Tổng quan luận án

Công trình khoa học mang tên "Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1986 đến năm 2005" được tác giả Phạm Thị Lương Diệu thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Ngô Đăng Tri. Luận án thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, mã số 62 22 56 01, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2012.

Về tính cấp thiết, tác giả nêu rõ kinh tế tư nhân—bao gồm ba bộ phận cấu thành là kinh tế cá thể, kinh tế tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân—là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Việc Đảng Cộng sản Việt Nam thừa nhận sự tồn tại và phát triển của thành phần này trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một bước tiến quan trọng trong tư duy kinh tế, mang ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa. Sau hơn 20 năm đổi mới, khu vực kinh tế tư nhân khẳng định vai trò qua việc đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, nộp ngân sách nhà nước, thúc đẩy xuất khẩu và tạo môi trường thu hút nhân tài. Mặc dù vậy, khu vực này bộc lộ nhiều hạn chế nội tại: quy mô vốn nhỏ bé, cơ sở vật chất và kỹ thuật còn lạc hậu, năng lực quản trị chưa cao, hiệu quả sản xuất kinh doanh thiếu ổn định, hiện tượng vi phạm pháp luật như trốn thuế và buôn lậu vẫn diễn ra, cùng khả năng thích ứng hội nhập kinh tế quốc tế còn hạn chế.

Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả nhận thấy các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận kinh tế tư nhân dưới góc độ kinh tế học hoặc chính trị học. Cho đến thời điểm tác giả thực hiện đề tài, chưa có công trình chuyên luận nào khảo sát có hệ thống, xuyên suốt quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng trong suốt hai thập niên đổi mới (1986–2005). Đồng thời, ba vấn đề lý luận và thực tiễn lớn vẫn đang đặt ra cần lời giải đáp thỏa đáng: giải quyết vấn đề định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh mới; xác định lại vai trò, vị trí của kinh tế tư nhân khi tỷ trọng đóng góp của khu vực này ngày càng gia tăng; và xử lý mối quan hệ giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư nhân.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ quá trình hình thành, phát triển tư duy của Đảng về vai trò, vị trí của kinh tế tư nhân; làm sáng tỏ các chủ trương, đường lối và quá trình lãnh đạo phát triển thành phần kinh tế này trong 20 năm đầu đổi mới (1986–2005); tổng kết thực tiễn phát triển của kinh tế tư nhân dưới sự lãnh đạo của Đảng; từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm lịch sử.

Để thực hiện mục đích trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản:

  1. Trình bày sự tiến triển về quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách phát triển kinh tế tư nhân của Đảng từ năm 1986 đến năm 2005.
  2. Làm rõ việc tổ chức thực hiện việc phát triển kinh tế tư nhân của Đảng trong 20 năm đầu thời kỳ đổi mới.
  3. Đánh giá sự lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân của Đảng, rút ra một số kinh nghiệm cũng như nêu lên một vài vấn đề đặt ra cần được tiếp tục giải quyết nhằm góp phần nâng cao hiệu quả lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân của Đảng.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Chủ trương, đường lối và quá trình tổ chức thực hiện phát triển kinh tế tư nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2005.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu sự phát triển nhận thức của Đảng từ Đại hội VI (1986) đến Đại hội IX (2001), các chủ trương, chính sách và khâu tổ chức thực hiện. Về số liệu phát triển kinh tế, luận án bám sát sự thay đổi kết cấu nội tại của khu vực này: giai đoạn 1986–1999 thành phần cá thể và tiểu chủ chiếm đa số, từ năm 2000 trở đi thành phần tư bản tư nhân chiếm tỷ trọng ngày càng lớn khi Luật Doanh nghiệp đi vào thực thi. Luận án không đi sâu vào từng địa phương riêng lẻ mà khảo sát tổng thể trên phạm vi cả nước và so sánh giữa các vùng kinh tế lớn.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên lãnh thổ Việt Nam trong mối quan hệ so sánh đối chiếu giữa kinh tế tư nhân với kinh tế nhà nước.
  • Phạm vi thời gian: Giới hạn từ năm 1986 (đánh dấu từ Đại hội VI) đến hết năm 2005 (thời điểm trước thềm Đại hội X). Để phục vụ cho việc đánh giá toàn diện, phần sau của luận án có mở rộng khảo sát một số nét mới trong chủ trương từ Đại hội X (năm 2006) đến Đại hội XI (năm 2011).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được phân tích theo nguồn gốc và khuynh hướng tiếp cận:

