mở đầu bằng khung CSTT của NHTƯ với hệ thống mục tiêu chính sách, các công cụ CSTT truyền thống và cơ chế truyền dẫn trong khung CSTT này. Các công cụ CSTT phi truyền thống được bàn luận tiếp sau đó cho thấy những mở rộng về cách thức điều hành CSTT của các NHTƯ gần đây. Cuối chương là những nguyên tắc trong điều hành CSTT để NHTƯ xác định thời gian và lượng can thiệp. Chính sách tiền tệ CSTT là một trong hai phương tiện chính (cùng với chính sách tài khóa, CSTK) mà các cơ quan chính phủ trong nền kinh tế thị trường thường dùng để tác động đến tốc độ và phương hướng của toàn bộ hoạt động kinh tế; các hoạt động của nền kinh tế được tác động không chỉ bao gồm tổng sản lượng và việc làm mà còn cả tốc độ mà tại đó giá cả tăng hoặc giảm (Friedman, 2015).
CSTT ngày nay được đặt ở vị trí trung tâm trong các thảo luận về cách thúc đẩy tăng trưởng và kiểm soát lạm phát của nền kinh tế (Mishkin, 1996). Cơ quan chính phủ điều hành CSTT là NHTƯ. Thể chế của NHTƯ là một trong những vấn đề được thảo luận nhiều trong nghiên cứu. Liệu rằng NHTƯ độc lập với chính phủ sẽ có thể điều hành CSTT hiệu quả hơn hay không là vấn đề thường được đặt ra (Bagheri & Habibi, 1998; Fischer & cộng sự, 1995).
NHTƯ độc lập có thể kiểm soát việc thực hiện CSTT để đạt được các mục tiêu (của CSTT) mà không cần sự chấp thuận trực tiếp của cơ quan hành pháp của chính phủ. Sự độc lập về thể chế có thể giúp ngăn cản quá trình ra quyết định của NHTƯ khỏi các mục tiêu có khả năng gây xung đột của chính phủ; ví dụ như thúc đẩy tăng trưởng trong ngắn hạn với cái giá phải trả là lạm phát hoặc biến động kinh tế cao hơn trong dài hạn; giảm nợ công,…. Các bằng chứng thực tế cũng cho thấy rằng sự độc lập có thể nâng cao hiệu quả của NHTƯ. Chẳng hạn, các nước phát triển đã thực hiện các bước để tăng cường sự độc lập của NHTƯ sau những năm 1970, những nước này đã trải qua lạm 1 phát trung bình thấp hơn mà không gây tổn hại đến tăng trưởng (Lybek, 1999).
Ngân hàng Dự trữ New Zealand là một trong những tiên phong cho trào lưu này. Trước năm 1989, Ngân hàng Dự trữ New Zealand nằm dưới sự kiểm soát hoạt động của Bộ Tài chính. Sau năm 1989, ngân hàng này đã có sự điều chỉnh về thể chế và trở nên độc lập với Bộ Tài chính. Mặc dù xu hướng độc lập hơn ngày càng phổ biến, mức độ độc lập giữa các NHTƯ là khác nhau.
Ví dụ, tại Mỹ, các mục tiêu của Cục Dự trữ Liên bang (FED) được Quốc hội Mỹ xác định trong Đạo luật Dự trữ Liên bang. Mục tiêu lạm phát của Anh được thiết lập bởi Thủ tướng của Exchequer. Ngược lại, Riksbank và Ngân hàng Dự trữ Úc đặt mục tiêu lạm phát của riêng họ. Mặt khác, một số tranh luận cho rằng cấu trúc tổ chức có ảnh hưởng đến sự độc lập về thể chế của NHTƯ.
