Nghiên Cứu Về Biến Đổi Quan Hệ Sản Xuất Xã Hội Chủ Nghĩa Trong Thời Kỳ Đổi Mới Ở Việt Nam

Chuyên khảo Biến đổi quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới ở việ phân tích chuyên sâu các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

171
13
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận chung về quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam

1.2. Những công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng sự biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam

1.3. Những công trình nghiên cứu liên quan đến giải pháp phát triển quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam

1.4. Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố liên quan đến đề tài và những vấn đề luận án cần tiếp tục giải quyết

2. CHƯƠNG 2: QUAN HỆ SẢN XUẤT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

2.1. Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và vai trò của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam

2.2. Những nhân tố tác động đến sự biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG SỰ BIẾN ĐỔI CỦA QUAN HỆ SẢN XUẤT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

3.1. Thực trạng sự biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam

3.2. Những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

4. CHƯƠNG 4: MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT HUY NHỮNG BIẾN ĐỔI TÍCH CỰC, HẠN CHẾ NHỮNG BIẾN ĐỔI TIÊU CỰC CỦA QUAN HỆ SẢN XUẤT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

4.1. Phương hướng chủ yếu để phát huy những biến đổi tích cực, hạn chế những biến đổi tiêu cực của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

4.2. Một số giải pháp chủ yếu để phát huy những biến đổi tích cực, hạn chế những biến đổi tiêu cực của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

Tóm tắt

I. Tổng quan về biến đổi quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới

Luận án của Nguyễn Văn Sơn tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh tập trung nghiên cứu về sự biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa (QHSX XHCN) trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam. Tác giả khẳng định tầm quan trọng của quy luật “quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất” và chỉ ra việc vận dụng quy luật này trong thời kỳ đổi mới đã tạo ra bước ngoặt cho kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn những bất cập, hạn chế trong QHSX cần được điều chỉnh để giải phóng lực lượng sản xuất và thúc đẩy phát triển.

1.1. Lý do nghiên cứu: Tác giả nhấn mạnh sự cần thiết của việc nghiên cứu, điều chỉnh QHSX XHCN để thích ứng với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Việc xây dựng QHSX XHCN trong thời kỳ quá độ là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, đòi hỏi sự tìm tòi, thử nghiệm và điều chỉnh để phù hợp với từng giai đoạn phát triển.

1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ: Luận án đặt mục tiêu phân tích lý luận và thực trạng sự biến đổi của QHSX XHCN, từ đó đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm phát huy những biến đổi tích cực và hạn chế những biến đổi tiêu cực. Nhiệm vụ chính bao gồm nghiên cứu lý luận cơ bản, phân tích thực trạng biến đổi và đề xuất giải pháp cho QHSX XHCN.

1.3. Phạm vi và đối tượng: Nghiên cứu tập trung vào sự biến đổi của kinh tế nhà nước (doanh nghiệp nhà nước) và kinh tế tập thể (hợp tác xã) từ năm 1986 đến nay.

1.4. Điểm mới của luận án: Tác giả khẳng định những điểm mới của luận án bao gồm việc nghiên cứu tổng hợp các nhân tố tác động đến sự biến đổi của QHSX XHCN, phân tích vai trò của QHSX XHCN trong đổi mới, làm rõ thực trạng biến đổi và đề xuất các giải pháp cho những vấn đề tồn tại.

II. Lý luận về quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa

Chương 1 của luận án tập trung phân tích các công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận chung về QHSX XHCN, thực trạng biến đổi và các giải pháp phát triển.

2.1. Quan điểm về sở hữu: Tác giả phân tích quan điểm của C. Mác về sở hữu, nhấn mạnh sở hữu là mối quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu của cải xã hội. Việc tách quyền sở hữu và quyền sử dụng được xem là cơ sở lý luận để đổi mới QHSX trong doanh nghiệp nhà nước.