Đối với các nghiên cứu nước ngoài, tác giả khẳng định chưa có công trình chuyên luận riêng biệt nào của học giả quốc tế nghiên cứu toàn diện về kinh tế tư nhân Việt Nam. Một số nhà nghiên cứu tại Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Pháp, Mỹ chỉ đề cập gián tiếp hoặc nghiên cứu một phần về Việt Nam khi phân tích quá trình tư nhân hóa ở các quốc gia đang phát triển và có thu nhập thấp.

Đối với các nghiên cứu trong nước, tác giả phân chia tài liệu thành hai nhóm chính:

Nhóm 1 gồm các công trình nghiên cứu về chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với nền kinh tế nhiều thành phần và kinh tế tư nhân. Tiêu biểu có công trình "Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân – lý luận và chính sách" của TS. Hà Huy Thành [208], trong đó làm rõ các khái niệm về sở hữu tư nhân, hệ thống hóa chính sách lớn của Đảng và Nhà nước từ năm 1986, cung cấp nhiều số liệu thực chứng. Luận án cũng điểm lại một công trình chuyên khảo của một Giáo sư [207] phân tích bản chất, vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, làm rõ ba chức năng quản lý nhà nước (tạo lập môi trường pháp lý, định hướng hướng dẫn kinh doanh, kiểm tra kiểm soát), đánh giá thực trạng kinh tế tư nhân đến năm 2000 và đề xuất bốn nhóm giải pháp đổi mới quản lý nhà nước. Ngoài ra, nhóm này còn bao gồm các công trình: "Đổi mới quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp công nghiệp tư nhân ở Việt Nam" [111]; "Đổi mới và hoàn thiện quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay" [115]; "Đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam" [106]; "Những quy định về chính sách đối với kinh tế tập thể, cá thể, tư doanh và gia đình" [179]; "Nhìn lại quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng 1986-2005" [194]; "Sở hữu – lý luận và vận dụng ở Việt Nam" [216]; và "Kinh tế tư nhân và quản lý Nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay" [259].

Nhóm 2 gồm các công trình đi sâu vào thực trạng vận động và vai trò của kinh tế tư nhân. Đáng chú ý là công trình "Phát triển kinh tế cá thể ở Việt Nam" do TS. Tô Đức Hạnh chủ biên [110], gồm ba phần: phân tích cơ sở lý luận và kinh nghiệm phát triển kinh tế cá thể tại Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ; đánh giá thực trạng khôi phục kinh tế cá thể giai đoạn 1986–1996 và bước phát triển từ năm 1997; đề xuất giải pháp tiếp tục phát triển kinh tế cá thể. Công trình "Kinh tế tư nhân Việt Nam trong tiến trình hội nhập" của PGS. Trịnh Thị Hoa Mai [150] nghiên cứu vấn đề doanh nhân, các giai đoạn phát triển trước và trong thời kỳ đổi mới, nhận diện các rào cản cản trở khu vực tư nhân và nêu giải pháp hội nhập kinh tế quốc tế. Bên cạnh đó, nhóm 2 còn ghi nhận các công trình khác như: "Thành phần kinh tế tư bản tư nhân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa" [244]; "Sự vận động, phát triển của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" [205]; "Sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam" [232]; "Quyền lợi và nghĩa vụ của doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh cá thể" [249]; "Kinh tế tư nhân ở Việt Nam từ 1986-1995" [145]; "Về việc phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay" [109]; "Doanh nghiệp tư nhân (nhỏ và vừa) với vấn đề việc làm ở Việt Nam hiện nay" [135]; "Sự phát triển của kinh tế tư nhân trong quá trình chuyển nền kinh tế Việt Nam sang nền kinh tế thị trường" [143]; "Sự phát triển của khu vực y tế và cải cách kinh tế trong một nền kinh tế đang chuyển đổi: Việt Nam 1989-1997" [156]; "Phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tác động của nó đến củng cố quốc phòng ở nước ta hiện nay" [204]; "Phát triển kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại ở nước ta hiện nay" [238]; "Xu hướng phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế" [197]; "Vai trò kinh tế tư nhân đối với phát triển thị trường lao động ở Việt Nam" [209]; "Phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam" [181]; "Giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam" [117]; và "Bàn thêm về vấn đề Đảng viên làm kinh tế tư nhân" [237].

