Luận văn làng gốm sứ Bát Tràng (Việt Nam) và Cảnh Đức Trấn - Liang Lun

Luận văn so sánh làng nghề gốm sứ Bát Tràng Việt Nam và Cảnh Đức Trấn Trung Quốc, phân tích lịch sử, kỹ thuật chế tác cùng định hướng bảo tồn di sản.

Chuyên ngành

Việt Nam học

Tác giả

Ẩn danh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2025

125
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan luận văn làng nghề gốm sứ Việt Nam và Trung Quốc

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam học của tác giả Liang Lun tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội tập trung nghiên cứu đối sánh hai trung tâm gốm sứ lừng danh phương Đông. Công trình phân tích sâu sắc làng gốm Bát Tràng tại Hà Nội và thủ phủ Cảnh Đức Trấn tại Giang Tây. Bát Tràng nằm bên bờ sông Hồng phì nhiêu, thuận lợi giao thương đường thủy suốt chiều dài nghìn năm Thăng Long. Cảnh Đức Trấn sở hữu nguồn đất sét cao lanh thượng hạng cùng hệ thống lò nung hoàng gia quy mô lớn qua các triều đại phong kiến Trung Hoa. Hai làng nghề đều đóng vai trò trụ cột trong nền kinh tế thủ công nghiệp truyền thống. Nghiên cứu làm rõ bối cảnh lịch sử, cấu trúc làng nghề và sự chuyển dịch không gian sản xuất qua từng thời kỳ. Việc đối chiếu hai trung tâm gốm sứ cung cấp góc nhìn đa chiều về dòng chảy văn hóa khu vực. Tác phẩm khẳng định giá trị bền vững của di sản thủ công mỹ nghệ trong dòng chảy mậu dịch hàng hải quốc tế.

1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của làng gốm Bát Tràng

Gốm Bát Tràng hình thành từ thế kỷ XIV khi các dòng họ di cư về vùng đất bồi phù sa sông Hồng. Vị trí địa lý đắc địa giúp sản phẩm gốm dễ dàng vận chuyển đi khắp các trấn phủ và xuất khẩu ra thế giới. Vào thời nhà Mạc thế kỷ XVI, nhiều nghệ nhân tên tuổi đã chế tác các sản phẩm tinh xảo cung cấp cho tầng lớp quý tộc hoàng gia. Đến giai đoạn thế kỷ XVI và XVII, việc nhà Minh áp dụng lệnh cấm biển tạo cơ hội thuận lợi cho gốm Bát Tràng vươn mạnh ra thị trường Đông Nam Á và Nhật Bản. Đồ gốm hoa lam và men rạn trở thành biểu tượng nghệ thuật đỉnh cao của gốm truyền thống Việt Nam.

1.2. Vị thế thủ phủ gốm sứ nghìn năm của Cảnh Đức Trấn

Cảnh Đức Trấn thuộc tỉnh Giang Tây được mệnh danh là kinh đô gốm sứ thế giới với lịch sử nung gốm hơn hai nghìn năm. Vùng đất này có mỏ đất cao lanh chất lượng cao, nguồn củi dồi dào và mạng lưới giao thông thủy bộ hoàn chỉnh. Nơi đây quy tụ nhiều thế hệ nghệ nhân bậc thầy và từng duy trì hệ thống Ngự diêu xưởng chuyên chế tác đồ ngự dụng cho các triều đại phong kiến. Khẩu hiệu nghệ nhân từ tám phương tụ hội thể hiện sức hút văn hóa mạnh mẽ của Cảnh Đức Trấn. Đồ sứ hoa lam, sứ men ngọc và đồ sứ men nhiều màu tại đây đã xuất khẩu rộng khắp toàn cầu.

