Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, du lịch Việt Nam được định hướng phát triển bền vững dựa trên việc khai thác các giá trị tài nguyên tự nhiên và di sản văn hóa. Đối với tỉnh An Giang, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 1008/QĐ-UBND phê duyệt Quy hoạch tổng thể Phát triển ngành du lịch tỉnh An Giang giai đoạn 2014–2020 và tầm nhìn đến năm 2030, đặt mục tiêu đưa An Giang thành trung tâm du lịch của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Mặc dù sở hữu nguồn tài nguyên phong phú với hệ sinh thái đồi núi Bảy Núi, sông nước đầu nguồn và bản sắc văn hóa đa dân tộc, hoạt động du lịch tại địa phương vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Việc khai thác các giá trị đặc sản truyền thống (bao gồm ẩm thực và hàng thủ công mỹ nghệ) được tác giả xác định là giải pháp thiết thực nhằm gia tăng tính cạnh tranh và định vị thương hiệu điểm đến.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được phân định cụ thể như sau:

  1. Tìm hiểu các giá trị đặc sản ẩm thực và đặc sản thủ công mỹ nghệ truyền thống trên địa bàn tỉnh An Giang.
  2. Đánh giá thực trạng thuận lợi, khó khăn trong việc gắn kết các loại hình đặc sản này với hoạt động phát triển du lịch.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao giá trị đặc sản truyền thống và thúc đẩy phát triển du lịch An Giang theo hướng bền vững trong thời kỳ hội nhập.

Nhiệm vụ nghiên cứu được thực hiện theo chương trình đào tạo cử nhân ngành Việt Nam học, Khoa Quan hệ Quốc tế, Trường Đại học Sài Gòn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Giá trị của các đặc sản truyền thống (đặc sản ẩm thực và sản phẩm thủ công mỹ nghệ) tại tỉnh An Giang và mối quan hệ tương tác với hoạt động phát triển du lịch.
  • Khách thể nghiên cứu: Cộng đồng cư dân sở hữu di sản, chính quyền địa phương, các đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch và đội ngũ nghệ nhân tại các làng nghề truyền thống.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn 11 đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã, thành phố của tỉnh An Giang.
  • Phạm vi thời gian: Tổng hợp chuỗi dữ liệu trong vòng 10 năm trước thời điểm công bố, xây dựng định hướng giải pháp đến năm 2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập khung lý thuyết dựa trên các khái niệm học thuật và cơ sở văn bản pháp lý chuyên ngành:

  • Khái niệm giá trị: Tiếp cận theo định nghĩa của Phạm Lê Liên (2015) về lao động kết tinh tạo nên ích lợi của sản phẩm, và quan điểm của Trần Ngọc Thêm (2016) về tính chất tích cực của khách thể được chủ thể đánh giá trong bối cảnh không gian – thời gian cụ thể.
  • Khái niệm đặc sản và đặc sản truyền thống: Sử dụng khái niệm từ Ban biên soạn chuyên từ điển NEW ERA (2014) và định nghĩa của Phạm Lê Liên (2015) về sản vật đặc thù hình thành lâu đời, được truyền qua nhiều thế hệ.
  • Khái niệm văn hóa ẩm thực và thủ công mỹ nghệ: Tham chiếu công trình của Nguyễn Nguyệt Cầm (2008), Nguyễn Thị Diệu Thảo (2016) và các quy chế quản lý sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống.
  • Khái niệm du lịch và bảo tồn di sản: Dựa trên Luật Du lịch Việt Nam năm 2005, định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) và quan điểm của Hunziker & Krapf. Tác giả phân tích hai khuynh hướng bảo tồn: Bảo tồn nguyên vẹn (cố gắng giữ nguyên trạng, phục hồi nguyên gốc theo tiếp cận bảo tàng truyền thống) và Bảo tồn trên cơ sở kế thừa (tiếp cận của các học giả như Alfrey, Putnam, Ashworth, Boniface, Fowler, Prentice, xem di sản gắn liền với công nghiệp văn hóa và phát triển du lịch).