Đánh giá tổng quan, tác giả khẳng định các công trình trên đã cung cấp hệ thống tư liệu phong phú, làm rõ khái niệm và bước đầu khái quát quan điểm của Đảng. Tuy nhiên, vẫn tồn tại khoảng trống nghiên cứu rõ rệt: chưa có công trình nào khảo sát một cách có hệ thống sự lãnh đạo của Đảng đối với kinh tế tư nhân dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng một cách liên tục trong suốt 20 năm đổi mới. Hơn nữa, đa số công trình tiếp cận từ phía đối tượng kinh tế tư nhân nhằm đề xuất tháo gỡ khó khăn, mà ít có nghiên cứu đứng từ góc độ chủ thể lãnh đạo—phía Đảng Cộng sản—để tổng kết kinh nghiệm và nâng cao năng lực lãnh đạo, vừa thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển, vừa giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây chính là khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án được triển khai trên nền tảng cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm "nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật" của Đảng Cộng sản Việt Nam. Phương pháp luận nền tảng là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, nhằm xem xét sự phát triển tư duy của Đảng trong mối quan hệ biện chứng với sự biến đổi của bối cảnh kinh tế – xã hội thời kỳ quá độ.

Về mặt khái niệm:

  • Sở hữu tư nhân được luận án dẫn chiếu theo Điều 220 Bộ luật Dân sự năm 1995 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: "Sở hữu tư nhân là sở hữu cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình. Sở hữu tư nhân bao gồm sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản tư nhân".
  • Kinh tế tư nhân được xác định dựa trên sự phát triển nhận thức qua các văn kiện của Đảng: từ Nghị quyết 16 của Bộ Chính trị khóa VI, Văn kiện Đại hội VII, Văn kiện Đại hội VIII, đến Văn kiện Đại hội IX và Nghị quyết 14-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5 khóa IX (tháng 3 năm 2002): "Kinh tế tư nhân gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân". Về hình thức tổ chức, kinh tế tư nhân gồm hộ cá thể, hộ tiểu chủ, xí nghiệp tư bản tư nhân và các loại hình doanh nghiệp theo luật định (doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh).

Về phương pháp nghiên cứu thực tế, tác giả kết hợp các phương pháp cụ thể:

  • Phương pháp lịch sử và phương pháp logic: Là hai phương pháp chủ đạo của chuyên ngành Lịch sử Đảng. Phương pháp lịch sử tái hiện quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân theo tiến trình thời gian từ năm 1986 đến năm 2005. Phương pháp logic giúp khái quát bản chất, quy luật vận động nội tại và tính tất yếu của sự chuyển biến tư duy.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Kết hợp phân tích định tính (nghiên cứu hệ thống nghị quyết, chỉ thị, văn bản pháp luật) và phân tích định lượng (xử lý các chỉ số thống kê về tốc độ đầu tư, quy mô vốn, số lượng doanh nghiệp và cơ cấu lao động).
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh chủ trương phát triển kinh tế tư nhân với chủ trương phát triển các thành phần kinh tế khác (đặc biệt là kinh tế nhà nước); đối chiếu các vùng kinh tế nhằm làm rõ những đóng góp và khác biệt về cơ chế chính sách.
  • Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Thu thập ý kiến đánh giá từ các chuyên gia trong các lĩnh vực Lịch sử Đảng, Lịch sử Kinh tế, Kinh tế chính trị, Kinh tế học và Quản lý kinh tế đối với những vấn đề lý luận phức tạp còn nhiều ý kiến khác nhau.
  • Phương pháp tiếp cận liên ngành: Đặt góc độ Lịch sử Đảng làm trọng tâm, đồng thời tích hợp cách tiếp cận của Kinh tế học và Kinh tế chính trị học để chuẩn hóa các khái niệm và đánh giá bản chất kinh tế.
  • Kỹ thuật tin học: Sử dụng các công cụ tin học để quản lý cơ sở dữ liệu, tính toán và xây dựng hệ thống bảng số liệu, biểu đồ minh họa.