II. Phân tích đối sánh làng nghề gốm sứ Bát Tràng và Cảnh Đức Trấn

Luận văn tiến hành so sánh toàn diện giữa hai làng nghề trên các phương diện kỹ thuật chế tác, mẫu mã nghệ thuật và quy mô sản xuất. Bát Tràng thiên về kỹ nghệ chế tác gốm đất nung, đồ sành xốp kết hợp các dòng men độc đáo như men rạn, men tro và men màu lam xám. Trong khi đó, Cảnh Đức Trấn nổi tiếng với kỹ thuật chế tác đồ sứ mỏng như giấy, trong như ngọc và phát âm thanh vang như chuông. Về tổ chức kinh doanh, Bát Tràng phát triển dựa trên mô hình phường nghề gia tộc, xưởng hộ gia đình linh hoạt thích ứng với thị trường nội địa và đơn hàng quốc tế. Cảnh Đức Trấn xây dựng dây chuyền phân công lao động chuyên môn hóa sâu sắc từ khâu khai thác nguyên liệu, tạo hình đến nung đốt trong các lò nung khổng lồ. Tuy nhiên, cả hai làng nghề hiện đối mặt với nhiều thách thức lớn như ô nhiễm môi trường, nguy cơ mai một bí quyết cổ truyền và sự cạnh tranh gay gắt từ đồ gốm công nghiệp giá rẻ.

2.1. Điểm tương đồng và khác biệt về kỹ nghệ men gốm sứ

Cả hai làng nghề đều duy trì kỹ thuật tạo hình bàn xoay điêu luyện kết hợp khuôn in và nghệ thuật vẽ tay tinh xảo. Điểm khác biệt rõ nét thể hiện ở chất liệu cốt gốm và nhiệt độ nung. Đồ gốm Bát Tràng sử dụng đất sét trầm tích ven sông nung ở nhiệt độ trung bình từ 1100 đến 1250 độ C, tạo nên lớp men rạn dày dặn và sắc mộc mạc đặc trưng. Ngược lại, Cảnh Đức Trấn khai thác cao lanh tinh khiết nung ở nhiệt độ cao trên 1300 độ C, mang lại chất sứ trắng ngà thấu quang cao cấp. Mỗi phong cách phản ánh rõ nét thẩm mỹ văn hóa của từng dân tộc.

2.2. Thách thức bảo tồn trước làn sóng công nghiệp hóa

Sự xuất hiện của công nghệ dập khuôn tự động và gốm sứ sản xuất hàng loạt đặt các làng nghề thủ công trước sức ép cạnh tranh khốc liệt. Nguồn nguyên liệu đất sét tự nhiên tại chỗ dần cạn kiệt buộc các cơ sở phải nhập nguyên liệu từ xa với chi phí tăng cao. Khí thải từ lò nung truyền thống gây ô nhiễm bầu không khí và môi trường sinh thái dân cư xung quanh. Hơn nữa, tình trạng thiếu hụt thế hệ thợ trẻ kế nghiệp làm gia tăng nguy cơ đứt gãy mạch truyền thừa kỹ năng tạo dáng và vẽ men bí truyền có lịch sử nhiều trăm năm.

III. Giải pháp phát triển gốm sứ Bát Tràng và Cảnh Đức Trấn bền vững

Luận văn đề xuất các nhóm giải pháp chiến lược nhằm chuyển đổi mô hình làng nghề truyền thống sang hướng kinh tế sáng tạo kết hợp du lịch trải nghiệm. Việc chuyển đổi từ lò than sang lò nung gas và lò điện tự động giúp giảm thiểu triệt để phát thải khí carbonic ra môi trường. Các cơ sở cần chủ động liên kết với viện nghiên cứu và trường đại học mỹ thuật để đào tạo bài bản nguồn nhân lực trẻ tài năng. Cảnh Đức Trấn là hình mẫu thành công khi xây dựng đại học chuyên ngành gốm sứ và thu hút hàng vạn nghệ sĩ quốc tế đến sáng tạo. Bát Tràng cần hoàn thiện hệ thống bảo tàng nghệ thuật gốm, khu trưng bày làng nghề và không gian trải nghiệm làm gốm tương tác cho khách du lịch quốc tế. Đồng thời, đăng ký nhãn hiệu tập thể, chỉ dẫn địa lý và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho các mẫu hoa văn độc quyền sẽ nâng cao giá trị gia tăng và vị thế cạnh tranh trên trường quốc tế.

