Chương 1. Thừa nhận và cho phép kinh tế tƣ nhân phát triển trong những năm 1986-1989 13 z Chương 2. Lãnh đạo phát triển kinh tế tƣ nhân trong những năm 1990- 1999 Chương 3. Lãnh đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế tƣ nhân trong những năm 2000-2005 Chương 4.
Đánh giá chung và một số kinh nghiệm lịch sử. 14 z CHƢƠNG 1 THỪA NHẬN VÀ CHO PHÉP KINH TẾ TƢ NHÂN PHÁT TRIỂN TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1989 1. Một số vấn đề chung về kinh tế thị trƣờng và kinh tế tƣ nhân 1. Kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 1.
Bối cảnh và tính tất yếu của đƣờng lối đổi mới chuyển sang kinh tế hàng hóa nhiều thành phần – kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam Ở Việt Nam, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, muốn phát triển mạnh mẽ lực lƣợng sản xuất thì phải xã hội hóa và chuyên môn hóa lao động. Quá trình ấy chỉ có thể diễn ra một cách thuận lợi trong một nền kinh tế hàng hóa. Sản xuất càng xã hội hóa, chuyên môn hóa thì càng đòi hỏi phát triển sự hiệp tác và trao đổi hoạt động trong xã hội, càng phải thông qua sự trao đổi hàng hóa giữa các đơn vị sản xuất để đảm bảo những nhu cầu cần thiết của các hoạt động sản xuất khác nhau. Việc lựa chọn mang tính khẳng định đƣờng lối đổi mới kinh tế - chuyển từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang phát triển nền kinh tế hàng hóa gồm nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam vào cuối năm 1986 diễn ra dƣới áp lực gay gắt của thực tiễn trong nƣớc và ngoài nƣớc.
Từ trong nước: việc duy trì quá lâu cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp là một trong những nguyên nhân đẩy nền kinh tế vào tình trạng rất khó khăn, khủng hoảng trầm trọng và kéo dài: sản xuất phát triển chậm, kém hiệu quả và bấp bênh dẫn đến tình trạng thâm hụt, khan hiếm hàng hóa – kể cả lƣơng thực, lạm phát cao (777,4% năm 1987), đời sống nhân dân rất khó khăn… Đoạn tuyệt với cơ chế kinh tế cũ, lạc hậu và nhu cầu phát triển kinh tế đã trở thành đòi hỏi bức thiết và tất yếu, xuất phát từ chính lợi ích bảo vệ con đƣờng phát triển chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 15 z Từ phía quốc tế, bắt đầu từ thập niên 80 của thế kỷ trƣớc, nhiều sức ép đối với sự phát triển của kinh tế Việt Nam cũng bắt đầu xuất hiện và gia tăng ngày càng mạnh. Đó là: Từ cuối thập niên 70, chính quyền Mỹ thi hành chính sách cấm vận kinh tế đối với Việt Nam nhằm đặt nền kinh tế nƣớc ta vào thế cô lập, suy yếu, dẫn tới sụp đổ. Dƣới áp lực của Mỹ, nhiều chính phủ, tổ chức kinh tế - tài chính quốc tế, tập đoàn và công ty trên thế giới cũng buộc phải hạn chế hoặc ngừng quan hệ với Việt Nam.
Khi Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội thì Liên Xô, các nƣớc xã hội chủ nghĩa Đông Âu và nhiều nƣớc trong hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới cũng lâm vào tình cảnh tƣơng tự. Do đó, viện trợ từ các nƣớc xã hội chủ nghĩa - nguồn lực phát triển hết sức quan trọng đối với Việt Nam - bị suy giảm; hoạt động thƣơng mại của Việt Nam đối với khu vực thị trƣờng truyền thống, quan trọng hàng đầu này cũng giảm mạnh, làm trầm trọng thêm những mất cân đối lớn vốn có của nền kinh tế nƣớc ta. Thành công của Trung Quốc trong cải cách, mở cửa (từ năm 1978) nền kinh tế theo định hƣớng thị trƣờng nhƣng vẫn giữ con đƣờng xã hội chủ nghĩa đƣa lại những gợi ý có giá trị tham khảo, vận dụng trong chiến lƣợc phát triển của Việt Nam trong bối cảnh mới. Dƣới áp lực của tình thế khách quan, nhằm thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, Việt Nam đã có những bƣớc cải tiến nền kinh tế theo hƣớng thị trƣờng tuy nhiên còn chƣa toàn diện, triệt để.