Phương pháp nghiên cứu được triển khai kết hợp giữa nghiên cứu bàn giấy và khảo sát thực địa:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, phân tích các tài liệu thứ cấp từ sách chuyên khảo về văn hóa, lịch sử (Đại Nam nhất thống chí), tài liệu du lịch vùng Đồng bằng sông Cửu Long và các chủ trương, nghị quyết của Đảng, Nhà nước.
  • Phương pháp điều tra chọn mẫu: Thiết kế phiếu khảo sát kết hợp điều tra trực tiếp và trực tuyến đối với du khách đã đến hoặc quan tâm đến du lịch An Giang, làm cơ sở thống kê mức độ nhận biết và hành vi tiêu dùng đặc sản.
  • Phương pháp quan sát và thu thập thông tin: Khảo sát quy trình sản xuất tại các cơ sở làm nghề truyền thống và quan sát thực địa hoạt động kinh doanh ẩm thực, bán hàng lưu niệm.
  • Phương pháp thống kê, phân loại: Xử lý dữ liệu định lượng phục vụ việc lập biểu đồ khảo sát và phân nhóm các loại hình đặc sản.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về vai trò của văn hóa và đặc sản trong phát triển du lịch, đồng thời phác thảo bức tranh tổng quan về điều kiện tự nhiên, lịch sử và nhân văn của tỉnh An Giang.

Về lịch sử hình thành, vùng đất An Giang xưa thuộc đất Tầm Phong Long của Chân Lạp, được sáp nhập vào lãnh thổ xứ Đàng Trong năm 1757 dưới thời chúa Nguyễn. Năm Minh Mạng thứ 13 (1832), tỉnh An Giang chính thức được thành lập gồm 2 phủ (Tuy Biên, Tân Thành) và 4 huyện. Qua các giai đoạn lịch sử thời Pháp thuộc và sau năm 1975, địa giới hành chính được tái lập và ổn định với 11 đơn vị hành chính trực thuộc như hiện nay:

STT Đơn vị hành chính Dân số (người) Đơn vị trực thuộc
1 Thành phố Long Xuyên 253.048 11 phường, 2 xã
2 Thành phố Châu Đốc 157.298 5 phường, 2 xã
3 Thị xã Tân Châu 172.088 5 phường, 9 xã
4 Huyện An Phú 191.328 2 thị trấn, 12 xã
5 Huyện Châu Phú 250.567 1 thị trấn, 12 xã
6 Huyện Châu Thành 171.480 1 thị trấn, 12 xã
7 Huyện Chợ Mới 362.772 2 thị trấn, 16 xã
8 Huyện Phú Tân 212.180 2 thị trấn, 16 xã
9 Huyện Thoại Sơn 180.991 3 thị trấn, 14 xã
10 Huyện Tịnh Biên 121.145 3 thị trấn, 11 xã
11 Huyện Tri Tôn 127.426 2 thị trấn, 13 xã

Về tài nguyên thiên nhiên, An Giang có diện tích 3.536,7 km², trong đó hơn 72% là đất phù sa. Tỉnh sở hữu 37 ngọn núi với cụm Thất Sơn nổi tiếng (Núi Cấm, Núi Dài Năm Giếng, Núi Két, Núi Cô Tô, Núi Dài, Núi Tượng, Núi Nước), hệ thống hồ cảnh quan tự nhiên và thủy lợi (hồ Tà Pạ, Thủy Liêm, Thanh Long, Ô Tức Sa, Soài So, Ô Tà Sóc, Ô Thum, Soài Chek), cùng 16.868 ha đất lâm nghiệp (tiêu biểu là Rừng tràm Trà Sư với 140 loài thực vật, 11 loài thú, 23 loài cá, 70 loài chim). Vùng đồi núi Tri Tôn và Tịnh Biên sở hữu các giống cây đặc sản bản địa như cây chúc và cây thốt nốt.

Về tài nguyên nhân văn, An Giang là địa bàn sinh sống của 4 dân tộc chính (Kinh, Khmer, Chăm, Hoa) với 9 tôn giáo được công nhận, đồng thời là nơi khởi nguồn của 3 tôn giáo nội sinh: Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa và Phật giáo Hòa Hảo. Tỉnh có hệ thống di tích phong phú (Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam, tượng Phật Di Lặc trên đỉnh Núi Cấm, Chùa Tây An, Di chỉ Óc Eo, Đồi Tức Dụp) và các lễ hội truyền thống tiêu biểu:

Tên lễ hội Địa điểm Thời gian Đối tượng suy tôn / Đặc điểm
Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam, TP. Châu Đốc 23/4 – 27/4 âm lịch Suy tôn Bà Chúa Xứ; nghi thức lễ tắm Bà
Lễ hội Thoại Ngọc Hầu Huyện Thoại Sơn 10/3 – 12/3 âm lịch Tưởng niệm công đức Thoại Ngọc Hầu
Lễ Sen Đôlta và Hội đua bò Huyện Tri Tôn, Tịnh Biên 29/8 – 1/9 âm lịch Lễ cúng ông bà của người Khmer; hội đua bò Bảy Núi
Lễ hội Hát Gi (Roya Hadji) Huyện An Phú, Tân Châu, Phú Tân 7/10 – 10/12 Hồi lịch Lễ mừng năm mới, thi đọc kinh Coran, đua ghe của người Chăm
Lễ hội Miếu Bà Bằng Lang Xã Phú Lâm, huyện Phú Tân 15/3 – 16/3 âm lịch Dâng lễ Vía Bà Thượng Động Cố Hỷ, hát bội
Lễ hội Đình Châu Phú Phường Châu Phú A, TP. Châu Đốc 9/5 – 11/5 âm lịch Tôn vinh Nguyễn Hữu Cảnh; lễ kỳ yên, hát bội

Toàn tỉnh có 34 làng nghề tiểu thủ công nghiệp (26 làng nghề đã được UBND tỉnh công nhận, 14 làng nghề có tuổi đời trên 50 năm). Trong đó có 6 điểm làng nghề liên kết trực tiếp với các tour tuyến du lịch: dệt lụa gấm Mỹ A (Tân Châu), dệt thổ cẩm Chăm Châu Phong (Tân Châu), dệt thổ cẩm Khmer Văn Giáo (Tịnh Biên), làm đường thốt nốt An Phú (Tịnh Biên), mộc Chợ Thủ (Chợ Mới), làm bánh tráng Mỹ Khánh và làm nhang Bình Đức (TP. Long Xuyên).

Chương 2: Bảo tồn và phát huy giá trị đặc sản truyền thống ở tỉnh An Giang gắn với phát triển du lịch

Chương 2 tập trung phân tích sâu các nhóm đặc sản truyền thống và đánh giá thực trạng khai thác phục vụ du lịch:

  • Đặc sản ẩm thực: Hình thành dựa trên lợi thế hệ sinh thái sông nước mùa nước nổi và sự giao thoa văn hóa giữa các tộc người. Tác giả phân tích các món ăn đặc trưng từ cá tôm tự nhiên, rau đồng, các sản phẩm chế biến từ cây chúc (gà hấp lá chúc, chanh chúc) và thốt nốt (bánh bò thốt nốt, chè thốt nốt, nước thốt nốt). Văn hóa ẩm thực phản ánh sự thích ứng linh hoạt của cư dân Nam Bộ trong quá trình khai hoang mở cõi.
  • Đặc sản thủ công mỹ nghệ: Bao gồm các sản phẩm có tính nghệ thuật và giá trị sử dụng cao như vải lụa tơ tằm Tân Châu nhuộm mặc nưa, thổ cẩm hoa văn truyền thống của đồng bào Chăm và Khmer, hàng thủ công mỹ nghệ từ cây thốt nốt, mộc chạm khắc Chợ Thủ.
  • Thực trạng khai thác và kết quả khảo sát: Qua 8 biểu đồ khảo sát du khách, tác giả chỉ ra rằng ẩm thực mùa nước nổi và các món ăn đặc trưng vùng miền là yếu tố gây ấn tượng mạnh đối với khách du lịch. Tuy nhiên, mức độ mua sắm hàng thủ công mỹ nghệ làm quà lưu niệm còn hạn chế do mẫu mã chưa đa dạng, bao bì đóng gói thiếu tính tiện dụng cho việc vận chuyển xa, và hoạt động giới thiệu sản phẩm chưa gắn kết đồng bộ tại các điểm tham quan.

Chương 3: Giải pháp khai thác hiệu quả các giá trị đặc sản truyền thống ở tỉnh An Giang

Chương 3 đề xuất định hướng và các giải pháp can thiệp cụ thể dựa trên việc đánh giá tiềm năng về cơ chế chính sách, giá trị kinh tế – văn hóa và bảo tồn sản vật:

  1. Nhóm giải pháp đối với đặc sản ẩm thực:

    • Giải pháp trước mắt: Tăng cường kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) tại các cơ sở chế biến và điểm kinh doanh ăn uống du lịch; chuẩn hóa quy trình phục vụ và niêm yết giá công khai; đưa ẩm thực đặc trưng vào các sự kiện lễ hội lớn của tỉnh.
    • Giải pháp dài hạn: Xây dựng và bảo hộ thương hiệu chỉ dẫn địa lý cho các nông sản, đặc sản thế mạnh (trái chúc Bảy Núi, đường thốt nốt); phát triển các tuyến du lịch trải nghiệm ẩm thực nông nghiệp và ẩm thực mùa nước nổi gắn với cộng đồng.
  2. Nhóm giải pháp đối với đặc sản thủ công mỹ nghệ:

    • Giải pháp trước mắt: Hỗ trợ vốn và chính sách cho các nghệ nhân duy trì khung dệt và xưởng mộc; thiết kế các sản phẩm quà lưu niệm tinh gọn, mang biểu trưng văn hóa An Giang để phục vụ du khách tại các quầy hàng lưu niệm ở Núi Sam, Núi Cấm.
    • Giải pháp dài hạn: Quy hoạch hạ tầng không gian làng nghề kết hợp mô hình du lịch trải nghiệm (du khách tham gia dệt thổ cẩm Châu Phong, làm bánh tráng Mỹ Khánh, nấu đường thốt nốt); mở lớp đào tạo nghề cho thế hệ trẻ người Chăm, Khmer nhằm tránh nguy cơ mai một kỹ nghệ truyền thống; liên kết chặt chẽ giữa các công ty lữ hành và cơ sở sản xuất làng nghề.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể gắn liền với dữ liệu thực tế:

  • Tổng hợp đầy đủ hệ thống dữ liệu hành chính (11 đơn vị cấp huyện, 156 xã/phường/thị trấn), cơ cấu dân cư (28 dân tộc thiểu số, trong đó người Khmer chiếm 75,54%, Chăm chiếm 12%, Hoa chiếm 12,5% tổng số đồng bào dân tộc thiểu số) và tài nguyên du lịch sinh thái – nhân văn của tỉnh An Giang.
  • Thống kê chi tiết 34 làng nghề tiểu thủ công nghiệp (26 làng nghề được công nhận chính thức, 14 làng nghề tồn tại trên 50 năm) và xác định 6 điểm làng nghề trọng điểm đã hình thành liên kết phục vụ du lịch.
  • Khảo sát thực chứng nhu cầu, thị hiếu và mức độ sẵn sàng chi trả của du khách thông qua chuỗi 8 biểu đồ dữ liệu về sản phẩm đặc sản và giải pháp phát triển.
  • Xây dựng hệ thống giải pháp phân kỳ (trước mắt và dài hạn) riêng biệt cho hai nhóm sản phẩm: đặc sản ẩm thực và sản phẩm thủ công mỹ nghệ.

Về mặt đóng góp khoa học, đề tài góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa bảo tồn di sản văn hóa với kinh tế du lịch tại địa bàn đa dân tộc thuộc vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ cụ thể cho các cơ quan quản lý du lịch và doanh nghiệp lữ hành tại địa phương trong việc xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số giới hạn do điều kiện nghiên cứu của tác giả:

  • Hạn chế: Công trình được hoàn thành ở cấp độ khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Việt Nam học; tác giả tự nhìn nhận kiến thức thực tế và kinh nghiệm khảo sát chuyên sâu còn có những điểm hạn chế nhất định. Mẫu khảo sát du khách chủ yếu tập trung vào đối tượng du khách nội địa, chưa mở rộng phân tích sâu nhóm khách quốc tế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng của từng sản phẩm làng nghề cụ thể; khảo sát chuyên sâu thị hiếu tiêu dùng của thị trường khách quốc tế đối với các sản phẩm thủ công mỹ nghệ Chăm và Khmer tại An Giang.

Giá trị tham khảo

Công trình là nguồn tư liệu hữu ích cho các đối tượng sau:

  • Sinh viên và giảng viên: Phục vụ học tập, nghiên cứu trong các chuyên ngành Việt Nam học, Du lịch học, Văn hóa học, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành.
  • Cơ quan quản lý và doanh nghiệp lữ hành: Tham khảo số liệu tổng quan về hệ thống làng nghề, danh mục lễ hội, tài nguyên sinh thái đồi núi – ngập nước phục vụ công tác quy hoạch tuyến điểm và xây dựng tour du lịch trải nghiệm văn hóa bản địa An Giang.
  • Người làm nghiên cứu về Đồng bằng sông Cửu Long: Cung cấp tài liệu tham khảo về phương pháp phân loại đặc sản ẩm thực và tiểu thủ công mỹ nghệ trong mối liên hệ với văn hóa các tộc người Kinh, Khmer, Chăm, Hoa.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỉnh An Giang có bao nhiêu đơn vị hành chính và đặc điểm địa hình tự nhiên có gì đặc biệt so với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long?
Tỉnh An Giang có 11 đơn vị hành chính trực thuộc (gồm 2 thành phố: Long Xuyên, Châu Đốc; 1 thị xã: Tân Châu; 8 huyện: An Phú, Châu Phú, Châu Thành, Chợ Mới, Phú Tân, Thoại Sơn, Tịnh Biên, Tri Tôn). Khác với phần lớn các tỉnh đồng bằng thuần túy, An Giang sở hữu địa hình bán sơn địa với 37 ngọn núi, nổi bật là vùng Thất Sơn huyền bí và 2 huyện miền núi Tri Tôn, Tịnh Biên, tạo nên hệ sinh thái kết hợp giữa đồi núi, rừng tràm và đồng bằng phù sa.

2. Cơ cấu các dân tộc thiểu số tại An Giang được ghi nhận trong khóa luận như thế nào?
Toàn tỉnh có 28 dân tộc thiểu số với 119.219 người (chiếm 5,26% dân số). Trong đó, dân tộc Khmer đông nhất với 18.592 hộ (khoảng 80.000 người, chiếm 75,54% tổng số người dân tộc thiểu số), tập trung chủ yếu ở Tri Tôn và Tịnh Biên; dân tộc Chăm có 2.722 người (chiếm gần 12% DTTS), tập trung ở An Phú và Tân Châu; dân tộc Hoa có 2.318 người (chiếm 12,50% DTTS), sinh sống tập trung tại các đô thị.

3. Hiện nay tỉnh An Giang có bao nhiêu làng nghề và những điểm nào đã kết nối với tour tuyến du lịch?
Tỉnh có 34 làng nghề tiểu thủ công nghiệp, trong đó 26 làng nghề đã được UBND tỉnh công nhận và 14 làng nghề có tuổi đời trên 50 năm. Có 6 điểm làng nghề tiêu biểu đã liên kết phục vụ du lịch gồm: dệt lụa gấm Mỹ A (TX. Tân Châu), dệt thổ cẩm Chăm Châu Phong (TX. Tân Châu), dệt thổ cẩm Khmer Văn Giáo/An Hảo (H. Tịnh Biên), nấu đường thốt nốt An Phú (H. Tịnh Biên), mộc Chợ Thủ (H. Chợ Mới), làng nhang Bình Đức và bánh tráng Mỹ Khánh (TP. Long Xuyên).

4. Những giống cây đặc sản bản địa nào tại vùng Bảy Núi được phân tích trong nghiên cứu?
Khóa luận làm rõ hai loài cây đặc sản tiêu biểu vùng Bảy Núi (Tri Tôn và Tịnh Biên) là cây chúc (loài cùng họ với chanh, trồng 5–8 năm mới cho quả, ra trái vào mùa mưa, quả và lá có tinh dầu thơm đặc trưng dùng trong ẩm thực) và cây thốt nốt (thuộc họ cọ, cung cấp nước giải khát, cơm thốt nốt và nguyên liệu nấu đường thốt nốt truyền thống).

5. Các giải pháp trước mắt được tác giả đề xuất để nâng cao giá trị đặc sản An Giang là gì?
Các giải pháp trước mắt bao gồm: siết chặt kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm và niêm yết giá tại các điểm ăn uống mùa nước nổi; hỗ trợ kinh phí duy trì khung dệt và cơ sở sản xuất của các nghệ nhân làng nghề; cải tiến bao bì, thiết kế các sản phẩm quà lưu niệm nhỏ gọn mang nét đặc trưng văn hóa để bày bán tại các khu di tích lớn như Núi Sam và Núi Cấm.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Trương Trung Tín đã hoàn thành việc hệ thống hóa cơ sở lý luận và khảo sát toàn diện thực trạng các giá trị đặc sản ẩm thực cùng thủ công mỹ nghệ tại tỉnh An Giang. Công trình cung cấp bức tranh dữ liệu cụ thể về tài nguyên tự nhiên, di tích, lễ hội và mạng lưới làng nghề truyền thống gắn với cộng đồng 4 dân tộc Kinh, Khmer, Chăm, Hoa. Các giải pháp được đề xuất mang tính phân kỳ rõ ràng, đóng góp nguồn tư liệu tham khảo thiết thực cho công tác bảo tồn văn hóa và phát triển ngành du lịch địa phương.