Nguồn tư liệu sử dụng trong luận án bao gồm:

  • Hệ thống văn kiện, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư từ năm 1954 đến năm 2005, trọng tâm là giai đoạn 1986–2005.
  • Các nghị quyết, quyết định của Chính phủ và các bộ, ngành liên quan; một số nghị quyết chuyên đề của các tỉnh, thành phố tiêu biểu.
  • Hệ thống các văn bản luật và dưới luật của Nhà nước Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2005.
  • Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê từ năm 1975 đến năm 2010.
Yếu tố phương pháp Nội dung cụ thể trong luận án
Cơ sở lý luận Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Phương pháp nghiên cứu chủ đạo Phương pháp lịch sử và phương pháp logic
Phương pháp bổ trợ Phân tích – tổng hợp (định tính và định lượng), so sánh đối chiếu, phỏng vấn chuyên gia, tiếp cận liên ngành, kỹ thuật tin học
Nguồn tư liệu chủ yếu Văn kiện Đảng (Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư), văn bản quy phạm pháp luật Nhà nước, Niên giám Tổng cục Thống kê (1975–2010)
Định nghĩa kinh tế tư nhân áp dụng Bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, hoạt động dưới hình thức hộ cá thể và doanh nghiệp tư nhân (theo Nghị quyết 14-NQ/TW)

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Thừa nhận và cho phép kinh tế tư nhân phát triển từ năm 1986 đến năm 1989

Chương 1 tập trung phân tích bối cảnh lịch sử, cơ sở lý luận và bước chuyển biến bước đầu trong nhận thức của Đảng về việc thừa nhận sự tồn tại của kinh tế tư nhân.

Về bối cảnh, việc duy trì cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp trước năm 1986 đã đẩy nền kinh tế Việt Nam vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng kéo dài: sản xuất đình đốn, hàng hóa và lương thực khan hiếm, lạm phát phi mã lên mức 777,4% vào năm 1987. Trên bình diện quốc tế, chính quyền Mỹ áp đặt cấm vận từ cuối thập niên 70; hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu lâm vào khó khăn dẫn đến sụt giảm nguồn viện trợ và kim ngạch thương mại truyền thống đối với Việt Nam. Trong khi đó, cải cách mở cửa từ năm 1978 của Trung Quốc gợi mở thực tiễn mới về việc vận hành kinh tế định hướng thị trường trong chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trước áp lực thực tiễn, các bước chuyển đổi cơ chế đã xuất hiện từ cơ sở:

  • Hội nghị Trung ương 6 Khóa IV (tháng 8 năm 1979) với chủ trương "làm cho sản xuất bung ra", bước đầu thừa nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế ở miền Nam trong thời gian nhất định và thừa nhận thị trường tự do.
  • Quyết định 373/CP và 374/CP của Chính phủ (tháng 10 năm 1979) bãi bỏ các trạm kiểm soát ngăn sông cấm chợ, cho phép lưu thông sản phẩm theo giá thỏa thuận sau khi nộp đủ nghĩa vụ.
  • Chỉ thị số 100-CT/TW của Ban Bí thư (ngày 13 tháng 1 năm 1981) về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong nông nghiệp.
  • Nghị định số 25-CP của Chính phủ về quyền chủ động sản xuất kinh doanh và quyền tự chủ tài chính của các xí nghiệp quốc doanh.
  • Đại hội V (tháng 3 năm 1982) và Hội nghị Trung ương 8 khóa V (tháng 6 năm 1985) về việc xóa bỏ bao cấp qua giá và lương, giải quyết vấn đề "giá – lương – tiền".