2.2. Đổi mới quan niệm về kinh tế thị trường: Luận án tóm tắt quá trình đổi mới quan niệm về kinh tế thị trường từ Đại hội VI đến Đại hội XII của Đảng, khẳng định kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam. Tác giả nêu rõ các nội hàm của định hướng XHCN, bao gồm mục tiêu (dân giàu, nước mạnh,...), phương hướng (kinh tế nhiều thành phần, kinh tế nhà nước chủ đạo), phân phối (theo lao động là chủ yếu), và quản lý (Nhà nước pháp quyền XHCN).

2.3. Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Luận án phân tích mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, so sánh với các mô hình kinh tế thị trường khác trên thế giới. Tác giả chỉ ra sự tương đồng (nền kinh tế đa sở hữu, vận hành theo cơ chế thị trường) và khác biệt (dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, kinh tế nhà nước chủ đạo).

2.4. Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất: Tác giả đề cập đến mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện QHSX XHCN. Luận án phân tích tiêu chí của lực lượng sản xuất hiện đại (trình độ người lao động, tính hiện đại của tư liệu sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ) và QHSX hiện đại (phù hợp với xu thế phát triển của lực lượng sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển).

III. Thực trạng và vấn đề đặt ra

Chương 3 và 4 của luận án đi sâu vào thực trạng biến đổi của QHSX XHCN, những vấn đề đặt ra và đề xuất giải pháp. Tuy nhiên, nội dung chi tiết của phần này chưa được cung cấp đầy đủ trong đoạn trích. Dựa trên mục lục và phần mở đầu, có thể suy đoán nội dung sẽ xoay quanh:

3.1. Biến đổi trong kinh tế nhà nước: Luận án có thể phân tích sự biến đổi trong các doanh nghiệp nhà nước, bao gồm việc đổi mới quản lý, cơ chế hoạt động, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Các bảng số liệu về cơ cấu GDP, tài sản cố định, đầu tư tài chính dài hạn của doanh nghiệp có thể được sử dụng để minh chứng cho sự biến đổi này.

3.2. Biến đổi trong kinh tế tập thể: Tác giả có thể đánh giá sự phát triển của hợp tác xã, những khó khăn, thách thức và tiềm năng của mô hình kinh tế này trong thời kỳ đổi mới.

3.3. Vấn đề đặt ra: Dựa trên phân tích thực trạng, luận án sẽ chỉ ra những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển QHSX XHCN, ví dụ như sự chưa phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, những hạn chế trong việc giải phóng sức sản xuất, bất cập trong cơ chế quản lý, điều hành,...

3.4. Đề xuất giải pháp: Luận án dự kiến đề xuất các phương hướng, giải pháp để phát huy những biến đổi tích cực và hạn chế những biến đổi tiêu cực của QHSX XHCN, nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển và giữ vững định hướng XHCN.

20/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN HỆ SẢN XUẤT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM Trong quá trình nghiên cứu, sưu tầm tài liệu, chúng tôi nhận thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về quan hệ sản xuất (QHSX) xã hội chủ nghĩa (XHCN). Các công trình này, nghiên cứu QHSX XHCN trên các bình diện khác nhau. Điển hình là những công trình nghiên cứu dưới đây.

Với công trình: “Quan niệm của C.Mác về sở hữu và một vài suy nghĩ về sở hữu ở nước ta hiện nay” [125] của Vũ Hồng Sơn. Đây là một bài báo khoa học, tác giả đã đi sâu phân tích quan niệm của C.Mác về vấn đề sở hữu. Theo tác giả, từ trước đến nay, khi nói về sở hữu chúng ta thường hiểu đó là một hình thức chiếm hữu nhất định về của cải vật chất của xã hội trong từng thời kỳ lịch sử. Cách hiểu này là đúng đắn nhưng chưa thấu đáo.

Theo quan niệm của chủ nghĩa C.Mác; sở hữu thực chất là mối quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu của cải xã hội. Sở hữu là biểu hiện về mặt xã hội của sự chiếm hữu trong một hình thái kinh tế - xã hội, gắn liền với một tổ chức nhất định. Do vậy, khi bàn về sở hữu chúng ta phải đề cập đến đối tượng của sở hữu, đối tượng của sở hữu luôn luôn biến đổi, vì vậy cần phải xác định rõ đối tượng sở hữu trong từng giai đoạn, từng hoàn cảnh cụ thể. Khi nghiên cứu phạm trù sở hữu, chúng ta cần phân biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng.

