thể:
- Phương pháp lịch sử - logic: Xem xét sự biến đổi của quan hệ sản xuất theo tiến trình lịch sử đổi mới (1986-2017) gắn với các mốc phát triển nhận thức của Đảng, đồng thời rút ra bản chất logic vận động của các quan hệ kinh tế.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Mổ xẻ từng mặt cấu thành (sở hữu, tổ chức, phân phối) trong từng khu vực (doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã) rồi khái quát thành bức tranh tổng thể về quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.
- Phương pháp so sánh, quy nạp - diễn dịch: So sánh các giai đoạn trước và sau đổi mới, đối chiếu giữa mục tiêu lý luận và số liệu thực tế về doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Hệ thống văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội (từ Đại hội VI đến Đại hội XII) và các Nghị quyết Trung ương liên quan đến đổi mới doanh nghiệp nhà nước và kinh tế tập thể.
- Văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp (1992, 2013), Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã (năm 1996, 2003, 2012).
- Số liệu thống kê thứ cấp từ Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển Doanh nghiệp, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Chương 1 tổng thuật chi tiết các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo ba nhóm: lý luận chung, thực trạng biến đổi, và các giải pháp phát triển quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Tác giả khẳng định công trình kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó, đồng thời xác định 5 vấn đề cần tiếp tục giải quyết dưới góc độ triết học:
- Hệ thống hóa lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và Đảng Cộng sản Việt Nam về quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.
- Xác định các nhân tố tác động đến sự biến đổi trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa.
- Luận giải vai trò chủ đạo của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội.
- Phân tích thực trạng biến đổi trên cả ba mặt (sở hữu, tổ chức quản lý, phân phối).
- Đề xuất phương hướng, giải pháp triết học - thực tiễn đồng bộ.
Chương 2: QUAN HỆ SẢN XUẤT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
Chương này làm rõ khái niệm, kết cấu và vai trò của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa:
- Bản chất và kết cấu: Quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định, trong đó quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu dưới hai hình thức cơ bản là sở hữu toàn dân (kinh tế nhà nước đại diện) và sở hữu tập thể (kinh tế tập thể). Luận án phân tích việc tách biệt giữa quyền sở hữu tối cao của nhà nước và quyền sử dụng/quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp.
- Tiêu chí tính tiến bộ và phù hợp: Sự tiến bộ của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam khác biệt với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ở chỗ mục đích sản xuất phục vụ người lao động, không vì giá trị thặng dư tối đa cho tư nhân.
- Các nhân tố tác động đến sự biến đổi:
- Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong nước.
- Cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và cách mạng khoa học công nghệ.
- Vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Chương 3: THỰC TRẠNG SỰ BIẾN ĐỔI CỦA QUAN HỆ SẢN XUẤT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
Chương 3 trình bày các dữ liệu thực tế về sự biến đổi của doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã trên ba mặt:
1. Về quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất:
- Khu vực doanh nghiệp nhà nước: Thực hiện sắp xếp lại, cổ phần hóa và thoái vốn. Số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm mạnh từ khoảng 12.000 doanh nghiệp trước đổi mới xuống còn 3.283 doanh nghiệp vào năm 2010. Tính đến ngày 30/9/2014, cả nước đã sắp xếp được 6.875 doanh nghiệp, trong đó cổ phần hóa 4.132 doanh nghiệp. Giai đoạn 2011-2015 sắp xếp 558 doanh nghiệp (cổ phần hóa 478 doanh nghiệp). Thoái vốn nhà nước năm 2013 đạt 965,5 tỷ đồng, năm 2014 đạt 2.975 tỷ đồng; giai đoạn 2013-2015 quy mô thoái vốn đạt 17.000 tỷ đồng (so với tổng vốn chủ sở hữu 1,3 triệu tỷ đồng).