Đại hội VI của Đảng (tháng 12 năm 1986) tạo ra bước ngoặt căn bản khi thừa nhận sự tồn tại khách quan của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong suốt thời kỳ quá độ. Đại hội nghiêm túc chỉ ra sai lầm chủ quan duy ý chí trong việc vội vã cải tạo xã hội chủ nghĩa, muốn xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa và đẩy quan hệ sản xuất lên quá xa so với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Đại hội khẳng định quy luật: lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ khi quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất bị đẩy đi quá xa một cách tùy tiện. Từ đó, Đảng xác định chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế là nhiệm vụ chiến lược xuyên suốt thời kỳ quá độ, cho phép người lao động tự tạo việc làm và đưa vốn vào sản xuất.

Về tiến trình xác lập nền kinh tế thị trường, tác giả tổng kết ba mốc chuyển biến nền tảng:

  1. Mốc Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (tháng 9 năm 1979) mở đường cho sản xuất bung ra, thừa nhận thị trường tự do song hành với thị trường có tổ chức.
  2. Mốc Đại hội VI (tháng 12 năm 1986) chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.
  3. Mốc Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (tháng 3 năm 1989) chuyển hẳn sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; xác định thị trường vừa là đối tượng vừa là căn cứ của kế hoạch hóa, xóa bỏ chế độ thống nhất thu mua và phân phối, chuyển sang quản lý giá theo quan hệ cung cầu và kết nối với thị trường quốc tế.

Tác giả cũng phân tích đặc điểm kinh tế tư nhân Việt Nam: hình thành từ nhiều tầng lớp nhân dân (người nghỉ hưu, giải ngũ, người lao động được đào tạo trong chế độ mới); phần lớn có quy mô nhỏ và vừa; công nghệ còn lạc hậu; đang trong giai đoạn tích lũy ban đầu; các yếu tố đầu vào then chốt (đất đai, hạ tầng) chịu sự quản lý của Nhà nước.

Chương 2: Lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân trong những năm 1990-1999

Chương 2 trình bày quá trình Đảng lãnh đạo thể chế hóa đường lối đổi mới và tạo lập khuôn khổ pháp lý cho kinh tế tư nhân trong thập niên 1990:

  • Giai đoạn 1990–1993: Đại hội VII (tháng 6 năm 1991) thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, khẳng định chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch và chính sách. Về mặt pháp lý, Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty được ban hành vào tháng 12 năm 1990 (có hiệu lực từ năm 1991), tạo cơ sở pháp lý ban đầu xác lập quyền tự do kinh doanh của cá nhân. Hiến pháp năm 1992 tiếp tục ghi nhận quyền sở hữu tài sản và tự do kinh doanh theo pháp luật.
  • Giai đoạn 1994–1999: Đại hội VIII (tháng 6 năm 1996) đưa ra nhận thức mới: sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội mà là thành tựu của văn minh nhân loại, tồn tại khách quan và cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đảng chỉ đạo tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý nhằm mở rộng quyền kinh doanh cho kinh tế tư nhân.
  • Về số liệu kinh tế, luận án phản ánh thực trạng thông qua các biểu đồ: Biểu đồ 1 thể hiện cơ cấu GDP của các khu vực kinh tế năm 1998, và Biểu đồ 2 thể hiện cơ cấu lao động của khu vực kinh tế tư nhân trong nền kinh tế năm 1998 (chiếm tỷ trọng áp đảo về số việc làm trong xã hội).