Ví dụ, cấu trúc của FED được cho là thúc đẩy sự độc lập của CSTT nước này. Bảy thành viên của Hội đồng Thống đốc do Tổng thống bổ nhiệm và được Thượng viện xác nhận, nhưng các chủ tịch FED được chọn vào Hội đồng Quản trị của riêng họ, với sự chấp thuận của Hội đồng Thống đốc. Nhiệm kỳ của các thống đốc là 14 năm, dài hơn đáng kể so với nhiệm kỳ của tổng thống Hoa Kỳ hoặc một thượng nghị sĩ. Trong phạm vi của cuốn sách này, chúng tôi không bàn đến sự độc lập về thể chế của NHTƯ với chính phủ dù hiểu rõ tầm quan trọng của vấn đề này đối với điều hành CSTT.
Theo đó, các vấn đề bàn luận của điều hành CSTT trong nền kinh tế mở được đặt trong giả định NHTƯ có thể ra quyết định điều hành mà không chịu sự ràng buộc mang tính xung đột của chính phủ. Hệ thống mục tiêu của chính sách tiền tệ CSTT thông thường có ba loại mục tiêu: mục tiêu cuối cùng, mục tiêu trung gian và mục tiêu hoạt động. Mục tiêu cuối cùng cho biết đích đến cuối cùng của điều hành CSTT. Tuy nhiên, các công cụ CSTT mà NHTƯ sử dụng chỉ có thể tác động đến các mục tiêu cuối cùng sau một khoảng thời gian nhất định, thường là dài hơn 1 năm.
Do đó, các NHTƯ không thể chờ đợi kết quả một cách thụ động mà cần thiết lập các mục tiêu trung gian và mục tiêu hoạt động, để xem xét phản ứng của nền kinh tế trước các thay đổi chính sách, từ đó có những điều chỉnh phù hợp, hỗ trợ cho việc đạt được mục tiêu cuối cùng (Hình 1. Mối liên hệ giữa các mục tiêu và công cụ của CSTT Công cụ CSTT Dự trữ bắt buộc Chính sách chiết khấu Nghiệp vụ thị trường mở Mục tiêu hoạt động Tiền cơ sở Các loại lãi suất (LS liên ngân hàng, LS tín phiếu kho bạc.) Mục tiêu trung gian Khối tiền (M1, M2, M3) Lãi suất (ngắn hạn và dài hạn) Mục tiêu cuối cùng Ổn định Tăng Ổn định Ổn định Ổn định Việc làm trưởng giá cả cao kinh tế tài chính lãi suất tỷ giá Nguồn: Mishkin & Eakins (2018) 1. Mục tiêu cuối cùng Theo Mishkin & Eakins (2018), mục tiêu cuối cùng được các NHTƯ đề cập bao gồm: ổn định giá cả, tỷ lệ việc làm cao, tăng trưởng kinh tế, ổn định thị trường tài chính, ổn định lãi suất và ổn định tỷ giá hối đoái. Mục tiêu ổn định giá cả.
Sự biến động mạnh của giá cả làm gia tăng tính không chắc chắn, ảnh hưởng đến các quyết định đầu tư và tiêu dùng của doanh nghiệp và hộ gia đình, tạo nên hệ thống tài chính kém hiệu quả, gây tổn hại đến tăng trưởng kinh tế. Mankiw (2023) liệt kê sáu loại chi phí của lạm phát, bao gồm: 3 (i) chi phí mòn giày, tức sự lãng phí nguồn lực khi lạm phát khuyến khích dân chúng giảm việc nắm giữ tiền; (ii) chi phí thực đơn, tức chi phí do thay đổi giá cả; (iii) sự gia tăng biến động của mức giá tương đối và phân bổ sai nguồn lực; (iv) những thay đổi không dự tính trước đối với nghĩa vụ thuế; (v) sự nhầm lẫn và bất tiện do thay đổi đơn vị tính toán gây ra; (vi) sự phân phối lại của cải tuỳ ý. Trên cơ sở nhận thức được tác động tiêu cực của lạm phát đến nền kinh tế, nhiều NHTƯ xem việc ổn định giá cả, hay nói cách khác là lạm phát ở mức thấp và ổn định, là mục tiêu quan trọng hàng đầu của CSTT. Mục tiêu tỷ lệ việc làm cao.