- Khu vực kinh tế tập thể: Chuyển từ hợp tác xã kiểu cũ (sở hữu tập thể khép kín) sang mô hình hợp tác xã kiểu mới theo Luật Hợp tác xã năm 2012 với khoảng 20.000 hợp tác xã. Xuất hiện các mô hình hợp tác xã có quy mô vốn lớn: Hợp tác xã Hòa Mỹ (Hà Nội) vốn 226 tỷ đồng, Hợp tác xã Anh Đào vốn 50 tỷ đồng, Hợp tác xã Đại Hiệp (Quảng Nam) vốn 16 tỷ đồng.
2. Về quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất:
- Chuyển đổi từ mô hình quản lý kế hoạch hóa tập trung, hành chính bao cấp sang cơ chế hạch toán kinh doanh, tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
- Hình thành các tổng công ty và tập đoàn kinh tế nhà nước nắm giữ vị trí then chốt, chi phối thị phần lớn: Điện chiếm 94%, Than 97%, Thuốc lá 63%, Xi măng 59%, Giấy 50%, nắm giữ thị phần trọng yếu trong Dầu khí và Bưu chính viễn thông.
- Các hợp tác xã chuyển sang cung cấp dịch vụ đầu vào, đầu ra hỗ trợ kinh tế hộ gia đình thành viên.
3. Về quan hệ phân phối sản phẩm:
- Xóa bỏ cơ chế phân phối bình quân, hiện vật (tem phiếu); chuyển sang phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, kết hợp phân phối theo mức đóng góp vốn và thông qua hệ thống an sinh, phúc lợi xã hội.
| Chỉ tiêu / Lĩnh vực |
Số liệu thực tế trong văn bản |
| Số lượng doanh nghiệp nhà nước |
Giảm từ ~12.000 DN (trước 1986) xuống còn 3.283 DN (năm 2010) |
| Sắp xếp, cổ phần hóa lũy kế đến 30/9/2014 |
Sắp xếp 6.875 DN; Cổ phần hóa 4.132 DN |
| Sắp xếp, cổ phần hóa giai đoạn 2011-2015 |
Sắp xếp 558 DN; Cổ phần hóa 478 DN (chủ yếu quy mô vừa và nhỏ) |
| Thoái vốn ngoài ngành |
Năm 2013: 965,5 tỷ đồng; Năm 2014: 2.975 tỷ đồng; Giai đoạn 2013-2015: 17.000 tỷ đồng |
| Thị phần chi phối của tập đoàn nhà nước |
Điện: 94%, Than: 97%, Thuốc lá: 63%, Xi măng: 59%, Giấy: 50% |
| Quy mô nợ doanh nghiệp nhà nước (31/12/2013) |
1.271 nghìn tỷ đồng (= 46,2% GDP, tăng 16,4% so với năm 2012) |
| Phân bổ nợ tại một số tập đoàn, tổng công ty |
PVN: 163,1 nghìn tỷ đồng; EVN: 78,6 nghìn tỷ đồng; TKV: 49,6 nghìn tỷ đồng; Vinalines: 47,6 nghìn tỷ đồng; Sông Đà: 20,4 nghìn tỷ đồng |
| Quy mô vốn một số HTX kiểu mới |
HTX Hòa Mỹ: 226 tỷ đồng; HTX Anh Đào: 50 tỷ đồng; HTX Đại Hiệp: 16 tỷ đồng |
(Nguồn: Luận án trích dẫn từ các báo cáo của Ban Kinh tế Trung ương, số liệu nghiên cứu của Phạm Thế Anh, Nguyễn Đức Độ, Thu Hường và các bảng thống kê 3.1, 3.2, 3.3)
4. Những vấn đề đặt ra và biến đổi tiêu cực:
- Nợ của doanh nghiệp nhà nước ở mức cao (1.271 nghìn tỷ đồng tính đến 31/12/2013), tiềm ẩn rủi ro nợ công.
- Một số tập đoàn, tổng công ty thua lỗ nặng nề, thất thoát vốn lớn (điển hình như Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam Vinashin, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam Vinalines).
