Luận án tiến sĩ nghiên cứu chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch tại vùng đồng bằng sông hồng và duyên hải bông bắc việt nam

Chuyên đề chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch vùng Đồng Bằng Sông Hồng và Duyên Hải Bắc Việt Nam, tiếp cận liên ngành, kết quả nghiên cứu có giá trị ứng

Trường đại học

Trường Đại Học Thương Mại

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2021

224
13
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

PHẦN MỞ ĐẦU

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết nghiên cứu luận án

1.2. Mục tiêu, nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu của luận án

1.2.1. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu luận án

1.4. Những đóng góp mới của luận án

1.4.1. Về lý luận

1.4.2. Về thực tiễn

Tóm tắt

I. Giới thiệu chung về chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch

Nghiên cứu chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch tại vùng Đồng Bằng Sông HồngDuyên Hải Bắc Việt Nam có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh phát triển ngành du lịch. Theo Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị, du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng. Điều này không chỉ giúp tối ưu hóa hoạt động mà còn nâng cao chất lượng dịch vụsự hài lòng của du khách. Các yếu tố như quản lý chuỗi cung ứng, cấu hình chuỗi cung ứng, và điều phối giữa các nhà cung cấp dịch vụ là rất quan trọng để đạt được kết quả tốt nhất trong hoạt động du lịch. Việc nghiên cứu này nhằm chỉ ra những thách thức mà ngành du lịch đang phải đối mặt và đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch.

1.1. Tính cấp thiết của nghiên cứu

Tính cấp thiết của nghiên cứu này xuất phát từ thực tế rằng ngành du lịch tại Việt Nam đang ngày càng phát triển, nhưng cũng đối mặt với nhiều thách thức như tính thời vụ và sự cạnh tranh gay gắt. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc cải thiện chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch không chỉ là một giải pháp ngắn hạn mà còn là hướng đi bền vững để thu hút du khách. Theo Fantazy và cộng sự (2010), việc đo lường kết quả hoạt động của chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch cần bao gồm cả yếu tố tài chính và phi tài chính, trong đó sự hài lòng của khách hàng là một chỉ số quan trọng. Điều này cho thấy rằng, một chuỗi cung ứng hiệu quả sẽ không chỉ đảm bảo lợi nhuận cho doanh nghiệp mà còn nâng cao trải nghiệm của du khách.

II. Thực trạng hoạt động chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch

Thực trạng hoạt động của chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch tại vùng Đồng Bằng Sông HồngDuyên Hải Bắc Việt Nam cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Các nhà cung cấp dịch vụ du lịch, doanh nghiệp lữ hành, và các đại lý lữ hành đang phải đối mặt với nhiều khó khăn trong việc duy trì mối quan hệ và điều phối hiệu quả. Nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù có nhiều địa điểm du lịch hấp dẫn, nhưng chất lượng dịch vụ vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọng của du khách. Theo thống kê, nhiều doanh nghiệp trong ngành vẫn chưa thực hiện tốt việc quản lý chuỗi cung ứng, dẫn đến tình trạng lãng phí tài nguyên và không tối ưu hóa được lợi nhuận. Điều này cho thấy sự cần thiết phải cải thiện quản lý chuỗi cung ứng để nâng cao chất lượng dịch vụsự hài lòng của khách hàng.

2.1. Kết quả nghiên cứu thực trạng

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch hiện tại tại vùng Đồng Bằng Sông HồngDuyên Hải Bắc Việt Nam chưa phát huy hết tiềm năng. Nhiều yếu tố như cấu hình chuỗi cung ứng, quan hệ giữa các thành viên trong chuỗi và điều phối chưa được thực hiện một cách hiệu quả. Theo Zhang và Murphy (2009), sự liên kết giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng là yếu tố quyết định đến sự thành công của hoạt động du lịch. Việc thiếu sự phối hợp có thể dẫn đến sự không hài lòng của du khách và giảm thiểu khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Do đó, cần có những giải pháp cụ thể nhằm cải thiện thực trạng này.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động chuỗi cung ứng

Để nâng cao kết quả hoạt động của chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch, cần có các giải pháp đồng bộ từ phía các doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước. Việc xây dựng một chuỗi cung ứng bền vững và hiệu quả sẽ giúp cải thiện chất lượng dịch vụ và gia tăng sự hài lòng của du khách. Một trong những giải pháp quan trọng là tăng cường sự hợp tác giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng, từ đó tạo ra một mạng lưới liên kết chặt chẽ hơn. Theo Piboonrnugroj (2012), việc tối ưu hóa các yếu tố trong chuỗi cung ứng không chỉ giúp giảm thiểu chi phí mà còn nâng cao trải nghiệm của khách hàng. Cần có các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào việc quản lý và phát triển chuỗi cung ứng để đạt được hiệu quả cao nhất.

