Chương 1: BANG BỘ HUYỆN THUẬN THÀNH LANH ĐẠO CHUYEN DỊCH CƠ CẤU KINH TE TỪ NAM 1996 DEN NĂM 2000 1. Cơ sở lý luận về CCKT và chuyển dịch CCKT 1. Khái niệm về CCKT: Có nhiều định nghĩa khác nhau khi luận bàn về CCKT. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, xuất bản năm 2003: “CCKT là tổng thé các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế cd quan hệ hữu cơ tương đối ôn định hợp thành” [tr 40, 35].
Giáo trình chính sách kinh tế-xã hội của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân viết: “CCKT của nền kinh tế quốc dân là hình thức cấu tạo bên trong của nền kinh tế quốc dân, đó là tổng thể các quan hệ chủ yếu về số lượng và chất lượng tương đối ôn định của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong một hệ thống tái sản xuất xã hội với những điều kiện kinh tế xã hội nhất định.Mác: CCKT của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với quá trình phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất [13, tr. Mác đồng thời nhấn mạnh, khi phân tích cơ cau phải chú ý đến cả hai khía cạnh là chất lượng và sỐ lượng, cơ cau chính là sự phân chia về chất và tỷ lệ về số lượng của những quá trình sản xuất xã hội. Như vậy, cơ cấu kinh tế là một hệ thống bao gồm các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh té cd quan hệ hữu cơ tương đối ôn định hợp thành. “CCKT mang tính khách quan được hình thành trên cơ sở trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, sự tăng trưởng của các yếu tố cau thành nền kinh tế.
CCKT là một hệ thống động, các yếu tố trong CCKT vận động trong mối quan hệ hữu cơ tác động ràng buộc lẫn nhau: giai đoạn sau phát triển cao hơn giai đoạn trước” [28, tr 6]. 13 Nội dung CCKT quốc dân có thể nghiên cứu dưới nhiều góc độ, nhiều lĩnh vực, nhưng về cơ bản nội dung đó gồm: CCKT ngành kinh tế, CCKT theo đơn vị hành chính-lãnh thé và cơ cau thành phần kinh tế. Cơ câu ngành kinh tế là bộ phận cấu thành cơ bản của nền kinh tế quốc dân, là nòng cốt của chiến lược phát triển kinh tế. Nền kinh tế là tổng thể của ngành, lĩnh vực và các thành phần.
Trong ngành và lĩnh vực, quan trọng nhất là ngành nông nghiệp và công nghiệp. Hai ngành này muốn phát triển được phải thông qua hệ thống dịch vụ. Do vậy , cơ cấu ngành kinh tế bao gồm ba ngành cơ bản: Nông nghiệp bao gồm nông-lâm-ngư nghiệp, gắn liền với phát triển toàn diện nông thôn, xây dựng nông thôn mới. Nông nghiệp là lĩnh vực sản xuất vật chất chủ yếu, tao ra sản phẩm thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là thị trường rộng lớn cung cấp nhân lực, nguyên liệu và tiêu thụ sản phâm cho công nghiệp, dich vụ.
Công nghiệp bao gồm công nghiệp chế tạo, công nghiệp khai khoáng và luyện kim, công nghiệp chế biến nông sản, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khâu, công nghiệp nguyên liệu, công nghiệp điện tử, tin học.Công nghiệp đóng vai trò quyết định sản xuất ra tư liệu sản xuất va tư liệu tiêu dùng. Do vậy, công nghiệp được xếp vào vị trí hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH). Dịch vụ là cầu nỗi giữa sản xuất nông nghiệp và sản xuất công nghiệp, giữa sản xuất với tiêu dùng: thực hiện quá trình trao đổi giữa các vùng — miền, giữa thành thị với nông thôn, giữa trong nước với ngoài nước. Trong quá trình sản xuất, địch vụ có vai trò đáp ứng đầy đủ các nhu cầu đầu vào và đầu ra của sản phẩm.
Dịch vụ thực hiện mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận hợp thành CCKT. Trình độ phát triển kinh tế hàng hóa ngày càng cao, 14 sự phân công lao động xã hội ngày càng sâu rộng thì tỷ lệ dịch vụ trong CCKT ngày càng lớn. Cơ cấu theo đơn vị hành chính, lãnh thổ (co cau vùng kinh tế) thé hiện sự phân công lao động trên lãnh thổ với lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của mỗi vùng, hình thành các vùng chuyên môn hóa, đa dạng hóa nhằm khai thác có hiệu quả nguồn nhân lực và tiềm năng kinh tế trong vùng, mang lại giá trị kinh tế. Cơ cau vùng kinh tế gắn chặt chẽ với co cau ngành kinh tế, hợp thành hai mặt của một quá trình phát triển.
Cơ cấu thành phần kinh tế phan ánh sự tồn tại của các hình thức sở hữu. Nếu như phân công lao động sản xuất đã là cơ sở hình thành cơ cau ngành và cơ cau lãnh thé - vùng, thì chế độ sở hữu là cơ sở hình thành cơ cấu thành phan kinh tế. Cơ cau thành phần kinh tế cũng là nhân tổ tác động đến cơ cầu ngành kinh tế va cơ cấu vùng - lãnh thổ. Sự tác động đó là biểu hiện sinh động của mối quan hệ giữa các loại cơ cau trong nền kinh tế.
