CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ ĐẾN HOẠT ĐỘNG DU LỊCH 1. TỶ GIÁ Giữa bối cảnh hoạt động kinh doanh quốc tế diễn ra ngày càng sôi nổi, các giao dịch, trao đổi thực hiện giữa các quốc gia ngày càng lớn, việc sử dụng đồng tiền nào trong thanh toán sẽ ảnh hưởng tới chính các doanh nghiệp cũng như các quốc gia trong mối quan hệ mua bán này, và hoạt động du lịch cũng không ngoại lệ. Tỷ giá là một trong những yếu tố kinh tế quan trọng, cơ bản, được đặt trong nhiều mối quan hệ với những yếu tố khác để xác định tầm ảnh hưởng giữa chúng. Việc sử dụng tỷ giá trong các giao dịch quốc tế là tất yếu.
Vậy tỷ giá là gì, những yếu tố nào quyết định tỷ giá và tỷ giá ảnh hưởng như thế nào tới kinh tế nói chung và du lịch nói riêng? 1. Khái niệm tỷ giá Tỷ giá có nhiều khái niệm được hình thành theo quan điểm của mỗi tác giả. Một trong những định nghĩa nổi tiếng nhất có thể kể đến của Samuelson – nhà kinh tế học người Mĩ về tỷ giá như sau: “Tỷ giá hối đoái là tỷ giá để đổi tiền của một quốc gia lấy tiền của một quốc gia khác”. Ở Việt Nam, Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010 chỉ rõ: “Tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam”.
Trong các giao dịch trên thế giới, USD là đồng tiền chiếm tỷ lệ lớn nhất. Với tính tương đối ổn định, các quốc gia đều coi USD như một tài sản dự trữ quan trọng. Hơn thế nữa, việc USD được chấp nhận dùng để thanh toán khiến cho đồng tiền này càng được sử dụng nhiều hơn, và đối với hoạt động du lịch cũng vậy. Khách du lịch có thể dễ dàng đổi từ đồng nội tệ của nước mình sang USD và sử dụng USD là đồng tiền thanh toán khi tới du lịch các nước khác.
Như vậy, để phục vụ cho mục đích nghiên cứu tác động của tỷ giá tới du lịch của Việt Nam, trong bài viết này, em sử dụng khái niệm: “Tỷ giá là giá cả của một 9 đồng tiền được biểu thị theo đồng tiền khác”. Trong bài quy ước là giá cả của một đồng nội tệ của một quốc gia được biểu thị theo USD (USD là đồng tiền định giá). Vai trò của tỷ giá đối với nền kinh tế là rất quan trọng. Thông qua công cụ tỷ giá, Chính phủ các nước sẽ điều chỉnh chính sách nhằm duy trì một mức tỷ giá phù hợp, giảm sốc cho nền kinh tế trước những biến động hay thúc đẩy nền kinh tế trong những trường hợp cần thiết.
Xuất phát từ định nghĩa, tỷ giá là giá cả của một đồng tiền được biểu thị bằng một đồng tiền khác, ta có thể nhìn vào tỷ giá để xác định được sức mua giữa các đồng tiền, đồng tiền nào đang mạnh, đang lên giá, đồng tiền nào đang bị giảm giá hay có xu hướng bị phá giá trầm trọng. Với cùng một loại mặt hàng ở hai nước khác nhau, giá cả của hàng hoá trong nước là đắt hơn hay rẻ hơn so với nước ngoài. Một trong những hoạt động quốc tế bị ảnh hưởng trực tiếp từ sự thay đổi của tỷ giá đó là hoạt động xuất nhập khẩu. Các doanh nghiệp khi tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu phải chịu nhiều rủi ro, trong đó có rủi ro tỷ giá.
Tỷ giá thay đổi có thể cải thiện sức cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu trên thị trường quốc tế khi tỉ giá biến động làm hàng hoá xuất khẩu trở nên rẻ hơn hoặc cũng có thể làm xói mòn sức cạnh tranh trong trường hợp hàng hoá có thể sẽ đắt hơn, người dân sẽ lựa chọn sản phẩm trong nước thay vì sản phẩm nhập khẩu. Chính vì ảnh hưởng tới hoạt động xuất nhập khẩu nên tỷ giá ảnh hưởng liên quan đến tăng trưởng của nền kinh tế. Với vai trò quan trọng như vậy, tỷ giá trở thành yếu tố kinh tế được quan tâm, phân tích và tính toán, các chính sách về tỷ giá được xem xét và cân nhắc một cách kĩ lưỡng, đòi hỏi các nhà lãnh đạo, nhà kinh tế, các doanh nghiệp cần phải theo sát để có những chuyển hướng kịp thời, tránh những ảnh hưởng tiêu cực có thể xảy ra đối với nền kinh tế. Phân loại Tuỳ theo từng tiêu chí mà tỷ giá được phân loại theo những cách khác nhau như căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, cơ chế điều hành chính sách tỷ giá hay căn cứ vào tính chất tác động đến thương mại quốc tế.
