đặt vấn đề thành phần kinh tế của Đại hội VI là hoàn toàn mới: thành phần kinh tế là phương tiện để đạt tới sự phát triển lực lượng sản xuất, tăng trưởng kinh tế, chứ không phải là mục tiêu của công cuộc xây dựng CNXH. Cái cốt lõi của cơ cấu thành phần kinh tế được đặt ra trong Đại hội VI là cơ cấu nhiều thành phần, mà trong đó, hiện hữu những thành phần thuộc kinh tế thị trường. Đây là điểm quyết định. Cơ sở của việc đưa ra cơ cấu nhiều thành phần, như Đại hội VI đã chỉ ra: “Giải pháp đó xuất phát từ thực tế của nước ta và là sự vận dụng đúng đắn quan điểm của Lênin coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là đặc trưng của thời kỳ quá độ”[26, tr.
Đại hội VI cho rằng, nước Việt Nam còn đang trong thời kỳ quá độ, mà nền kinh tế cơ bản còn là nền kinh tế nông nghiệp chậm phát triển. Trong nền kinh tế này tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Các thành phần kinh tế này thuộc nhiều phương thức sản xuất khác nhau thích ứng với nhiều lực lượng sản xuất ở các cấp độ phát triển khác nhau. Đại hội VI không chỉ thừa nhận từng khâu, từng sản phẩm là sản xuất hàng hóa, mà là cả một nền kinh tế hàng hóa, và coi đó là một quá trình có tính quy luật đi lên sản xuất lớn XHCN ở nước ta.
Đó là những quan điểm mới, rất quan trọng. Tuy xét về lý luận thì đây là một quan điểm còn chưa hoàn thiện nhưng vào bối cảnh lịch sử lúc đó có một ý nghĩa thực tiễn quý giá, đã hình thành khái niệm cụ thể về một mô hình kinh tế gồm nhiều thành phần, với nhiều hình thức sở hữu, trong đó thành phần kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo. Đảng coi đó là một chính sách có tính chiến lược được thực hiện 18 z nhất quán, lâu dài trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội nhằm khai thác mọi tiềm năng của mọi người, mọi tổ chức kinh tế để phát triển lực lượng sản xuất, tạo ra nhiều của cải cho xã hội. Chính sách này xuất phát từ thực tiễn nước ta, một nước tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất nhỏ, không qua chế độ tư bản chủ nghĩa.
Chính sách đó còn là sản phẩm của việc vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Đây cũng chính là sản phẩm của sự vận dụng chính sách kinh tế mới của Lênin trong việc sử dụng những hình thức quá độ, những nấc thang trung gian trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực hiện chính sách này, chúng ta phải tiến hành điều chỉnh lại cơ cấu các thành phần kinh tế. Từ đó, Đại hội lần thứ VI đã phân tích sâu sắc những sai lầm khuyết điểm đã mắc phải.
Đảng cũng chỉ rõ nguyên nhân của tình trạng khó khăn trong những năm 80 của thế kỷ XX là do chúng ta chưa xác định rõ ràng, nhất quán những quan điểm, chủ trương và chính sách chỉ đạo công cuộc cải tạo XHCN. Cùng với sự chậm trễ sắp xếp lại sản xuất theo một cơ cấu kinh tế hợp lý, việc duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp đã không tạo được điều kiện cần thiết để củng cố và tăng cường kinh tế xã hội chủ nghĩa, hạn chế việc sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế khác. Mặt khác, một thời gian tương đối dài, trong nhận thức cũng như trong hành động, chúng ta chưa thực sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta. Ngoài ra, Đại hội đặc biệt nhấn mạnh đến những biểu hiện nóng vội muốn xóa bỏ ngay những thành phần kinh tế phi XHCN, chúng ta “đã có những biểu hiện nóng vội muốn xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, nhanh chóng biến kinh tế tư nhân thành quốc doanh”.