3.1. Các giải pháp cụ thể

Một số giải pháp cụ thể bao gồm: đầu tư vào công nghệ thông tin để cải thiện quản lý chuỗi cung ứng, thiết lập các tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ, và tăng cường đào tạo nguồn nhân lực. Việc áp dụng công nghệ thông tin sẽ giúp các doanh nghiệp dễ dàng theo dõi và điều phối các hoạt động trong chuỗi cung ứng, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động. Đồng thời, việc thiết lập các tiêu chuẩn chất lượng sẽ giúp các doanh nghiệp nâng cao hình ảnh và uy tín trong mắt du khách. Cuối cùng, việc đào tạo nguồn nhân lực sẽ đảm bảo rằng đội ngũ nhân viên có đủ kỹ năng và kiến thức để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách.

21/12/2024
Luận án tiến sĩ nghiên cứu chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch tại vùng đồng bằng sông hồng và duyên hải bông bắc việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu liên quan đến quản trị chuỗi cung ứng Cho đến nay, quản trị chuỗi cung ứng được sự quan tâm và bàn luận từ nhiều học giả, nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.

Nghiên cứu về khung lý luận phân tích chuỗi cung ứng theo định hướng giá trị các ngành kinh doanh của các quốc gia phát triển như ở nghiên cứu của Jacques H. Nghiên cứu này đưa ra một khung lý luận nhằm phân tích chuỗi cung ứng của quốc gia đang phát triển được cấu thành từ ba thành tố. Thành tố đầu tiên, việc xác định trở ngại chính đối với nâng cấp chuỗi cung ứng: các hạn chế tiếp cận thị trường, cơ sở hạ tầng yếu kém, thiếu nguồn lực và khoảng trống thể chế. Thành tố thứ hai được xác định: gia tăng giá trị, cấu trúc mạng lưới chuỗi cung ứng theo chiều ngang và theo chiều dọc và cơ chế quản lý chuỗi cung ứng.

Cuối cùng, tùy chọn nâng cấp được xác định đối với lĩnh vực gia tăng giá trị, bao gồm cả việc tìm kiếm thị trường, cấu trúc mạng lưới chuỗi cung ứng và các hình thức quản lý của chuỗi cung ứng. Một phần của thành tố này là việc nhận dạng các quan hệ đối tác phù hợp nhất để nâng cấp chuỗi cung ứng. Ba thành phần của khung lý luận này được rút ra từ các trường phái lý thuyết chính về mối quan hệ giữa các công ty và từ các nghiên cứu về chuỗi cung ứng của quốc gia phát triển. Để xác định được khung lý luận về chuỗi cung ứng, quản trị chuỗi cung ứng nghiên cứu đã giới hạn điều kiện nghiên cứu thực hiện trong một sự cân bằng của chuỗi cung ứng và nghiên cứu mới chỉ tập trung vào các mối quan hệ thị trường, chưa chú trọng đến môi trường kinh doanh – một nhân tố chính quyết định đến hoạt động của chuỗi cung ứng.

Trong hầu hết các nghiên cứu, các tác giả đưa ra khái niệm chuỗi cung ứng, một số nghiên cứu cho rằng nghiên cứu chuỗi cung ứng cần đề cao việc nghiên cứu mối quan hệ giữa các thành viên trong chuỗi, kết quả hoạt động chuỗi, sự hài lòng của khách hàng (Beamon, 1998; Christopher, 2016…). Beamon (1998) đề cập đến đo lường kết quả hoạt động chuỗi theo tiếp cận từ sự tích hợp của 2 quy trình cơ bản của một chuỗi cung ứng: quy trình lập kế hoạch sản xuất, kiểm soát hàng tồn kho; quy trình phân phối và hậu cần. Với cách thức kết hợp cả phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng. Beamon (1998) đã xác định yếu tố đo lường kết quả hoạt động chuỗi cung ứng bao gồm: chi phí, sự thỏa mãn nhu cầu khách hàng, thời gian cung ứng và sự linh hoạt.