Trong khi hàng rào cơ chế đã thủng ở nhiều nơi thì những tranh luận vẫn chƣa ngã ngũ. Trƣớc thềm Đại hội VI (tháng 12-1986), những câu hỏi, những quyết định mang tính xoay chuyển vận mệnh dân tộc vẫn chƣa định hình rõ. Thực tiễn xé rào có thể bùng nổ hơn nữa, cay đắng hơn nữa nếu không có sự chuyển đổi tƣ duy. Theo lời của GS.
Trần Nhâm ghi lại trong cuốn “Trƣờng Chinh với hành trình đổi mới tƣ duy” thì: Sau khi nhận thấy yêu cầu cấp bách của thực tiễn cũng nhƣ hình hài con đƣờng đổi mới của Việt Nam, ông Trƣờng Chinh cho rằng tình thế lúc này 16 z không thể kéo dài đƣợc nữa nhƣng để thay thế cái cũ phải nắm vững lý luận, hiểu rõ thực tế và nhìn thẳng vào sự thật. Do vậy ông quyết định làm gấp hai việc: Một là tập hợp một nhóm tƣ vấn gồm những ngƣời có tƣ duy đổi mới để nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn làm căn cứ và tìm ra phƣơng pháp luận cho việc xác định con đƣờng, bƣớc đi sắp tới. Hai là tổ chức những chuyến đi thực tế các địa phƣơng, tìm rõ cái hay cái dở, thành công và thất bại để có những đánh giá chính xác. Từ quyết định đó, những tƣ duy khách quan, tỉnh táo hơn đã cứu vớt từng mảng nền kinh tế.
Những cuộc phá rào lúc âm ỉ, lúc bùng phát ở cơ sở tiến đến phá rào trong cả đƣờng lối, chính sách ở trung ƣơng. Trong hoàn cảnh kinh tế - xã hội khủng hoảng ngày càng trầm trọng, tháng 8-1979, Hội nghị Trung ƣơng lần 6 Khóa IV đƣợc triệu tập để bàn về sản xuất hàng tiêu dùng. Với quan điểm kết hợp giữa “kế hoạch” với “thị trƣờng” để “làm cho sản xuất bung ra” đúng hƣớng, thay vì tuyệt đối hóa vai trò của một loại kế hoạch duy nhất và xơ cứng – kế hoạch pháp lệnh nhƣ trƣớc đây. Mặc dù quan niệm “Nhà nƣớc nắm đƣợc nguồn hàng, làm chủ đƣợc thị trƣờng” vẫn là chủ đạo, song, Hội nghị 6 đƣợc coi là bƣớc xé rào đầu tiên trong việc thay đổi chủ trƣơng, chính sách trên lĩnh vực kinh tế, với ý nghĩa là khắc phục những khuyết điểm, sai lầm trong quản lý kinh tế, trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, điều chỉnh những chủ trƣơng chính sách kinh tế, phá bỏ những rào cản để cho lực lƣợng sản xuất phát triển.