Chương 3: Lãnh đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân từ năm 2000 đến năm 2005

Chương 3 làm rõ giai đoạn kinh tế tư nhân được đẩy mạnh phát triển với những quyết sách mang tính bước ngoặt:

  • Đại hội IX (tháng 4 năm 2001) chính thức đưa khái niệm "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" vào văn kiện, xác định đây là mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam trong thời kỳ quá độ.
  • Hội nghị Trung ương 5 Khóa IX (tháng 3 năm 2002) ban hành Nghị quyết số 14-NQ/TW chuyên đề về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân, xác định rõ cấu trúc ba bộ phận của kinh tế tư nhân (kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân).
  • Quá trình chỉ đạo thể chế hóa: Luật Doanh nghiệp năm 1999 có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 1 năm 2000, xóa bỏ hàng trăm giấy phép con, đơn giản hóa thủ tục thành lập doanh nghiệp, tạo ra làn sóng thành lập doanh nghiệp mới.
  • Về mặt dữ liệu, chương này cung cấp và phân tích hệ thống bảng và biểu đồ thống kê:
    • Bảng 1: Số lượng đại biểu Quốc hội Khóa XII là lãnh đạo các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp và doanh nhân (phản ánh vị thế chính trị - xã hội của giới doanh nhân).
    • Bảng 2: Số lượng doanh nghiệp tư nhân đăng ký hằng năm.
    • Bảng 3: Số lượng doanh nghiệp đăng ký kinh doanh giai đoạn 2000–2005.
    • Bảng 4: Tốc độ tăng đầu tư theo thành phần kinh tế giai đoạn 2000–2005 (%).
    • Cùng các Biểu đồ 3, 4, 5, 6 phân tích số lượng doanh nghiệp, quy mô lao động bình quân, quy mô vốn kinh doanh và cơ cấu lao động của doanh nghiệp năm 2005.
  • Luận án chỉ ra sự thay đổi cơ cấu nội tại: nếu giai đoạn 1986–1999 thành phần cá thể và tiểu chủ chiếm đại bộ phận, thì từ sau năm 2000, các doanh nghiệp tư bản tư nhân (công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân) gia tăng nhanh chóng cả về số lượng và tỷ trọng vốn đầu tư.

Chương 4: Đánh giá chung và một số kinh nghiệm

Chương 4 thực hiện việc tổng kết và đánh giá toàn diện quá trình lãnh đạo của Đảng:

  • Về thành tựu và ưu điểm: Đảng đã khắc phục dần định kiến ý thức hệ, giải phóng sức sản xuất của xã hội, từng bước hình thành khung khổ pháp lý thuận lợi, giúp khu vực kinh tế tư nhân phát triển vượt bậc, đóng góp lớn vào GDP, tạo việc làm và tăng nguồn thu ngân sách.
  • Về hạn chế: Công tác lãnh đạo và quản lý còn bộc lộ sự chậm trễ trong thể chế hóa một số nghị quyết; môi trường cạnh tranh giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân chưa thực sự bình đẳng; năng lực thanh tra, giám sát của bộ máy nhà nước còn yếu, dẫn đến các hiện tượng trốn thuế, vi phạm quyền lợi người lao động và buôn lậu; vai trò của tổ chức cơ sở Đảng và các đoàn thể chính trị – xã hội trong khu vực doanh nghiệp tư nhân còn mờ nhạt.
  • Về bài học kinh nghiệm lịch sử:
    • Thường xuyên bám sát thực tiễn, đổi mới tư duy kinh tế, tôn trọng các quy luật khách quan của kinh tế hàng hóa, khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí.
    • Xử lý hài hòa mối quan hệ giữa việc giải phóng tiềm năng của kinh tế tư nhân với việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và củng cố vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.
    • Chú trọng thể chế hóa kịp thời các nghị quyết của Đảng thành hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch, bảo vệ quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân.
    • Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đi đôi với việc xây dựng, củng cố tổ chức Đảng và các đoàn thể trong khu vực kinh tế tư nhân.
  • Về các vấn đề đặt ra: Luận án chỉ ra các vấn đề thực tiễn cần tiếp tục giải quyết sau năm 2005, trong đó có việc hoàn thiện quy định về đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân (được quyết định tại Đại hội X năm 2006) và nâng cao năng lực hội nhập của doanh nghiệp tư nhân.