3.1. Đào tạo nhân lực chất lượng cao và thu hút nhân tài

Kinh nghiệm từ Cảnh Đức Trấn cho thấy việc thành lập các trường đại học, viện nghiên cứu chuyên ngành đóng vai trò quyết định. Đô thị này sở hữu hơn 150 nghìn lao động ngành gốm cùng hàng chục nghệ nhân cấp quốc gia. Việc xây dựng chính sách ưu đãi lưu trú và không gian sáng tạo tự do đã thu hút hàng nghìn nghệ sĩ quốc tế. Làng Bát Tràng cần học hỏi mô hình này thông qua việc thiết lập các quỹ bảo trợ tài năng trẻ, hợp tác cùng các trường mỹ thuật công nghiệp và tổ chức các hội thảo tay nghề định kỳ nhằm chuyển giao kỹ thuật tinh hoa liên thế hệ.

3.2. Ứng dụng công nghệ xanh và phát triển du lịch trải nghiệm

Hiện đại hóa công nghệ lò nung thân thiện môi trường là bước đi tất yếu của các làng nghề hiện đại. Việc áp dụng công nghệ số vào khâu thiết kế 3D và quản lý bán hàng đa kênh giúp mở rộng thị trường tiêu thụ toàn cầu. Bên cạnh đó, mô hình du lịch di sản kết hợp trải nghiệm nặn gốm thủ công đem lại nguồn thu bền vững cho cư dân bản địa. Khách tham quan không chỉ mua sắm sản phẩm lưu niệm mà còn được hòa mình vào không gian văn hóa lịch sử độc đáo, góp phần lan tỏa niềm tự hào di sản đến cộng đồng.

IV. Kết luận và giá trị thực tiễn của luận văn gốm sứ Việt Trung

Luận văn thạc sĩ của học viên Liang Lun là công trình đối sánh công phu, đem lại nhiều đóng góp quý báu cho ngành Việt Nam học và nghiên cứu lịch sử thủ công mỹ nghệ Á Đông. Nghiên cứu đã hệ thống hóa điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái và tiến trình hình thành của hai trung tâm gốm sứ tiêu biểu Bát Tràng và Cảnh Đức Trấn. Kết quả phân tích khẳng định sự giao lưu văn hóa và ảnh hưởng qua lại giữa hai nền gốm sứ lớn trong lịch sử thương mại hàng hải phương Đông. Về mặt thực tiễn, luận văn cung cấp cơ sở khoa học tin cậy cho các nhà hoạch định chính sách tại Hà Nội trong việc quy hoạch bảo tồn làng nghề truyền thống Bát Tràng. Những bài học kinh nghiệm về đào tạo nhân tài, xây dựng thương hiệu đô thị gốm sứ và thu hút nghệ sĩ sáng tạo từ Cảnh Đức Trấn hoàn toàn có thể áp dụng linh hoạt vào thực tế Việt Nam nhằm phát triển nền kinh tế di sản văn hóa bền vững.

4.1. Đóng góp học thuật cho ngành Việt Nam học và văn hóa học

Công trình nghiên cứu mở ra phương pháp tiếp cận liên ngành giữa lịch sử, dân tộc học và kinh tế di sản. Luận văn làm sáng tỏ tiến trình biến đổi của gốm Bát Tràng trong bối cảnh thương mại quốc tế thời kỳ phong kiến, đặc biệt khi các chính sách cấm biển của triều đình Trung Hoa tạo điều kiện cho gốm Việt Nam vươn xa. Nguồn tư liệu phong phú cùng các phân tích so sánh đối sánh giúp bổ sung khoảng trống tri thức về mối liên hệ mỹ thuật gốm sứ khu vực, đồng thời cung cấp tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà nghiên cứu văn hóa.

4.2. Ứng dụng thực tiễn trong quy hoạch và bảo tồn di sản gốm

Những đề xuất trong luận văn mang tính ứng dụng thực tiễn cao cho công tác quản lý di sản tại địa phương. Việc xây dựng hệ sinh thái công nghiệp văn hóa gốm sứ lấy con người và nghệ nhân làm trung tâm là định hướng lâu dài. Các cấp chính quyền có thể vận dụng kinh nghiệm của Cảnh Đức Trấn để quy hoạch không gian nghệ thuật, tổ chức các festival gốm quốc tế thường niên tại Bát Tràng và mở rộng thị trường xuất khẩu. Mô hình này giúp bảo tồn nguyên vẹn giá trị di sản cổ truyền song song với phát triển kinh tế du lịch văn hóa thời kỳ mới.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Luận văn làng nghề gốm sứ việt nam và trung quốc trường hợp làng bát tràng hà nội việt nam và cảnh đức trấn giang tây trung quốc