- Tiến độ cổ phần hóa và thoái vốn còn chậm; tại nhiều doanh nghiệp cổ phần hóa tỷ lệ vốn nhà nước vẫn chiếm trên 50%; thoái vốn 17.000 tỷ đồng giai đoạn 2013-2015 là quá nhỏ so với vốn chủ sở hữu 1,3 triệu tỷ đồng; nhiều doanh nghiệp chưa niêm yết trên sàn chứng khoán.
- Đại đa số hợp tác xã quy mô nhỏ bé, năng lực nội tại yếu, tỷ lệ liên kết chuỗi giá trị thấp.
- Quản lý nhà nước đối với chủ sở hữu còn phân tán, chồng chéo; tình trạng tham nhũng, thất thoát tài sản chưa được ngăn chặn triệt để.
Chương 4: MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT HUY NHỮNG BIẾN ĐỔI TÍCH CỰC, HẠN CHẾ NHỮNG BIẾN ĐỔI TIÊU CỰC CỦA QUAN HỆ SẢN XUẤT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
- Phương hướng chủ yếu: Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước kết hợp kinh tế tập thể làm nền tảng; hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất nhằm giải phóng sức sản xuất.
- Các nhóm giải pháp chủ yếu:
- Hoàn thiện quan hệ sở hữu: Đẩy mạnh tái cơ cấu, cổ phần hóa thực chất doanh nghiệp nhà nước; thoái vốn nhà nước ở các ngành không then chốt; chuyển đổi mô hình hợp tác xã theo đúng Luật Hợp tác xã năm 2012 dựa trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ.
- Đổi mới quan hệ tổ chức và quản lý: Tách biệt chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp; xóa bỏ cơ chế chủ quản; áp dụng chuẩn mực quản trị hiện đại; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, công khai minh bạch tài chính. Nâng cao năng lực cán bộ quản lý hợp tác xã.
- Đổi mới quan hệ phân phối: Thực hiện phân phối thu nhập gắn với năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh; kiểm soát thu nhập của người quản lý doanh nghiệp nhà nước; hoàn thiện chính sách an sinh xã hội, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp/hợp tác xã và người lao động.
- Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước: Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong các doanh nghiệp nhà nước và khu vực kinh tế tập thể, tránh bao biện làm thay hoặc buông lỏng quản lý.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn
Theo công bố của luận án, công trình có những đóng góp cụ thể:
- Nghiên cứu tổng hợp, hệ thống hóa những nhân tố tác động đến sự biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế.
- Luận giải sâu sắc vai trò của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong việc định hướng xã hội chủ nghĩa và dẫn dắt các thành phần kinh tế khác cùng phát triển.
- Làm rõ bức tranh thực trạng sự biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trên cả ba mặt (sở hữu, tổ chức quản lý, phân phối) trong hai thành phần kinh tế nòng cốt là kinh tế nhà nước (trọng tâm là doanh nghiệp nhà nước) và kinh tế tập thể (trọng tâm là hợp tác xã).
- Phân tích toàn diện những mâu thuẫn, hạn chế và vấn đề tồn tại của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong quá trình vận hành kinh tế thị trường tại Việt Nam hiện nay.
- Bước đầu đề xuất hệ thống các phương hướng và giải pháp có tính hệ thống nhằm phát huy những biến đổi tích cực, hạn chế những biến đổi tiêu cực của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
Luận án kiến nghị Nhà nước cần tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, tập trung vào các lĩnh vực hạ tầng thiết yếu và an ninh quốc phòng; hoàn thiện cơ chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước; nhân rộng các mô hình hợp tác xã kiểu mới ứng dụng công nghệ cao; hoàn thiện chính sách tiền lương và phân phối thu nhập minh bạch.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án chủ yếu tiếp cận vấn đề dưới góc độ triết học duy vật lịch sử kết hợp phân tích kinh tế chính trị, phạm vi khảo sát thực tế khu vực kinh tế nhà nước tập trung vào các doanh nghiệp nhà nước và kinh tế tập thể tập trung vào các hợp tác xã, chưa bao quát toàn bộ các tài sản công, tài nguyên quốc gia hay các tổ hợp tác đơn giản.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu sự biến đổi của quan hệ sở hữu toàn dân đối với các nguồn lực công khác (đất đai, tài nguyên khoáng sản, ngân sách) và đánh giá tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến sự biến đổi của các hình thức tổ chức quản lý và phân phối trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu và giảng dạy: Là tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy các môn học Triết học Mác - Lênin (đặc biệt là học thuyết hình thái kinh tế - xã hội), Kinh tế chính trị Mác - Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học và Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam tại các học viện, trường đại học.