Về vai trò của các thành phần kinh tế: Trong nhận thức cũng như trong hành động, chúng ta ch- ưa thật sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta còn tồn tại trong một thời gian tương đối dài, chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ lực lượng sản xuất”.356-357] 19 z Bởi vậy, để khắc phục các quan niệm sai lầm trên, Đại hội VI của Đảng đã đưa ra quan điểm mới về cải tạo xã hội chủ nghĩa dựa trên 3 nguyên tắc cơ bản là: Cải tạo XHCN nhất thiết phải theo quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất để xác định bước đi và hình thức thích hợp; Cải tạo XHCN phải xuất phát từ thực tế của nước ta và là sự vận dụng quan điểm của Lênin coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ; Trong công cuộc cải tạo XHCN phải xây dựng quan hệ sản xuất mới trên cả ba mặt: xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, chế độ quản lý và chế độ phân phối XHCN. Từ tổng kết sâu sắc thực tiễn quá trình cải tạo XHCN đối với các thành phần kinh tế, Đại hội VI khẳng định: “Cần sửa đổi, bổ sung và công bố rộng rãi chính sách nhất quán đối với các thành phần kinh tế. Những quy định có tính nguyên tắc phải trở thành pháp luật để mọi người yên tâm, mạnh dạn kinh doanh”. Đại hội cũng nhấn mạnh: “Muốn đưa nền kinh tế sớm thoát khỏi tình trạng rối ren, mất cân đối, phải dứt khoát sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo cơ cấu hợp lý, trong đó các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất có quy mô và trình độ khác nhau phải được bố trí cân đối liên kết với nhau, phù hợp với điều kiện thực tế, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định”.380] Trên cơ sở đó, Đảng cho rằng chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế cho phép các hình thức kinh tế với quy mô và trình độ kỹ thuật thích hợp trong từng khâu của quá trình sản xuất và lưu thông phát triển, nhằm khai thác mọi khả năng của các thành phần kinh tế.
Do đó, Đảng đưa ra quan niệm mới: coi trọng việc kết hợp cả ba lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội. Để đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng, điều cơ bản trong công cuộc đổi mới đã được đặt ra là thay đổi phương thức, mô hình phát triển kinh tế. Thực chất của sự đổi mới kinh tế là chuyển kinh tế từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng XHCN. Nội dung của công cuộc đổi mới kinh tế là thừa nhận một cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, khôi phục và cho phép các thành phần kinh tế phát triển.
20 z Trong giai đoạn này, các thành phần kinh tế ở nước ta được Đảng phân thành hai nhóm: Một là, kinh tế XHCN bao gồm kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, cùng với bộ phận kinh tế gia đình gắn liền với thành phần kinh tế đó. Hai là, các thành phần kinh tế khác bao gồm: kinh tế công tư hợp doanh (nửa XHCN); kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá (thợ thủ công, nông dân cá thể chưa vào hợp tác xã, tiểu thương); kinh tế tư bản tư nhân (tư sản nhỏ); kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc trong một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và ở vùng cao các tỉnh miền núi phía Bắc. Theo đó, thành phần kinh tế cá thể lúc này được hiểu bao gồm hai bộ phận là kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa (kinh tế gia đình, hộ cá thể và hộ tiểu thủ công nghiệp, kinh tế tiểu thương) và kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc. Thực chất, đây là hai trình độ phát triển khác nhau của thành phần kinh tế cá thể.
Quán triệt các quan điểm chỉ đạo trên, Đại hội VI đã đề ra phương hướng và nhiệm vụ cụ thể của công tác cải tạo XHCN, phát huy tác dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế. Với các thành phần kinh tế cá thể, Đại hội đã chỉ ra phương hướng cụ thể để sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế này: Thứ nhất, đối với kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá: Một mặt, “Vận động những người lao động cá thể đi vào làm ăn tập thể theo nguyên tắc tự nguyện và cùng có lợi”1; mặt khác, Nhà nước thừa nhận sự tồn tại cần thiết và tính hợp pháp của bộ phận kinh tế này, thể hiện ở quyền bình đẳng trước pháp luật và trong xã hội. Những người tiểu sản xuất hàng hoá và làm dịch vụ được sự hướng dẫn và giúp đỡ của kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, thông qua các hình thức liên kết và các chính sách kinh tế. Tiêu chuẩn để đánh giá tính tích cực của bộ phận kinh tế này là tạo thêm việc làm cho người lao động, đóng góp thiết thực vào việc phát triển sản xuất, làm ra của cải cho xã hội, thi hành đúng chính sách, làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội.
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Sự thật, h, 1987, tr. 21 z Đối với tiểu thương, phải thông qua nhiều hình thức thích hợp để sắp xếp, cải tạo và sử dụng; phấn đấu từng bước chuyển số người không cần thiết sang sản xuất và dịch vụ. Mặc dù, quan điểm của Đảng trong giai đoạn tiếp theo vẫn là cải tạo XHCN phải nhằm xây dựng kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng vững mạnh, làm cho kinh tế XHCN chiếm ưu thế và phát huy tính hơn hẳn thông qua việc không ngừng nâng cao năng suất lao động, hiệu quả kinh tế và mức sống của người lao động; nhưng đồng thời Đảng cũng: Thừa nhận sự tồn tại của thành phần kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá và một bộ phận kinh tế tư bản tư nhân ở mức độ nhất định trong một thời gian tương đối dài, coi đó là sự cần thiết khách quan để phát triển lực lượng sản xuất, tận dụng các tiềm năng, tạo thêm việc làm cho người lao động. Phải sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế đó, vì lợi ích của chủ nghĩa xã hội.