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận tài liệu tham khảo và phần phụ lục, chính văn, luận văn có bố cục như sau: ƣơ 1 Điều kiện tự nhiên và lịch sử hình thành làng nghề gốm sứ Bát Tràng, Hà Nội, Việt Nam và Cảnh Đức Trấn, Giang Tây, Trung Quốc ƣơ 2 Thực trạng và xu hướng phát triển của làng nghề gốm sứ Bát Tràng, Hà Nội, Việt Nam và Cảnh Đức Trấn, Giang Tây, Trung Quốc ƣơ 3 Thách thức và Giải pháp đối với việc bảo tồn và phát triển bền vững làng nghề gốm sứ Bát Tràng, Hà Nội, Việt Nam và Cảnh Đức Trấn, Giang Tây, Trung Quốc 10 ƣơ 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH LÀNG NGHỀ GỐM SỨ BÁT TRÀNG, HÀ NỘI, VIỆT NAM VÀ CẢNH ĐỨC TRẤN, GIANG TÂY, TRUNG QUỐC 1. Đ ều kiện tự ê và mô trƣờng sinh thái của làng Bát Tràng, Hà Nội, Việt Nam và Cả Đức Trấn, Giang Tây, Trung Quốc 1. Điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái của làng Bát Tràng, Hà Nội, Việt Nam Vị trí địa lý Làng Bát Tràng nằm ở tả ngạn sông Hồng, thuộc xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng hơn 10km về phía Đông Nam, cạnh CT37 giao với CT04.

Vào năm 2009, Nghề gốm Bát Tràng đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa Việt Nam và được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.[34]Và ngày 20 tháng 12 năm 2019, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định số 4610/QĐ-BVHTTDL về việc công bố danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia: Nghề gốm làng Bát Tràng, xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.[37]Phía đông của làng giáp xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Phía tây giáp phường ĩnh Nam, quận Hoàng Mai (ranh giới là sông Hồng). Phía nam giáp xã Kim Lan và xã Xuân Quan, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Phía bắc giáp xã Đông Dư, huyện Gia Lâm, Hà Nội.

Theo số liệu mà chúng tôi thu thập được qua quá trình thực địa và từ trang du lịch của địa phương thì ―Xã Bát Tràng được chia thành 5 thôn: 1 Giang Cao, 2 Giang Cao, 3 Giang Cao, 1 làng cổ Bát Tràng, 2 Bát Tràng. Xã có diện tích 1,65 km², dân số năm 2022 là 8.868 người, mật độ dân số đạt 5.374 người/km².”[28] Giao thông 11 Bát Tràng toạ lạc ở một vị trí thuận lợi về đường bộ và đường thuỷ. Bát Tràng được kết nối với trung tâm Hà Nội thông qua các cây cầu lớn như cầu Thanh Trì, cầu Vĩnh Tuy và cầu Chương Dương. Từ Hà Nội đi về Gia Lâm khoảng 10 km.

Ngoài ra Bát Tràng còn có đường sông thuận lợi đó là dòng Sông Hồng và sông Bắc Hưng Hải chạy qua, tạo điều kiện cho việc giao thương và vận chuyển hàng hóa, đặc biệt là gốm sứ - sản phẩm đặc trưng của làng nghề. Trước đây, giao thông đường thủy đóng vai trò chủ đạo trong việc đưa nguyên vật liệu và sản phẩm đi khắp các tỉnh thành lân cận. Ngày nay, mặc dù giao thông đường bộ chiếm ưu thế, nhưng đường sông vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc vận chuyển khối lượng lớn hàng hóa. Hệ thống đường bộ nội bộ trong làng Bát Tràng chủ yếu là các tuyến đường nhỏ, phù hợp với xe máy, xe đạp và đi bộ, đảm bảo tính chất truyền thống và yên bình của làng nghề.