Quyền sử dụng có nghĩa là dùng đối tượng sở hữu theo công dụng của nó và theo chủ trương mong muốn của người sử dụng. Quyền sở hữu và quyền sử dụng có thể được tập trung trong tay một chủ thể sở hữu, hoặc phân chia giữa các chủ thể khác nhau ví dụ như: Giám đốc và công nhân là người sử dụng tư liệu sản xuất trong chủ nghĩa tư bản (CNTB) nhưng không sở hữu chúng. Do sự phát triển của lực lượng sản xuất, của xã hội hóa mà dẫn đến quyền sử dụng tách khỏi quyền sở hữu. Việc tách quyền sở hữu và quyền sử dụng là cơ 6 sở lý luận để đổi mới quan hệ sản xuất trong các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước.

Điều này có nghĩa là: cần tách rời quyền sở hữu của nhà nước và quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp. Tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng là thực sự cần thiết để hình thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đây là một bài báo khoa học có giá trị khi nghiên cứu về sở hữu theo quan niệm của C.Mác và vận dụng vào quá trình đổi mới ở Việt Nam. Quan hệ sở hữu là quan hệ cốt lõi của quan hệ sản xuất, nhưng ngoài quan hệ sở hữu thì quan hệ sản xuất còn có các mối quan hệ khác chưa được đề cập đến như: quan hệ tổ chức quản lý, quan hệ trong phân phối kết quả lao động.

Mặc dù vậy, đây là tài liệu có giá trị với chúng tôi và gợi mở cho chúng tôi nhiều điều trong quá trình viết luận án. Trong cuốn sách Một số vấn đề lý luận - thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam [99] của Phùng Hữu Phú và các cộng sự, các tác giả đã khái quát về lý luận nhận thức của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa trong 30 năm đổi mới. Trong đó, có mảng các tác giả có nói về quá trình đổi mới quan niệm về kinh tế thị trường trong việc đi lên chủ nghĩa xã hội. Theo các tác giả, từ khi đổi mới năm 1986 Đại hội VI đến năm 2000 chúng ta sử dụng khái niệm: Kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ở đây, chúng ta đã thừa nhận kinh tế thị trường nhưng chưa coi đó là nền kinh tế mà chỉ là một cơ chế. Đến đại hội IX năm 2001 chúng ta đã chính thức sử dụng khái niệm: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và coi đây là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ. Nội hàm của định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ngày càng được làm rõ. Điều đó được thể hiện: Một là, về mục tiêu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.

Mục tiêu ở đây là vì con người chứ không phải vì mục tiêu lợi nhuận. Kinh tế thị trường không phải là mục tiêu, mà chỉ là công cụ để đi đến chủ nghĩa xã hội (CNXH). 7 Hai là, về phương hướng phát triển. Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân Ba là, về phân phối.

Gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển. Thực hiện phân phối theo lao động là chủ yếu, ngoài ra có phân phối theo mức đóng góp vốn các nguồn lực khác và theo phúc lợi xã hội Bốn là, về quản lý. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa quản lý nền kinh tế, dưới sự lãnh đạo của Đảng, bằng pháp luật, kế hoạch bảo đảm mục đích định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế… Có thể nói, đây là cuốn sách phân tích chuyên sâu lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Các tác giả, đã phân tích tư duy đổi mới lý luận kinh tế thị trường trong 30 năm đổi mới đất nước, vai trò của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế.