Loại cơ cau này phan ánh các mỗi quan hệ giữa con người trong quá trình sản xuất, trong đó nổi bật là quan hệ sở hữu đối với các tư liệu sản xuất. Mô hình chung về số lượng thành phần kinh tế trong nền kinh tế các nước bao gồm: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế hỗn hợp. Tỷ lệ giữa các thành phan kinh tế này thường không giống nhau. Điều này tạo ra tính đặc thủ trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia cũng như trong mỗi giai đoạn phát triển của từng quốc gia.
CCKT đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, là nhân tố cơ bản quyết định sự tôn tại, phát triển kinh tế các nước. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng phát triển thì phải hợp lý, tiên tiến, đáp ứng nhu cầu đặt ra của thời đại, không có một nên kinh tế nào chỉ dựa vào nông nghiệp, công nghiệp hay dịch vụ. CCKT hợp lý cho phép khai thông, tạo động lực cho việc khai thác có hiệu quả nguôn lực trong ngoai nước. 15 Việc hình thành cơ cấu kinh tế được diễn ra theo hai quá trình tự phát và có kế hoạch.
Ngày nay, dé thực hiện được mục tiêu tông quát trong phát triển kinh tế, chính phủ các nước chủ động xác định cơ cấu kinh tế trong chiến lược phát triển của mình, giải quyết van đề cơ cau kinh tế luôn là trọng tâm của việc hoạch định kế hoạch phát triển kinh tế các nước. Khái niệm về chuyển dịch CCKT Khi phân tích quá trình phân công lao động xã hội, C.Mác viết: “Chuyển dịch CCKT xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với quá trình phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chat” [14, tr. Theo Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản năm 2003: Chuyển dịch CCKT là quá trình cải biến kinh tế xã hội từ tình trạng lạc hậu, mang nặng tính tự cấp, tự túc, từng bước chuyên môn hóa hợp lý, trang bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại, trên cơ sở đó tạo ra năng suất lao động cao, hiệu quả kinh tế cao và nhịp độ tăng trưởng mạnh cho nền kinh tế nói chung. Chuyển dich CCKT bao gồm việc cải biến CCKT theo ngành, theo vùng lãnh thổ và cơ cấu các thành phần kinh tế [35, tr.
Theo nghĩa chung nhất thì chuyển dịch CCKT là sự thay đổi thành phần và quan hệ tỷ lệ giữa các mặt, các yếu tố, các bộ phận cầu thành của một hệ thống kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác phù hợp với những yêu cầu của nền kinh tế xã hội. Thực chất của chuyên dịch cơ cấu kinh tế là sự biến đổi lao động xã hội theo những hướng nhất định. Chuyển dịch CCKT không phải đơn thuần là sự thay đổi vị trí, mà là sự biến đổi cả về chất và lượng trong nội bộ cơ cấu. Việc chuyển dịch CCKT phải dựa trên nền tảng cơ sở một cơ cấu hiện có, do đó nội dung của chuyển dịch cơ cau kinh tế là cải tạo cơ cau cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp hơn.
Như vậy, chuyên dịch cơ cầu thực chất là sự điều chỉnh cơ cấu trên 3 mặt biểu hiện của cơ cấu kinh tế, đó là cơ câu ngành, cơ câu thành phân kinh tê, cơ câu vùng - lãnh thô kinh tê nhăm 16 hướng sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế theo các mục tiêu kinh tế - xã hội đã xác định cho từng thời kỳ phát triển. Những căn cứ để xác định chuyển dịch CCKT ở huyện Thuận Thành 1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế, xã hội của huyện Thuận Thành 1. Diéu kiện tự nhiên - VỊ trí địa lý: Thuận Thành là huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, có tọa độ địa lý từ 105232' 10-105°55 10’ kinh độ Đông; 20°54 00 - 21°07 10 vĩ độ Bắc.
+ Phía Bắc giáp huyện Tiên Du và Qué Võ - tỉnh Bắc Ninh. + Phía Nam giáp huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên và huyện Câm Giàng - tỉnh Hải Dương. + Phía Đông giáp huyện Gia Bình và Lương Tài - Bắc Ninh). + Phía Tây giáp huyện Gia Lâm — Hà Nội.
Huyện Thuận Thành có 18 don vị hành chính, diện tích tự nhiên là 11.971,01 ha, có quốc lộ 38 nói liền thành phố Bắc Ninh (Là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của tỉnh Bắc Ninh) với quốc lộ 5. Việc đầu tư xây dựng cầu Hồ và mở rộng nâng cấp quốc lộ 38 trở thành tuyến đường chiến lược thông thương với Hải Dương, Hưng Yên và đặc biệt là thành phố Hải Phòng, nơi có cảng quốc tế và khu công nghiệp tập trung có ý nghĩa quan trọng góp phần đây nhanh quá trình chuyển dịch CCKT của vùng. Trung tâm huyện cách thị xã Bắc Ninh 15 km về phía Bắc, cách thủ đô Hà Nội 25km theo hướng Tây Nam. Thuận Thành có 4 tuyến đường tỉnh lộ đi qua, với chiều dài 42,7km, trong đó tinh lộ 280 tuyến Phố Núi - Hồ dai 5km, tinh lộ 281 Lương Tai-Nguyét Đức dài 6,7km, tỉnh lộ 282 tuyến Nông trường Toàn Thắng - Cao Đức dài 14km, tinh lộ 283 tuyến Hồ - Song Liễu dài 22km, 17 có sông Đuống nằm ở phía Bắc huyện, cùng mang lưới giao thông liên huyện, liên xã, lién thôn khá phat triển.
Thuận Thành thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội, tiếp thu các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến và khả năng thu hút vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong và ngoai tinh.