Tuy nhiên, để phục vụ du lịch ngày càng phát triển, một số tuyến đường đã được nâng cấp, mở rộng nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách. Ngoài ra, với sự phát triển của du lịch, các phương tiện công cộng như xe buýt (tuyến số 47 từ trung tâm Hà Nội) và xe điện nội làng cũng được triển khai để thuận tiện cho du khách tham quan. Điều này không chỉ giúp giảm áp lực giao thông mà còn góp phần bảo vệ môi trường trong khu vực làng nghề. Giao thông thuận lợi không chỉ giúp người dân Bát Tràng dễ dàng tiếp cận các khu vực lân cận mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực du lịch và thương mại gốm sứ, làm cho Bát Tràng trở thành một điểm đến văn hóa và kinh tế nổi bật của Hà Nội.

Khí hậu Khi nói về điều kiện tự nhiên chúng ta phải nói đến thời tiết, khí hậu của làng. Đây chính là yếu tố làm ảnh hưởng nhiều đến yếu tố văn hoá, đời sống và con người của làng. Bát Tràng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió 12 mùa, điển hình của miền Bắc Việt Nam, với bốn mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu, đông. Đồng thời, thời tiết tại đây có sự khác biệt rõ ràng giữa mùa nóng và mùa lạnh, do nằm khá sâu trong nội địa và gần như không có một vùng nước lớn nào giúp điều hoà khí hậu.

Mặc dù thời tiết được chia làm hai mùa chính là mùa mưa – từ tháng 4 tới tháng 10 – và mùa khô – từ tháng 11 tới tháng 3, nhưng vẫn được tận hưởng thời tiết bốn mùa nhờ các tháng giao mùa. Nhiệt độ trung bình mùa hạ của Bát tràng từ tháng 5 đến tháng 9 đều vượt 27 °C, nhiệt độ trung bình mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 không vượt quá 22 °C. ượng mưa trung bình hàng năm vào mức 1.[30]Sự biến đổi giữa các mùa có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và hoạt động sản xuất của người dân Bát Tràng. Địa hình, đất đai Bát Tràng nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, với địa hình bằng phẳng, độ cao trung bình không lớn.

Chính vì được bồi đắp bởi sông Hồng qua hàng nghìn năm, đất đai tại Bát Tràng giàu dinh dưỡng, phù hợp cho canh tác nông nghiệp trước đây. ớp đất phù sa này là loại đất sét màu trắng xám có độ dẻo, mịn, và độ chịu lửa cao, là nguồn nguyên liệu quan trọng phù hợp cho việc sản xuất gốm chất lượng cao, với đặc tính dễ tạo hình và chất lượng cao sau nung. Điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái của Cảnh Đức Trấn, Giang Tây, Trung Quốc. Vị trí địa lý Cảnh Đức Trấn là một thành phố cấp địa khu của tỉnh Giang Tây, Trung Quốc, nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Giang Tây, trong một vùng núi non, nối với bên ngoài nhờ một nhánh sông Trường Giang – Sông Xương Giang.

Sông Xương Giang chảy từ tỉnh Huy Châu vào hồ Bà Dương, hòa vào sông Trường Giang và chảy ra biển. 13 Cảnh Đức Trấn cách thành phố Nam Xương (Nanchang) – thủ phủ của tỉnh Giang Tây – khoảng 300 km về phía Đông Bắc. Phía Tây Bắc giáp huyện Đông Chí của tỉnh An Huy, phía Nam giáp huyện Vạn Niên, phía Tây giáp huyện Bà Dương, phía Đông Bắc giáp huyện Kỳ Môn, phía Đông Nam giáp huyện Vụ Nguyên. Cảnh Đức Trấn nằm trong Kinh độ đông 116°57′— 117°42′ và vĩ độ bắc 28°44′-29°56′, với tổng diện tích là 5256 km2.

