Mở đầu. Phần I : Khái quát về khung lý thuyết truyền dẫn tỷ giá hối đoái. Phần II Phân tích thực trạng về biến động lạm phát, tỷ giá hối đoái và các nhân tố tác động. Phần III: Phân tích kết quả thực nghiệm truyền dẫn tỷ giá và các nhân tố tác động lên lạm phát.
2 123doc PHẦN I: KHÁI QUÁT VỀ KHUNG LÝ THUYẾT TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ HOÁI ĐỐI.1 Luật một giá (LOOP): Luật một giá cho rằng: “Trong một thị trường hiệu quả, tất cả các hàng hóa giống nhau phải được bán với cùng một giá”. Nghĩa là khi không tính đến chi phí vận chuyển và các chi phí giao dịch khác, mối quan hệ giữa giá thế giới và giá trong nước trở thành E , là tỷ giá giữa đồng ngoại tệ và đồng nội tệ. Nếu p là giá hàng hóa theo đồng tiền của quốc gia A, p* đại diện cho giá hàng hóa theo đồng tiền của quốc gia B và E là tỷ giá hối đoái của đồng tiền của quốc A so với đồng tiền của quốc gia B. Nếu luật một giá là đúng với hàng hóa i thì giá của hàng hóa i là: pi = E (1).
Nếu LOOP đúng với tất cả các loại hàng hóa ở tất cả các quốc gia thì lý thuyết hiệu ứng ngang giá sức mua trong điều kiện tuyệt đối tồn tại và được thể hiện là: P = EP* (1’) với P và P* là mức giá ở hai quốc gia A và B. Trong mô hình nghiên cứu của Goldberg (1997) như sau: pt = α + δXt + γEt + µZt + εt (2). Trong đó, tất cả các biến đều dưới dạng logarit, p là giá của một hàng hóa nhập khẩu cụ thể, X là biến kiểm soát đại diện cho phí sản xuất hoặc giá cả hàng hóa, E là tỷ giá hối đoái, Z đại diện cho một biến kiểm soát khác ảnh hưởng đến giá nhập khẩu trong mô hình, ε là sai số của mô hình. Ông cho rằng nếu LOOP được thể hiện như phương trình (1) là đúng tức giá cả những hàng hóa giống nhau sẽ có giá bán như nhau khi qui về một đồng tiền chung thì LOOP sẽ đưa ra những dự đoán cho giá cả hàng hóa và tỷ giá trong phương trình (2) như sau: Nếu giá hàng hóa được đo lường trong những đơn vị tiền tệ khác nhau thì LOOP chỉ ra rằng α = 0, δ = 1, γ = 1.
Nếu giá cả được đo lường cùng một đơn vị tiền tệ thì theo LOOP ta có α = 0, δ = 1, γ = 0. Điều này ngụ ý rằng, theo luật một giá, giá cả của hàng hóa nhập khẩu chỉ phụ thuộc vào tỷ giá và giá cả sản xuất hàng hóa tính theo đồng tiền của quốc gia xuất khẩu. Khi tỷ giá thay đổi tăng lên (hoặc giảm xuống) thì giá cả hàng hóa tính theo đồng tiền của quốc gia nhập khẩu sẽ tăng lên hoặc giảm xuống một khoảng tương ứng và gần như ngay tức khắc. Tức là, sự phá giá hay định giá cao đồng nội tệ có thể trực tiếp tác động lên giá trong nước của hàng hóa thương mại cũng như gián tiếp tác động vào mức giá chung.2 Những quan điểm về truyền dẫn tỷ giá.
Đã có nhiều nghiên cứu trước đây giải thích về khái niệm truyền dẫn tỷ giá hối đoái theo những cách khác nhau như: Nghiên cứu của Eric (1987) về mô hình truyền dẫn tỷ giá ở Nhật trong ngành sản xuất. Tác giả cho rằng truyền dẫn tỷ giá là hiện tượng thay đổi giá trị của việc trao đổi ngoại tệ được phản ánh trong giá nhập khẩu. Sự thay đổi tỷ giá sẽ làm gia tăng thay đổi giá nhập khẩu, tuy nhiên mức độ truyền dẫn phụ thuộc vào cấu trúc thị trường trong và ngoài nước và chế độ tỷ giá. Mức truyền dẫn cao nếu đó là thị truờng trong nước độc quyền hoặc thị trường nước ngoài cạnh tranh.