Kết quả và những đóng góp mới

Căn cứ vào phần tự đánh giá của tác giả trong phần Mở đầu, luận án đạt được các kết quả và đóng góp mới sau:

  • Làm rõ quá trình phát triển tư duy lý luận và nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò, vị trí của kinh tế tư nhân từ Đại hội VI (1986) đến năm 2005, chỉ ra sự chuyển biến từ chỗ phủ nhận sang thừa nhận, khuyến khích và coi kinh tế tư nhân là một động lực của nền kinh tế.
  • Trình bày một cách có hệ thống, toàn diện quá trình lãnh đạo và tổ chức thực hiện đường lối phát triển kinh tế tư nhân của Đảng trong 20 năm đầu thời kỳ đổi mới (1986–2005) dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng.
  • Khái quát bức tranh thực tiễn về sự phát triển và những đóng góp kinh tế – xã hội của khu vực kinh tế tư nhân đối với đất nước trong hai thập niên đổi mới; phản ánh sự chuyển biến trong kết cấu nội tại của khu vực này từ chỗ kinh tế cá thể, tiểu chủ chiếm ưu thế chuyển sang sự gia tăng mạnh của kinh tế tư bản tư nhân sau khi có Luật Doanh nghiệp năm 1999.
  • Phân tích khách quan các ưu điểm, hạn chế trong quá trình lãnh đạo của Đảng; rút ra các bài học kinh nghiệm lịch sử và nêu lên một số kiến nghị, vấn đề đặt ra nhằm góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với kinh tế tư nhân trong các giai đoạn tiếp theo.
  • Hệ thống hóa khối lượng tư liệu lớn về văn kiện Đảng, văn bản quy phạm pháp luật và số liệu niên giám thống kê liên quan đến kinh tế tư nhân trong giai đoạn 1986–2005, phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy chuyên ngành.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án tự xác định:

  • Luận án không đi sâu vào việc khảo sát chi tiết sự phát triển của kinh tế tư nhân tại từng địa phương cụ thể mà chỉ tiếp cận trên bình diện tổng thể quốc gia và so sánh khái quát giữa các vùng kinh tế lớn.
  • Số liệu thống kê trong 20 năm đầu đổi mới có sự biến đổi và không hoàn toàn đồng nhất về hệ thống phân loại qua các thời kỳ, nhất là việc phân định ranh giới giữa hộ kinh doanh cá thể và doanh nghiệp tư nhân trước năm 2000.
  • Giới hạn thời gian nghiên cứu dừng lại ở hết năm 2005 (trước thềm Đại hội X), do đó các số liệu và chính sách từ sau năm 2005 chỉ được khái quát ngắn gọn.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Tiếp tục nghiên cứu sâu sự phát triển đường lối của Đảng đối với kinh tế tư nhân từ Đại hội X (năm 2006) đến Đại hội XI (năm 2011), trọng tâm là việc triển khai thực hiện quy định cho phép đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân.
  • Khảo sát thực tiễn phát triển kinh tế tư nhân tại các vùng kinh tế trọng điểm hoặc các ngành kinh tế cụ thể nhằm đánh giá sâu hơn tác động của thể chế đối với từng nhóm đối tượng doanh nghiệp.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng và lĩnh vực sau:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Là tài liệu phục vụ trực tiếp cho việc nghiên cứu, giảng dạy các môn học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử kinh tế Việt Nam và Kinh tế chính trị Mác – Lênin.
  • Đối với các cơ quan tham mưu, hoạch định chính sách và quản lý nhà nước: Cung cấp bức tranh lịch sử về quá trình thể chế hóa đường lối của Đảng, giúp rút kinh nghiệm trong việc xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xử lý mối quan hệ giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân, cũng như hoàn thiện các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.
  • Phần đáng tham khảo nhất trong luận án: Hệ thống phân tích quá trình thay đổi tư duy lý luận qua các kỳ Đại hội (Chương 1 và Chương 3), tài liệu phân tích việc ban hành, thực thi Nghị quyết 14-NQ/TW cùng Luật Doanh nghiệp năm 1999, và hệ thống bảng thống kê số liệu giai đoạn 2000–2005.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo luận án, kinh tế tư nhân ở Việt Nam bao gồm những bộ phận cấu thành nào?
Dựa trên quan điểm của Đảng tại Đại hội VII, Đại hội IX và Nghị quyết 14-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5 khóa IX (tháng 3 năm 2002), luận án xác định kinh tế tư nhân gồm ba bộ phận cấu thành: kinh tế cá thể, kinh tế tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Các bộ phận này hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân (doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh).