Sở dĩ tỷ lệ việc làm cao là mối quan tâm của các nhà điều hành chính sách là vì nếu điều ngược lại xảy ra, tỷ lệ thất nghiệp cao sẽ gây ra nhiều tác động tiêu cực về mặt kinh tế - xã hội. Khi nền kinh tế có nhiều nguồn lực nhàn rỗi (người lao động không có việc làm, nhà máy đóng cửa, máy móc thiết bị không được sử dụng hết công suất), sản lượng sẽ sụt giảm. Mặt khác, tình trạng thất nghiệp có thể đẩy người dân vào hoàn cảnh nghèo đói, khốn khổ, nhiều tệ nạn xã hội cũng vì vậy mà nảy sinh. Một điều cần lưu ý là mục tiêu tỷ lệ việc làm cao không đồng nghĩa với tỷ lệ thất nghiệp bằng 0, mà là duy trì ở mức thất nghiệp tự nhiên.
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ việc làm cao có mối quan hệ mật thiết với nhau. Tăng trưởng kinh tế góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, ngược lại nó cũng phụ thuộc vào tỷ lệ việc làm cao đến mức nào. Khi nhiều người lao động không có việc làm, nhiều nhà máy đóng cửa, doanh nghiệp không có động lực để đầu tư xây dựng thêm nhà xưởng hay mua sắm thêm máy móc thiết bị.
Ngược lại, khi tỷ lệ việc làm cao, doanh nghiệp có khả năng đầu tư càng nhiều vốn để tăng năng suất lao động và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. CSTT với những công cụ của mình có thể đạt được mục tiêu kích thích tăng trưởng kinh tế bằng cách khuyến khích đầu tư của khu vực tư nhân. Mục tiêu ổn định thị trường tài chính. Thị trường tài chính thực hiện chức năng dẫn vốn từ các chủ thể tạm thời thừa vốn sang các chủ thể tạm thời thiếu vốn, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả của nền kinh tế.
Ổn định thị trường tài chính, tránh nguy cơ rơi vào khủng hoảng tài chính do đó là mục tiêu quan trọng đối với một NHTƯ. 4 Mục tiêu ổn định lãi suất. Lãi suất là biến số vĩ mô quan trọng trong nền kinh tế, ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng và đầu tư của hộ gia đình và doanh nghiệp. Lãi suất biến động càng mạnh, càng gây ra sự không chắc chắn trong nền kinh tế và khó khăn trong việc lập kế hoạch dài hạn, chẳng hạn như kế hoạch mua nhà của hộ gia đình hay kế hoạch xây dựng của doanh nghiệp.
Hơn nữa, biến động lãi suất cũng gây ảnh hưởng đến các định chế tài chính. Như vậy, thị trường tài chính có ổn định hay không, nền kinh tế có tăng trưởng tốt hay không, điều này phụ thuộc rất lớn vào sự ổn định của lãi suất. Mục tiêu ổn định tỷ giá hối đoái. Ổn định tỷ giá trở thành một mục tiêu quan trọng của CSTT trong nền kinh tế mở bởi các lý do sau: (i) Trong trường hợp ngược lại, tức tỷ giá biến động mạnh sẽ tạo ra sự không chắc chắn, các hộ gia đình và doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc lập kế hoạch mua bán hàng hoá với nước ngoài; (ii) Tỷ giá giảm, tức nội tệ tăng giá làm giảm sức cạnh tranh của hàng hoá trong nước so với nước ngoài; trong khi đó tỷ giá tăng lại gây áp lực lên lạm phát qua con đường nhập khẩu.
Trong dài hạn, các mục tiêu nêu trên là nhất quán, bởi lẽ không có sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp trong dài hạn, sự ổn định giá cả thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cũng như ổn định tài chính, lãi suất và tỷ giá. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, mục tiêu ổn định giá cả có thể xung đột với các mục tiêu khác, NHTƯ không thể đạt được đồng thời tất cả các mục tiêu trên. Ví dụ, trong bối cảnh nền kinh tế tăng trưởng nóng, áp lực lạm phát gia tăng, NHTƯ phải thực thi CSTT thắt chặt, kết quả là lãi suất tăng, sản lượng giảm, tỷ lệ việc làm giảm.