Bên cạnh đó, tác giả Beamon cũng xác định 7 yếu tố ảnh hưởng đến đo lường hoạt động chuỗi cung ứng bào gồm: lịch trình sản xuất và phân phối, mức đặt hàng và tồn 11 kho, số lượng giai đoạn cung ứng, địa điểm của khách hàng, mối quan hệ khách hàng – nhà cung cấp, sự khác biệt hóa sản phẩm và số lượng hàng tồn kho. Với nghiên cứu của mình, Beamon đã giải quyết được 2 nội dung: đánh giá tập trung về các nghiên cứu mô hình chuỗi cung ứng và xác định một số các nội dung nghiên cứu cho các nghiên cứu trong tương lai về lĩnh vực chuỗi cung ứng. Cụ thể hơn, nghiên cứu này đã xem xét các mô hình và phương pháp nghiên cứu chuỗi cung ứng hiện có và các chủ đề xác định để xem xét nghiên cứu tiếp theo trong tương lai sẽ tạo điều kiện cho nâng cao kiến thức và thực hành trong lĩnh vực thiết kế và phân tích chuỗi cung ứng. Dựa trên cơ sở nghiên cứu hiện có về mô hình chuỗi cung ứng, các đề xuất đã được đưa ra cho hướng nghiên cứu trong tương lai trong bốn lĩnh vực sau: đánh giá và phát triển hoạt động chuỗi cung ứng, phát triển mô hình và các biến đo lường đối với các thang đo kết quả hoạt động chuỗi, xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến mô hình chuỗi cung ứng và phân loại các hệ thống chuỗi cung ứng để cho phép phát triển quy tắc ngón tay cái hoặc các kỹ thuật chung để hỗ trợ thiết kế và phân tích tổng thể chuỗi cung ứng.

Christopher (2011) đã đề cập đến 14 nội dung cơ bản trong cuốn sách của mình. Cuốn sách được tái xuất bản lần thứ tư vào năm 2011. Trong nội dung cuốn sách, tác giả đã đề cập đến nội dung quản lý chuỗi cung ứng liên quan đến sự thay lớn trong mối quan hệ giữa các thành viên trong chuỗi. Điển hình của mối quan hệ truyền thống là mối quan hệ giữa người mua và nhà cung cấp.

Trong đó, trọng tâm của quản lý chuỗi cung ứng được tác giả đề cập đến là sự hợp tác và tin tưởng trong chuỗi. Theo quan điểm của mình, tác giả cho rằng, chuỗi cung ứng được quản lý đúng cách có nghĩa là chuỗi cung ứng có “tổng thể toàn chuỗi có thể lớn hơn tổng các phần của nó”. 14 chương của cuốn sách đề cập đến các vấn đề: Chiến lược cạnh tranh, chuỗi cung ứng và logistics; Giá trị khách hàng và logistics; Đo lường chi phí logistics và kết quả vận hành chuỗi; Kết nối cung và cầu; Thiết kế chuỗi cung ứng ngược; Chiến lược quản trị thời gian; Đồng bộ chuỗi cung ứng; Sự phức tạp và chuỗi cung ứng; Quản trị kênh phân phối toàn cầu; Quản trị rủi ro trong chuỗi cung ứng; Kỷ nguyên mạng lưới cạnh tranh; Vượt qua rào cản để tích hợp chuỗi cung ứng; Phát triển chuỗi cung ứng bền vững; và Xu hướng của chuỗi cung ứng. Trong nghiên cứu của mình, Srai và Gregory (2008) đã khám phá tác động của cấu hình đối với mạng lưới cung cấp chuỗi cung ứng.

Theo quan điểm của các tác giả: cấu hình có thể cung cấp thông tin chi tiết về khả năng và hiệu suất của các mạng lưới cung cấp. Khỏa lấp được lỗ hổng trong các nghiên cứu trước và là căn cứ cung cấp cơ sở cho phát triển các công cụ để hỗ trợ phân tích và thiết kế. 12 Những phát hiện chính trong nghiên cứu của tác giả bao gồm: 1) Cấu hình mạng là rất khác nhau giữa các chuỗi cung ứng, trong đó các yếu tố cấu hình mạng cung cấp được xác định (cấu trúc bậc, hình dạng và vị trí: bao gồm các luồng thông tin, nguyên liệu chính; hoạt động của doanh nghiệp tâm điểm và quy trình sản xuất nội bộ của họ; vai trò và mối quan hệ giữa các đối tác mạng; cấu trúc, độ phức tạp và thành phần của sản phẩm); 2) Cấu hình mạng lưới cung cấp yêu cầu lập bản đồ để đánh giá tiềm năng khả năng chuyển giao của các quy trình. Trong đó đánh giá đồng cấp giữa các doanh nghiệp có ý nghĩa; các thời điểm nghiên cứu khác nhau có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá hoạt động phát triển chuỗi cung ứng; 3) Các công cụ lập bản đồ cấu hình mạng trong chuỗi cung ứng được phát triển trên thực tế có thể được áp cho việc đánh giá hoạt động chuỗi cung ứng và hiệu suất chuỗi.