Jonathan McCarthy (2000) lập luận rằng truyền dẫn tỷ giá hối đoái là sự ảnh hưởng của biến động tỷ giá hối đoái và giá nhập khẩu đến tỷ lệ lạm phát trong nước. Barhoumi ( 2005), trong bài viết về ” Những khác biệt truyền dẫn tỷ giá dài hạn vào giá nhập khẩu ở các nước phát triển” đã định nghĩa truyền dẫn tỷ giá là phần trăm thay đổi của giá nhập khẩu bằng đồng nội tệ được gây ra bởi một phần trăm thay đổi tỷ giá. Kara (2005) cho rằng các nước đang phát triển thường là các nền kinh tế mới mở và có qui mô nhỏ nên quyền áp đặt giá trên thị trường là rất hạn chế. Điều đó có nghĩa biến động tỷ giá hối đoái sẽ tác động mạnh đến giá hàng hóa nhập khẩu, khiến các chỉ số giá trong nước trở nên rất nhạy cảm đối với sự thay đổi của tỷ giá hối đoái danh nghĩa.
Nghiên cứu của Ito và Sato (2006) phát hiện ra rằng truyền dẫn tỷ giá hối đoái tại các nước châu Á chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng 1997 – 1998. Devereux và Yetman (2008) lý giải rằng truyền dẫn tỷ giá sẽ đóng góp ít nhất một phần vào điều chỉnh chậm giá danh nghĩa, mức truyền dẫn nhạy cảm với cơ chế chính sách tiền tệ bởi vì mức giá chính nó là yếu tố nội sinh của chế độ tiền tệ. Sự truyền dẫn trong nền kinh tế có qui mô nhỏ được xác định bằng đặc điểm cấu trúc của nền kinh tế như thời lượng tác động của cú sốc, và mức giá. Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm truyền dẫn tỷ giá, tuy nhiên nguyên nhân chủ yếu có thể là do khác biệt về mục tiêu, đối tượng, mô hình và phương pháp nghiên cứu.
Vì vậy dựa theo chủ ý, tác giả xin đưa ra quan niệm về truyền dẫn tỷ giá như sau: Truyền dẫn tỷ giá là sự biến động của tỷ giá ( do các nhân tố định giá cao tỷ giá thực, độ mở cửa kinh tế, mức chênh lệch sản lượng, và giá dầu) ảnh hưởng lên mức lạm phát trong nước.3 Vai trò và ý nghĩa của truyền dẫn tỷ giá. Mức truyền dẫn tỷ giá được gây ra bởi hai nguyên nhân chính là cú sốc cung và cú sốc cầu. Tùy thuộc vào mức độ tác động và chiều hướng tác động của cú sốc cung và cú sốc cầu mà dẫn đến kết quả về độ lớn và thời điểm phát huy tính truyền dẫn tỷ giá lên lạm phát là khác nhau. Nắm rõ nguyên lý này nó sẽ giúp ích ít nhiều cho các nhà hoạch định chính sách trong việc đưa ra những điều chỉnh hợp lý khi ban hành ra các chính sách quản lý tỷ giá và chống lạm phát hiệu quả nhằm hướng đến mục tiêu ổn định nền kinh tế vĩ mô, đảm bảo đời sống an sinh xã hội.
