Mở đầu Phần 2: Tổng quan tài liệu nghiên cứu Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Phần 5: Kết luận và kiến nghị Luan van 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.Về cơ sở lý luận 2. Khái niệm cộng đồng Cộng đồng hiện là khái niệm về tổ chức xã hội được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra trong các công trình khoa học với nhiều định nghĩa khác nhau. Theo từ điển bách khoa VN, cộng đồng sẽ được hiểu là một tập đoàn người rộng lớn, cộng đồng có những dấu hiệu chung như về thành phần giai cấp, về nghề nghiệp, và địa điểm cư trú. Có những cộng đồng xã hội mà bao gồm một dòng giống, một dân tộc, và một sắc tộc.
Theo nghiên cứu Bùi Hải Yến trong cuốn nghiên cứu phát triển du lịch cộng đồng, cộng đồng hiện được hiểu là một nhóm dân cư hiện cùng sinh sống trong một lãnh thổ nhất định và được gọi tên như: làng, xã,… họ có những dấu hiệu chung như về thành phần giai cấp, về truyền thống văn hóa, về đặc điểm kinh tế. Theo nghiên cứu của Phạm Trung Lương, cộng đồng những người sống chung trong một thôn xóm, làng, xã, quốc gia,… họ cùng chia sẻ với nhau mảnh đất sinh sống gọi là cộng đồng. Cộng đồng là những người không sống chung nhưng lại có những sở thích, nhu cầu chung được coi là cộng đồng tính. Như vậy tùy theo những góc độ nghiên cứu khác nhau các tác giả lại có một định nghĩa khác nhau về cộng đồng, nhưng nói tóm lại cộng đồng được hình thành bởi ba nhân tố chính là yếu tố kinh tế, văn hoá và khu vực lưu trú.
Đồng thời cộng đồng mang những đặc điểm sau: Cùng chung sống trên một phạm vi lãnh thổ, có chung văn hoá, phong tục tập quán, quan điểm chính trị, tôn giáo,… và cùng chia sẻ lợi ích chung. Bản chất và phân loại cộng đồng *Bản chất của cộng đồng được nhìn nhận qua ba phương diện sau: - Phương diện đoàn kết xã hội: Đoàn kết xã hội là một trong những đặc tính đứng đầu được quan niệm như là một ý chí và tình cảm chung do vậy quá trình cùng chung sống của cộng đồng có những mối quan hệ, mặt huyết tộc, quan hệ láng giềng. - Phương diện tương quan xã hội: Cộng đồng sẽ được coi như một tiến trình xã hội, là một trong những hình thức tương quan giữa người với người để có tính cách kết hợp, và theo đó con người sẽ được gần nhau và sẽ phối hợp chặt chẽ với nhau hơn. Đó hiện không phải là một thái độ hay là một ý tưởng về đoàn kết, mà đó là sự đoàn kết và được thực hiện nay trong phạm vi của thực hành các chuẩn mực và khuôn mẫu về văn hoá trong đời sống hàng ngày.
- Phương diện cơ cấu xã hội: Cộng đồng được hiểu như một cơ cấu xã hội, là một đoàn thể mà con người có những giá trị, chuẩn mực, và các khuôn mẫu với các tương quan về xã hội và vai trò được các tổ chức thành cơ cấu. Điều này hiện đang phù hợp với những định nghĩa tổng quát về một xã hội coi cộng đồng như một tập thể con người họ có tương quan hỗ trợ với nhau. Không có được giá trị chung nghĩa là không có một số định hướng để có thể quy tụ với nhau và thậm chí có nơi hiện lại không có cả những quy tắc ứng xử quy định về các hành vi ứng xử của các thành viên trong cộng đồng thì sẽ không có cơ sở cho sự hình thành cộng đồng. *Phân loại cộng đồng: - Cộng đồng về địa lý: Bao gồm người dân hiện cư trú trong cùng một địa bàn và có thể có chung những đặc điểm về văn hóa xã hội và có những mối quan hệ hiện ràng buộc lẫn nhau.
Ví dụ: Cộng đồng người Thái ở Mường Giàng, Cộng đồng người Khánh ở Cà Nàng , cộng đồng người Mông ở Đồng Văn Hà Giàng,… - Cộng đồng về chức năng: Bao gồm những cá thể mà có thể cư trú gần nhau hoặc cư trú không gần nhau nhưng lại có chung lợi ích. Họ sẽ liên kết với Luan van 6 nhau trên cơ sở nghề nghiệp, cơ sở sở thích, học hợp tác hay hiệp hội tổ chức. Ví dụ: Cộng đồng kinh tế Châu Âu, cộng đồng du học sinh Việt Nam tại Nhật Bản,… 2. Dân tộc thiểu số 2.Khái niệm dân tộc thiểu số DTTS là khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến hiện nay với nhiều định nghĩa khác nhau.