Các công cụ được tìm thấy trong nghiên cứu đã cung cấp những hiểu biết mới về cấu trúc của mạng lưới chuỗi cung ứng và cho phép thực hiện so sánh trên các lĩnh vực và mô hình kinh doanh thông qua việc sử dụng các phương pháp và cách trình bày phong phú; 4) Cấu hình mạng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của chuỗi cung ứng, đồng thời ảnh hưởng đến kết quả hoạt động chuỗi cung ứng; 5) Các khái niệm về khả năng tái cấu hình chuỗi cung ứng xuất hiện từ nghiên cứu được xác định qua các “tuyến đường tiềm năng” để chuyển đổi cấu hình mạng lưới; và với các yếu tố cụ thể của cấu hình có tiềm năng tái cấu hình lại khác nhau; 6) Hiệu suất và kết quả hoạt động chuỗi cung ứng không phải lúc nào cũng tương quan với quản trị quy trình chuỗi cung ứng. Trong nhiều trường hợp, các quy trình đơn giản hơn dường như hiệu quả hơn khi hưởng lợi từ sự hợp lý của cấu hình chuỗi cung ứng. Đinh Văn Sơn (2019) cũng đã tiếp cận khoa học các vấn đề nghiên cứu chuỗi cung ứng. Công trình nghiên cứu đã tổng quan và hệ thống hóa một số nội dung lý luận về xây dựng mô hình nghiên cứu những khái niệm, mô hình lý thuyết về chuỗi cung ứng; phân tích một số mô hình và kinh nghiệm quốc tế.

Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã tiến hành khảo sát và phân tích thực trạng chuỗi cung ứng nông sản Tây Bắc với số liệu nghiên cứu từ 2013 – 2018, xác định một số vấn đề cơ bản liên quan đến chuỗi cung ứng nông sản xuất khẩu đối với Tây Bắc và đề xuất một số giải pháp chính sách và thực tiễn cho phát triển chuỗi cung ứng nông sản xuất khẩu Tây Bắc. Các nghiên cứu liên quan đến chuỗi cung ứng du lịch và quản trị chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch Nghiên cứu chuỗi cung ứng DVDL là lĩnh vực khoa học nghiên cứu về du lịch được đề xuất bởi nhiều học giả từ những năm 2000. Đề xuất này được hình thành dựa trên kết quả nghiên cứu lý luận và thực chứng hoạt động chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp du lịch, khách du lịch, chính quyền địa phương, dân cư và chính phủ 13 của các vùng, lãnh thổ ở các quốc gia trên thế giới. Theo Szpilko (2017), tổng quan về các công trình nghiên cứu theo các giai đoạn như sau: Giai đoạn đầu tiên, các công trình nghiên cứu trước năm 2008, hầu hết là các bài báo nghiên cứu các khung khái niệm về chuỗi cung ứng ứng DVDL và quản trị chuỗi cung ứng DVDL.

Trong giai đoạn này, chuỗi cung ứng sản xuất hàng hóa được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu phần lớn, trong khi, những bài báo nghiên cứu về chuỗi cung ứng DVDL và quản trị chuỗi cung ứng DVDL còn rất ít và hạn chế (Burgess và cộng sự, 2006). Trong giai đoạn này, các nghiên cứu liên quan đến phía cung ứng DVDL của ngành Du lịch phần lớn đã đã bị bỏ quên. Việc nghiên cứu ở giai đoạn này tập trung chủ yếu và các hoạt động xúc tiến, quảng bá và phát triển sản phẩm (Zang và Murphy, 2009). Việc thiếu quan tâm đến hoạt động và mạng lưới cung cấp không phải là duy nhất đối với các hoạt động nghiên cứu du lịch, mà hầu hết các nghiên cứu của ngành dịch vụ ở giai đoạn này tập trung nhiều về nghiên cứu tiếp thị hơn là cung cấp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án Tiến Sĩ "Nghiên Cứu Chuỗi Cung Ứng Dịch Vụ Du Lịch Tại Vùng Đồng Bằng Sông Hồng và Duyên Hải Bắc Việt Nam" của tác giả Đỗ Minh Phượng, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Viết Thái và PGS. Vũ Đức Minh, được thực hiện tại Trường Đại Học Thương Mại vào năm 2021. Luận án này tập trung vào việc phân tích và đánh giá chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch trong khu vực Đồng Bằng Sông Hồng và Duyên Hải Bắc Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và tính bền vững của chuỗi cung ứng này. Những điểm chính trong nghiên cứu bao gồm sự tác động của các yếu tố môi trường, kinh tế và xã hội đến sự phát triển du lịch, cũng như cách thức tối ưu hóa các dịch vụ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách.

Để mở rộng kiến thức về lĩnh vực du lịch, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Khai thác văn hóa ẩm thực phục vụ phát triển du lịch tại quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, nghiên cứu về việc phát triển du lịch thông qua việc khai thác văn hóa ẩm thực, hoặc Nghiên cứu điều kiện phát triển du lịch làng nghề truyền thống tại làng Chuông, xã Phương Trung, huyện Thanh Oai, Hà Nội, một luận văn tập trung vào các điều kiện phát triển du lịch tại làng nghề. Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu về Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch xanh ở Việt Nam, để nắm bắt những xu hướng mới trong phát triển du lịch bền vững. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các khía cạnh khác nhau của ngành du lịch tại Việt Nam.