Ví dụ như nghiên cứu của Campa & Goldberg (2002) cho rằng mức độ truyền dẫn tỷ giá lên giá nhập khẩu sẽ thấp cho những quốc gia có lạm phát và độ biến động của tỷ giá thấp. Ngoài ra, theo nghiên cứu của Kenneth & Paul ( 1988) các doanh nghiệp nước ngoài có thể tối đa hóa lợi nhuận bằng các tăng hoặc giảm giá xuất khẩu đồng nội tệ khi tỷ giá nội địa được đánh giá cao tương đối, và khi độ biến động về tỷ giá gia tăng sẽ làm cho mức độ truyền dẫn tăng cao. Hiểu được ý nghĩa này các doanh nghiệp nước ngoài có thể gia tăng áp lực lạm phát cho quốc gia nhập khẩu cũng như tối đa hóa lợi nhuận khi có thể. Hơn thế nữa, nghiên cứu Devereux và Yetman (2008) thấy rằng khi DN có thể điều chỉnh tần số thay đổi giá, chính sách tiền tệ không tốt sẽ dẫn đến nhiều thay đổi tần suất giá và mức truyền dẫn tỷ giá cao hơn.
Lạm phát trung bình và sụt giảm tỷ giá trung bình sẽ làm tăng sự truyền dẫn tỷ giá theo kiểu phi tuyến. Tommaso Monacelli (2003) nghiên cứu về chính sách tiền tệ trong môi trường truyền dẫn tỷ giá thấp phát hiện ra rằng nếu nhà quản lý kinh tế muốn ban hành một chính sách tiền tệ đúng đắn và thực hiện một cách có hiệu quả thì phải duy trì được sự ổn định và giữ mức truyền dẫn tỷ giá thấp, điều đó có nghĩa là những chính sách tiền tệ tối ưu luôn đòi hòi tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực phải ổn định hơn. Hơn nữa, cũng lưu ý rằng mức truyền dẫn tỷ giá không hoàn toàn cho thấy mức truyền dẫn tỷ giá sẽ khác biệt khi phân tích chính sách tiền tệ của nền kinh tế mở với nền kinh tế đóng. Điều này hé mở ra vấn đề là môi trường kinh tế, cụ thể là chính sách tiền tệ mà các quốc gia đang theo đuổi sẽ ảnh hưởng rất nhiều khi tính độ truyền dẫn tỷ giá.
Chẳng hạn như các quốc gia theo đuổi chính sách lạm phát mục tiêu thường có hệ số truyền dẫn tỷ giá thấp hay có sự sụt giảm nhiều hơn so với những quốc gia không theo đuổi (Gagnon và Ihrig (2001) “Chính sách tiền tệ và sự truyền dẫn tỷ giá”), nghĩa là khi chính phủ muốn phát triển kinh tế theo hướng bền vững thì mức độ truyền dẫn tỷ giá vào lạm phát là rất ít (chủ yếu là các quốc gia phát triển). Nguợc lại các quốc gia không theo đuổi chính sách lạm phát mục tiêu ( đa số các quốc gia đang phát triển) sẽ phải gánh chịu mức độ truyền dẫn tỷ giá cao khi bị tác động bởi các cú sốc vì vậy các quốc gia này nên thận trọng khi thực hiện các 5 123doc chính sách phát triển theo hướng xuất khẩu, nghĩa là phá giá đồng nội tệ, bởi vì mức độ gánh chịu tổn thất về kinh tế sẽ không nhỏ khi tạo ra tình trạng gia tăng lạm phát cho quốc gia này.4 Các nhân tố tác động đến mức độ truyền dẫn tỷ giá. Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả nổi tiếng viết về cơ chế truyền dẫn tỷ giá lên lạm phát hay các chỉ số giá, không những ở các nước phát triển mà cho cả các nước đang phát triển. Tuy nhiên vẫn chưa có mô hình hoàn hảo được phát hiện nhằm làm hài lòng các nhà học thuật, bởi vì lẽ đó nhiều mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa theo các gốc độ tiếp khác nhau nên nó đã phác thảo lên bức tranh “ truyền dẫn tỷ giá” thêm đa dạng và nhiều màu sắc hơn.
Trên phương diện đó tác giả xin tổng hợp lại một số các nhân tố ảnh hưởng đến mức truyền dẫn tỷ giá từ các bài viết tiêu biểu như sau: Nghiên cứu nổi tiếng về sự truyền dẫn tỷ giá thường được các nhà nghiên cứu dùng tham khảo và trích dẫn làm ví dụ minh họa là nghiên cứu của tác giả Taylor (2000).