Đây là dấu hiệu đánh dấu sự đổi mới một bƣớc nhận thức của Đảng về cơ chế quản lý kinh tế, thừa nhận sự tồn tại khách quan của thị trƣờng tự do và bƣớc đầu đổi mới nhận thức về phƣơng thức quản lý giá cả trên thị trƣờng. Hội nghị Trung ƣơng 6 khóa IV còn đánh dấu bƣớc đổi mới ban đầu tƣ duy của Đảng về thành phần kinh tế với việc thừa nhận ở Miền Nam còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong một thời gian nhất định, có ý nghĩa tạo dựng cơ sở cho việc xác lập quan hệ hàng hóa – tiền tệ trong nền kinh tế đất nƣớc. 17 z Những chủ trƣơng có tính chất đổi mới nêu trên đã có tác động trực tiếp và nhanh chóng đến các quan hệ kinh tế. Tháng 10-1979, Chính phủ ban hành Quyết định 373/CP và 374/CP về xóa bỏ các trạm kiểm soát “ngăn sông cấm chợ”, “mở lối” cho các loại sản phẩm đƣợc trao đổi trên thị trƣờng tự do theo giá thỏa thuận sau khi đã nộp đủ nghĩa vụ cho Nhà nƣớc.
Điều đó đánh dấu một bƣớc chuyển biến quan trọng của việc “xác lập một thị trƣờng thông suốt”, tạo điều kiện cho sản xuất, kinh doanh phát triển và khai thác tốt thế mạnh của từng vùng, miền. Chỉ thị số 100-CT/TƢ của Ban Bí thƣ Trung ƣơng khóa IV (ngày 13-1- 1981) “về khoán sản phẩm đến nhóm và ngƣời lao động” đã tạo ra động lực mới, tạo ra sự tăng trƣởng ban đầu trong sản xuất nông nghiệp. Nghị định số 25-CP của Chính phủ “về một số chủ trƣơng và biện pháp phát huy quyền chủ động sản xuất kinh doanh và quyền tự chủ tài chính của các xí nghiệp quốc doanh” là một điều chỉnh quan trọng trong cơ chế quản lý công nghiệp. Đây đƣợc xem là những bƣớc xé rào cơ chế của Việt Nam.
Những chủ trƣơng trên đã mở ra khả năng mới cho hoạt động kinh doanh trên thị trƣờng. Đó là những căn cứ thực tế để Đảng đi đến quyết định thay đổi về cơ bản cơ chế quản lý kinh tế. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, nhất là thực tế chuyển biến của tình hình kinh tế dƣới tác động của các chủ trƣơng có tính chất đổi mới cơ chế quản lý, Đại hội V của Đảng (tháng 3-1982) tiếp tục đổi mới nhận thức về “bƣớc đi”, tốc độ của quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đại hội xác định: cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa phải trải qua nhiều chặng đƣờng, tƣơng ứng với từng chặng đƣờng cần xây dựng một cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý phù hợp.
Đại hội nhấn mạnh: “Xác lập chế độ quản lý và kế hoạch hóa đúng đắn, đổi mới chế độ quản lý và kế hoạch hóa hiện hành. Xóa bỏ cơ chế quản lý hành chính, quan liêu, bao cấp” [71, tr. 18 z Sau Đại hội V là thời kỳ sôi động của đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. Nền kinh tế Việt Nam bắt đầu chuyển sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa.
Nhƣng nhìn chung, quá trình chuyển đổi diễn ra rất chậm chạp do bị chi phối bởi nhiều yếu tố, trong đó ách tắc nhất vẫn là khâu phân phối, lƣu thông. Từ nhận thức phải tạo ra bƣớc chuyển căn bản trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế là phải xóa bỏ bao cấp qua giá và qua lƣơng, Hội nghị Trung ƣơng 8 khóa V (tháng 6-1985) đƣợc triệu tập, bàn về việc giải quyết vấn đề “giá - lƣơng - tiền” gắn liền với việc tiến hành đổi mới kế hoạch hóa… Diễn biến tình hình kinh tế đất nƣớc trƣớc thềm Đại hội VI phản ánh cuộc đấu tranh phức tạp trong tƣ duy, nhất là tƣ duy kinh tế. Cơ chế quản lý mới đã hình thành từng yếu tố - tạo nên sức sống mới cho nền kinh tế, song luôn bị cơ chế cũ níu kéo, cản trở.