Căn cứ nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, ta có: - Tỷ giá mua vào - Bid Rate: Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng mua vào đồng tiền yết giá; 10 - Tỷ giá bán ra - Ask (or Offer) Rate: Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng bán ra đồng tiền yết giá; - Tỷ giá giao ngay - Spot rate: Là tỷ giá được thỏa thuận hôm nay, nhưng việc thanh toán xảy ra trong vòng hai ngày làm việc tiếp theo (nếu không có thỏa thuận khác thì thường là ngày làm việc thứ hai); - Tỷ giá kỳ hạn - Forward Rate: Là tỷ giá được thỏa thuận ngày hôm nay, nhưng việc thanh toán xảy ra sau đó từ ba ngày làm việc trở lên; - Tỷ giá mở cửa - Opening Rate: Là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng giao dịch đầu tiên trong ngày; - Tỷ giá đóng cửa - Closing Rate: Là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng cuối cùng được giao dịch trong ngày; - Tỷ giá chéo - Crosed Rate: Là tỷ giá giữa hai đồng tiền được suy ra từ đồng tiền thứ ba (còn gọi là đồng tiền trung gian); - Tỷ giá chuyển khoản - Transfer Rate: Tỷ giá chuyển khoản áp dụng cho các giao dịch mua bán ngoại tệ là các khoản tiền gửi tại ngân hàng; - Tỷ giá tiền mặt - Bank Note Rate: Tỷ giá tiền mặt áp dụng cho ngoại tệ tiền kim loại, tiền giấy, séc du lịch và thẻ tín dụng. Thông thường, tỷ giá mua tiền mặt thấp hơn và tỷ giá bán tiền mặt cao hơn so với tỷ giá chuyển khoản. Căn cứ cơ chế điều hành chính sách tỷ giá, ta có: - Tỷ giá chính thức - Official Rate (Ở Việt Nam ngày nay là tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng): Là tỷ giá do NHTW công bố, nó phản ánh chính thức về giá trị đối ngoại của đồng nội tệ. Tỷ giá chính thức được áp dụng để tính thuế xuất nhập khẩu và một số hoạt động khác liên quan đến tỷ giá chính thức; - Tỷ giá chợ đen - Black Market Rate: Là tỷ giá được hình thành bên ngoài hệ thống ngân hàng, do quan hệ cung cầu trên thị trường chợ đen quyết định; - Tỷ giá cố định - Fixed Rate: Là tỷ giá do NHTW công bố cố định trong một biên độ giao động hẹp.
Dưới áp lực cung cầu của thị trường, để duy trì tỷ giá cố định, buộc NHTW phải thường xuyên can thiệp, do đó làm cho dự trữ ngoại hối quốc gia thay đổi; 11 - Tỷ giá thả nổi hoàn toàn - Freely Floating Rate: Là tỷ giá được hình thành hoàn toàn theo quan hệ cung cầu trên thị trường, NHTW không hề can thiệp; - Tỷ giá thả nổi có điều tiết - Managed Floating Rate: Là tỷ giá được thả nổi, nhưng NHTW tiến hành can thiệp để tỷ giá biến động theo hướng có lợi cho nền kinh tế. Trong nội dung nghiên cứu của đề tài liên quan đến du lịch quốc tế, em xin đề cập tới phương pháp phân loại thứ ba là dựa vào tính chất tác động tới thương mại quốc tế. Theo cách phân loại này, tỷ giá hối đoái bao gồm: - Tỷ giá danh nghĩa song phương (Bilateral Nominal Exchange Rate NER): là con số tuyệt đối thể hiện sự trao đổi giữa hai đồng tiền, không có sự điều chỉnh cũng như đề cập đến tương quan sức mua hàng hoá và dịch vụ giữa chúng. Hiểu đơn giản, tỷ giá danh nghĩa song phương là tỷ lệ trao đổi giữa hai đồng tiền, khi tỷ giá tăng, đồng tiền yết giá lên giá do một đồng tiền này đổi được nhiều đồng tiền định giá hơn, ngược lại, khi tỷ giá giảm, đồng tiền yết giá lại bị giảm giá và đồng tiền định giá lên giá.
- Tỷ giá danh nghĩa đa phương (Nominal Effective Exchange Rate NEER): Là chỉ số tỷ giá trung bình của một đồng tiền so với những đồng tiền còn lại và cũng chưa đề cập đến tương quan sức mua giữa đồng tiền nội tệ và đồng tiền của các nước trong rổ tiền tệ. Do trên thế giới, các quốc gia không chỉ thực hiện giao dịch với một quốc gia khác mà với rất nhiều các quốc gia, chính vì vậy, đồng tiền trao đổi cũng rất lớn. Trong thời điểm này, đồng tiền nội tệ trở nên mạnh hơn so với đồng tiền này, nhưng lại có thể là yếu hơn so với đồng tiền khác. Để đánh giá một cách tổng thể xem đồng tiền này lên giá hay giảm giá theo thời gian thì cần đánh giá tương quan cùng lúc với nhiều đồng tiền, và công cụ cần sử dụng đó là tỷ giá đa phương.
Tuy nhiên, chính vì mang tính danh nghĩa, nên khi quan sát ảnh hưởng của tỷ giá đến thương mại quốc tế, các nhà kinh tế thường sử dụng tỷ giá thực. Vì sự thay đổi của tỷ giá danh nghĩa không nhất thiết gây ảnh hưởng tới nền kinh tế. Tỷ giá thực cũng có 2 loại là tỷ giá thực song phương và đa phương. 12 - Tỷ giá thực song phương (Bilateral Real Exchange Rate RER): Tỷ giá thực bằng tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát giữa trong nước với nước ngoài, do đó, nó là chỉ số phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ.
- Tỷ giá thực đa phương (Real Effective Exchange Rate REER): bằng tỷ giá danh nghĩa đa phương đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ở trong nước với tất cả các nước còn lại, do đó nó phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ với tất cả các đồng tiền còn lại. Khi phân tích ảnh hưởng của tỷ giá tới thương mại quốc tế, các tỷ giá thường được phân tích ở trạng thái động, vì ở trạng thái tĩnh, tại một thời điểm, chỉ xem xét được là vị thế cạnh tranh cao hơn hay thấp hơn. Theo thời gian, trạng thái động cho biết tỷ giá tăng hay giảm sẽ cải thiện hay là sói mòn sức cạnh tranh của một quốc gia.