2. Ba mốc chuyển biến nền tảng trong đổi mới cơ chế kinh tế giai đoạn 1979–1989 được tác giả chỉ ra là gì?
Tác giả tổng kết ba mốc chuyển biến căn bản trên tổng thể nền kinh tế:

  • Mốc thứ nhất: Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (tháng 9 năm 1979) với quan điểm "làm cho sản xuất bung ra", khai mở kinh tế tư hữu và thừa nhận thị trường tự do tồn tại song song với thị trường có tổ chức.
  • Mốc thứ hai: Đại hội VI của Đảng (tháng 12 năm 1986) chuyển hẳn sang chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và đổi mới tổng thể các chính sách kinh tế.
  • Mốc thứ ba: Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (tháng 3 năm 1989) chuyển nền kinh tế sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, chấm dứt chế độ thống nhất thu mua và phân phối, thừa nhận giá cả do thị trường định đoạt.

3. Khái niệm "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" chính thức được Đảng nêu trong văn kiện tại kỳ Đại hội nào?
Theo luận án, mặc dù chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần được khởi xướng từ Đại hội VI (1986) và khẳng định tại Đại hội VII (1991), Đại hội VIII (1996), nhưng phải đến Đại hội IX của Đảng (tháng 4 năm 2001), khái niệm "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" mới chính thức được ghi nhận trong văn kiện, được xác định là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

4. Kết cấu nội tại của khu vực kinh tế tư nhân có sự thay đổi như thế nào giữa giai đoạn 1986–1999 và 2000–2005?
Tác giả phát hiện trong giai đoạn 1986–1999, thành phần kinh tế cá thể và tiểu chủ chiếm đại bộ phận về số lượng và quy mô trong khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, từ năm 2000 trở đi, với sự ra đời và đi vào thực thi của Luật Doanh nghiệp năm 1999, thành phần kinh tế tư bản tư nhân đã gia tăng vượt bậc, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn về vốn đăng ký, số lượng doanh nghiệp và quy mô đầu tư trong nền kinh tế.

5. Luận án giải quyết khoảng trống nghiên cứu cụ thể nào so với các công trình đi trước?
Luận án giải quyết khoảng trống nghiên cứu lịch sử khi các công trình đi trước chủ yếu tiếp cận kinh tế tư nhân dưới góc độ kinh tế học hoặc chính trị học, chưa có công trình chuyên luận nào hệ thống hóa toàn diện sự lãnh đạo của Đảng đối với kinh tế tư nhân dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng xuyên suốt từ năm 1986 đến năm 2005. Đồng thời, luận án chọn vị thế đứng từ phía chủ thể lãnh đạo (phía Đảng) để tổng kết bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, thay vì chỉ tiếp cận từ phía đối tượng kinh doanh để đề xuất cơ chế ưu đãi.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1986 đến năm 2005" của tác giả Phạm Thị Lương Diệu là công trình khoa học chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, phản ánh quá trình đổi mới tư duy và sự chỉ đạo thực tiễn của Đảng đối với khu vực kinh tế tư nhân trong hai thập niên đầu đổi mới. Công trình làm rõ quá trình chuyển biến từ việc xóa bỏ ngăn cấm sang thừa nhận, thể chế hóa và thúc đẩy kinh tế tư nhân trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bằng việc tổng hợp tư liệu văn kiện, văn bản pháp luật và số liệu thống kê thực tế, luận án đã đánh giá khách quan các thành tựu, hạn chế, đồng thời đúc kết những bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị khoa học cho việc nghiên cứu và hoạch định chính sách kinh tế.