Theo đại từ điển tiếng Việt, DTTS là dân tộc có số dân ít, cư trú trong cộng đồng quốc gia nhiều dân tộc (có một dân tộc đa số) sống ở vùng hẻo lánh, ngoại vi, vùng ít phát triển về kinh tế xã hội. Theo nghị định 05/2011/NĐ của chính phủ về công tác dân tộc thì khái niệm DTTS được định nghĩa như sau, DTTS là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Ở nước ta, DTTS được xác định là những người có quốc tịch, sinh sống tại nước ta nhưng có những khác biệt nhất định về ngôn ngữ, phong tục tập quán và các đặc thù văn hoá với dân tộc kinh.Đặc trưng cơ bản của các dân tộc thiểu số ở nước ta - Về đoàn kết dân tộc: Các DTTS ở nước ta đã cùng nhau trải qua quá trình lịch sử và quá trình đấu tranh để bảo vệ bờ cõi, xây dựng đất nước thống nhất, mặc dù có nhiều dân tộc và chênh lệch về số lượng trên cùng một lãnh thổ quốc gia, mỗi dân tộc có điều kiện sống, phong tục tập quán riêng biệt nhưng các dân tộc nước ta đều có chung truyền thống đoàn kết, gắn bó, tương trợ lẫn nhau. Do đó không xuất hiện sự mâu thuẫn, đối kháng giữa các dân tộc, truyền thống đoàn kết này chính là đặc trưng nổi bật làm tăng cường sức mạnh dân tộc góp phần thúc đẩy công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
- Về bản sắc văn hoá: Các DTTS ở nước ta đều có những nét riêng biệt về văn hoá, tạo nên sự đa dạng phong phú về văn hoá cho đất nước, mỗi DTTS ở nước ta đều có ngôn ngữ riêng, có nền văn hoá truyền thống mang lại bản sắc Luan van 7 riêng để thể hiện trong các nếp sinh hoạt hàng ngày thông qua các lễ hội, trang phục của từng dân tộc. - Về địa bàn cư chú: các DTTS ở nước ta phân bố không đồng đều, tập trung ở một số vùng nhưng không cư trú thành những khu vực riêng biệt mà xen kẽ với các DTTS khác. Chính sự xen kẽ giữa các dân tộc đã tạo điều kiện để các dân tộc có điều kiện tăng cường sự hiểu biết, gắn bó với nhau nhờ đó mà các dân tộc có điều kiện học hỏi những tri thức mới, từng bước thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các dân tộc. - Về trình độ phát triển kinh tế - xã hội: Các DTTS ở nước ta có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều.
Trình độ phát triển không đồng đều của các DTTS bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, chủ yếu là do phong tục tập quán lâu đời và địa bàn đi lại khó khăn, tài nguyên tuy phong phú nhưng lại khó khai thác,… 2. Du lịch cộng đồng 2. Khái niệm du lịch cộng đồng Có rất nhiều tác giả đã đưa ra các định nghĩa về du lịch cộng đồng như - Tại Thái Lan thuật ngữ du lịch dựa vào cộng đồng được định nghĩa: “Du lịch cộng đồng hay phát triển du lịch cộng đồng là loại hình du lịch mà được quản lý bởi chính cộng đồng của địa phương, nhằm hướng đến mục tiêu bền vững về mặt môi trường, văn hóa và xã hội. Thông qua phát triển du lịch cộng đồng mà du khách có cơ hội tìm hiểu và nâng cao nhận thức về lối sống của cộng đồng địa phương”.
- Theo tổ chức Pachamana đã đưa ra quan điểm về du lịch cộng đồng như sau: “du lịch cộng đồng là loại hình du lịch mà du khách từ bên ngoài đến với cộng đồng địa phương để có thể tìm hiểu về phong tục, lối sống, và niềm tin, được thưởng thức các ẩm thực địa phương. Cộng đồng địa phương được kiểm soát cả những tác động và những lợi ích thông qua các quá trình tham gia vào hình thức du lịch này, từ đó sẽ tăng cường khả năng tự quản, tăng cường các phương thức sinh kế và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương”. Luan van 8 - Tổ chức mạng lưới DLBV vì người nghèo đã nêu “ phát triển du lịch cộng đồng là một loại hình DLBV thúc đẩy các chiến lược vì người nghèo trong môi trường cộng đồng. Các sáng kiến của du lịch cộng đồng nhằm vào mục tiêu thu hút sự tham gia của người dân địa phương vào việc vận hành và quản lý các dự án du lịch nhỏ như một phương tiện giảm nghèo và mang lại thu nhập thay thế cho cộng đồng.
Các sáng kiến của du lịch cộng đồng còn khuyến khích tôn trọng các truyền thống và văn hóa địa phương cũng như các di sản thiên nhiên.” - Tại Việt Nam, du lịch phát triển du lịch cộng đồng được nhìn nhận như sau: “Phát triển du lịch cộng đồng là hoạt động tương hỗ giữa các đối tác liên quan, nhằm mang lại lợi ích về kinh tế cho cộng đồng dân cư địa phương, bảo vệ được môi trường và mang đến cho du khách kinh nghiệm mới, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương có dự án. Như thuật ngữ phát triển du lịch cộng đồng có các nội dung chủ yếu như sau: - Du khách là tác nhân bên ngoài là tiền đề mang lại lợi ích kinh tế và sẽ có những tác động nhất định kèm theo việc thụ hưởng các giá trị về môi trường sinh thái tự nhiên và văn hóa khi đến với một cộng đồng địa phương cụ thể. - Cộng đồng địa phương là người kiểm soát các giá trị về mặt TNDL để hỗ trợ du khách có cơ hội tìm hiểu và nâng cao nhận thức của mình khi có cơ hội tiếp cận hệ thống TNDL tại không gian sinh sống của cộng đồng địa phương. - Cộng đồng địa phương sẽ nhận được lợi ích về mặt kinh tế, mở rộng tầm hiểu biết về đặc điểm tính cách của du khách cũng như có cơ hội nắm bắt các thông tin bên ngoài từ du khách.