Tính đến tháng 10 năm 2022, Cảnh Đức Trấn được chia ra làm 4 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm 2 quận, 1 thành phố cấp huyện và 1 huyện. Cảnh Đức Trấn, được mệnh danh là "thủ đô của gốm sứ" với lịch sử sản xuất gốm sứ hàng nghìn năm, là ―cái nôi của ngành công nghiệp máy bay trực thăng của Trung Quốc‖, là một trong những ―Thành phố lịch sử và văn hóa‖ đầu tiên được Quốc vụ viện Trung Quốc công bố, là ―thủ đô thủ công mỹ nghệ và nghệ thuật dân gian‖, là ―thành phố du lịch văn hóa quyến rũ nhất Trung Quốc‖ và ―thành phố thị mẫu xây dựng văn minh sinh thái quốc gia‖.[21] Giao thông Cảnh Đức Trấn có điều kiện giao thông thuận tiện: Về mặc đường thủy, dọc theo tuyến đường thủy Xương Giang, đi lên có thể đến Huyện Kỳ Môn, tỉnh An Huy, đi xuống là huyện Bà Dương, khi rễ vào hồ Bà Dương sẽ đến huyện Độc Xương, Thành phố ư Sơn và huyện Hồ Khẩu vv.Sau đó xuôi dọc theo sông Trường Giang có thể đến các thành phố lớn như Vũ Hán, Nam Kinh, Thượng Hải và và những nơi khác của lưu vực sông Trường Giang, cuối cùng chảy ra biển. Về mặc đường bộ và sân bay, tính đến năm 2024 Cảnh Đức Trấn đã có 04 tuyến đường cao tốc, 02 tuyến đường sắt tốc độ cao và 01 sân bay Cảnh Đức Trấn là một trong 100 sân bay khu vực quan trọng của Trung Quốc. Khí hậu 14 Cảnh Đức Trấn có khí hậu cận nhiệt đới gió mùa, có đủ ánh nắng, lượng mưa dồi dào, thời tiết ôn hòa, ẩm ướt và có 4 mùa rõ rệt.

Theo dữ liệu khí tượng mới nhất từ năm 1981 đến năm 2010, nhiệt độ trung bình ở khu vực thành thị Cảnh Đức Trấn trong những năm qua là 17,8°C, lượng mưa trung bình hàng năm là 1805 mm. Kể từ khi các ghi chép khí tượng bắt đầu, nhiệt độ cực cao nhất là 41,8°C (29 tháng 8 năm 1967) và nhiệt độ cực thấp nhất là -10,9°C (13 tháng 1 năm 1963). Khí hậu ở Cảnh Đức Trấn thay đổi vào mùa xuân, có khi lạnh, có khi ấm. Vào thời điểm giao mùa xuân hè, các luồng không khí ấm và lạnh thường hội tụ trên địa bàn, gây ra mưa liên tục vào mùa hè trước, lượng mưa tập trung và mưa lớn thường xuyên.

ượng mưa trung bình hàng năm vào tháng 5, tháng 6 và tháng 7 là 200 ~ 350 mm, dễ dẫn đến xảy ra lũ lụt, sau mùa mưa dầm hầu hết bị áp cao cận nhiệt đới khống chế, thời tiết nóng bức, độ ẩm cao khiến người dân cảm thấy oi bức, khó chịu; Vào mùa thu, nhiệt độ tương đối ôn hòa và ít mưa; Mùa đông thường chịu ảnh hưởng của áp cao lạnh Siberi (hoặc Mông Cổ), trong đó phổ biến là gió Bắc và thời tiết lạnh. Tài nguyên thiên nhiên Cảnh Đức Trấn thuộc địa hình đồi núi Giang Nam, cao bốn phía và thấp ở giữa, có hình dạng như một cái chậu. Khu vực này có những ngọn núi nhấp nhô và địa hình cao được bao quanh bởi các đỉnh núi; về phía đông nam là sườn phía bắc của núi Hoài Ngọc, với những ngọn núi uốn khúc và có độ cao chung là 250-400 mét. Đỉnh cao nhất là Ngũ Cổ Tiêm(Wu Gu Jian), nằm trên địa giới tỉnh giáp ranh với Hưu Ninh, An Huy, với độ cao 1.

Môi trường địa l đã mang lại nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú cho Cảnh Đức Trấn. Nó rất giàu đất sét sứ, than đá, vonfram, mangan, đồng, vàng nhôm, fluorit, lưu huỳnh, đá vôi, đá cẩm thạch, sepiolit, v. Đặc biệt, đất sét sứ có trữ lượng dồi dào và chất lượng tuyệt vời, tuy đã được khai thác 15 hơn nghìn năm nhưng trữ lượng đã được chứng minh hiện nay vẫn có thể khai thác được trong hơn 300 năm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