Tuy nhiên, các vấn đề mà tác giả nêu ra còn chung chung, khái quát ở tầm vĩ mô, chưa đi sâu phân tích cụ thể, chi tiết về quan hệ sản xuất XHCN, về vai trò của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong quá trình đổi mới. Mặc dù vậy, đây là tài liệu tham khảo cần thiết, có giá trị đối với chúng tôi. Trong tác phẩm: “Về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở việt Nam” [78] của Nguyễn Đức Luận. Đây là một bài báo khoa học, tác giả đã chỉ ra; kinh tế thị trường có nhiều mô hình khác nhau, như mô hình kinh tế thị trường Mỹ, mô hình kinh tế thị trường Đức, như mô hình kinh tế thị trường Nhật,… Đặc điểm chung của các mô hình kinh tế thị trường là nền kinh tế đa sở hữu, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự can thiệp của nhà nước ở mức độ khác nhau.

Ở Việt Nam, là mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quá trình đổi mới ở nước ta, từ Đại hội VI đến Đại hội IX mới xác định được mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình của nước ta. Đại hội XII tiếp tục khẳng định, thống nhất 8 nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đến Đại hội XII có những điểm mới; - Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo quy luật của kinh tế thị trường.

- Nền kinh tế nhiều thành phần trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Theo tác giả, khi khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo là nét đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, cho phép chúng ta phân biệt với nền kinh tế thị trường ở phương Tây. - Là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế. Theo tác giả, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta vừa có sự tương đồng, vừa có sự khác biệt với nền kinh tế thị trường phương Tây.

Tương đồng ở chỗ, “vận hành đầy đủ đồng bộ, theo quy luật của kinh tế thị trường”, là “nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế”, là nền kinh tế đa thành phần, đa sở hữu. khác biệt ở chỗ dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo còn ở các nước tư bản là kinh tế tư bản tư nhân, mục tiêu là CNXH còn mục tiêu của các nước tư bản là phát triển chế độ TBCN. Có thể nói, tác giả đã bàn về những điểm mới của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta chứ không chỉ bàn riêng về quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Hơn nữa, khi bàn về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước chỉ nói về mặt lý luận và sự khác biệt của nó với các nước tư bản, hoàn toàn không đề cập tới sự vận động, biến đổi của thành phần kinh tế nhà nước.

Mặc dùy vậy, đây là tài liệu tham khảo cần thiết cho chúng tôi khi viết luận án. Với đề tài: “Nghiên cứu, tổng kết làm sáng tỏ một số vấn đề về lý luận về mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa” [97] của Trần Văn Phòng. Công trình này đã tổng kết làm sáng tỏ những vấn đề lý luận còn bỏ ngỏ chưa được giải đáp một cách thỏa đáng trong quá trình phát triển xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chẳng hạn như: vấn đề xây 9 dựng lực lượng sản xuất hiện đại ở nước ta, cùng với đó là xây dựng quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với lực lượng sản xuất đó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tựa đề "Nghiên Cứu Về Biến Đổi Quan Hệ Sản Xuất Xã Hội Chủ Nghĩa Trong Thời Kỳ Đổi Mới Ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Văn Sơn, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Trần Ngọc Linh và PGS.TS. Vũ Hồng Sơn, được thực hiện tại Học Viện Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh vào năm 2017. Bài viết tập trung vào việc phân tích sự biến đổi của quan hệ sản xuất trong bối cảnh đổi mới ở Việt Nam, từ đó làm rõ các yếu tố ảnh hưởng và những thay đổi trong cấu trúc xã hội. Nội dung bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về lý thuyết chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử mà còn giúp độc giả hiểu rõ hơn về tác động của những biến đổi này đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến đánh giá cán bộ công chức và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong các cơ quan hành chính, độc giả có thể tham khảo bài viết "Luận văn đánh giá cán bộ công chức lý luận và thực tiễn". Bên cạnh đó, bài viết "Luận văn nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ trong các đơn vị cơ sở hành chính sự nghiệp của thành phố hà nội" cũng sẽ mang đến những góc nhìn bổ ích về quản lý và tổ chức trong các cơ quan nhà nước. Cuối cùng, bài "Nhân tố tác động đến quan hệ Việt Nam và Ấn Độ từ năm 2007 đến nay" có thể giúp độc giả hiểu rõ hơn về bối cảnh quan hệ quốc tế và những ảnh hưởng đến phát triển xã hội trong thời kỳ hiện đại.