- Đối với cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ lý luận và tư liệu thực tiễn cho Ban Kinh tế Trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam trong quá trình xây dựng, điều chỉnh chính sách đổi mới doanh nghiệp nhà nước và phát triển kinh tế tập thể.
- Phần đáng tham khảo nhất: Chương 2 (khung lý luận về tính tiến bộ, phù hợp và tách quyền sở hữu - quyền sử dụng) và Chương 3 (hệ thống dữ liệu về thực trạng sắp xếp doanh nghiệp nhà nước, nợ doanh nghiệp và mô hình hợp tác xã kiểu mới).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa gồm những thành phần kinh tế nào?
Luận án xác định đối tượng nghiên cứu của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nước ta được thể hiện tập trung trong hai thành phần kinh tế là kinh tế nhà nước (với nòng cốt là các doanh nghiệp nhà nước) và kinh tế tập thể (với trụ cột là các hợp tác xã).
2. Luận án nêu số liệu cụ thể nào về tình hình thoái vốn và nợ của doanh nghiệp nhà nước?
Luận án trích dẫn: Tính đến ngày 31/12/2013, quy mô nợ của các doanh nghiệp nhà nước là 1.271 nghìn tỷ đồng (tương đương 46,2% GDP, tăng 16,4% so với năm 2012), trong đó Tập đoàn Dầu khí nợ 163,1 nghìn tỷ đồng, EVN nợ 78,6 nghìn tỷ đồng. Về thoái vốn, năm 2013 thoái được 965,5 tỷ đồng, năm 2014 thoái được 2.975 tỷ đồng; giai đoạn 2013-2015 đạt 17.000 tỷ đồng, còn nhỏ so với tổng vốn chủ sở hữu 1,3 triệu tỷ đồng.
3. Tiêu chí phân biệt tính tiến bộ giữa quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa theo luận án là gì?
Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa có tính phù hợp với lực lượng sản xuất nhưng không có tính tiến bộ vì dựa trên sự bóc lột và nguyên tắc tối đa hóa lợi nhuận cho giai cấp tư sản. Ngược lại, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa có tính tiến bộ vì mục đích của nền sản xuất xã hội là vì con người, phục vụ quyền lợi của người lao động.
4. Việc phân tách quyền sở hữu và quyền sử dụng tư liệu sản xuất có ý nghĩa gì đối với doanh nghiệp nhà nước?
Theo luận án (kế thừa luận điểm của Vũ Hồng Sơn), việc tách rời quyền sở hữu của Nhà nước và quyền tự chủ kinh doanh (quyền sử dụng) của doanh nghiệp là cơ sở lý luận cốt lõi để trao quyền tự chủ cho doanh nghiệp nhà nước, xóa bỏ cơ chế bao cấp và hình thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Kết luận
Luận án của tác giả Nguyễn Văn Sơn là công trình nghiên cứu hệ thống dưới góc độ triết học duy vật lịch sử về sự biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam trong suốt thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến năm 2017. Thông qua việc phân tích toàn diện trên cả ba mặt sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối trong hai khu vực nòng cốt là doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã, luận án đã làm rõ cả những bước tiến tích cực lẫn các hạn chế tiêu cực nảy sinh. Công trình cung cấp hệ thống luận cứ khoa học và giải pháp thực tiễn có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác nghiên cứu lý luận cũng như hoạch định chính sách kinh tế - xã hội ở Việt Nam.