chương I thì “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch,tuyến du lịch, đô thị du lịch”. Theo ĐỊA LÝ DU LỊCH VIỆT NAM – Nguyễn Minh Tuệ chủ biên – NXBGD – 2010, đã đưa ra định nghĩa: “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên, văn hóa- lịch sử cùng các thành phần của chúng có sức hấp dẫn với du khách; đã, đang và sẽ được khai thác, cũng như bảo vệ nhằm đáp ứng nhu cầu của du lịch một cách hiệu quả và bền vững”. Như vậy, cách tiếp cận đối với tài nguyên du lịch giữa các nhà nghiên cứu có sự khác nhau, nhưng về cơ bản có điểm chung là đều đề cập đến các yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa do con người tạo ra có sức hấp dẫn với du khách.2 Phân loại tài nguyên du lịch. Tài nguyên du lịch rất phong phú, đa dạng, vì thế, có nhiều cách để phân loại tùy thuộc vào việc sử dụng các tiêu chí khác nhau.
Trong Luật Du lịch Việt Nam (năm 2005), tài nguyên du lịch được chia làm hai nhóm cơ bản: Tài nguyên du lịch tự nhiên: gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Tài nguyên du lịch nhân văn: gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.2 Phát triển bền vững du lịch 1.1 Phát triển bền vững 1.1 Quan niệm Cụm từ “phát triển bền vững” có nguồn gốc từ thực tiễn quản lý rừng ở Đức vào thế kỉ XIX, nhưng mãi đến thập kỉ 80 của thế kỉ XX mới được phổ biến rộng rãi. Năm 1980, IUCN cho rằng: “Phát triển bền vững phải cân nhắc đến việc khai thác các nguồn tài nguyên tái tạo và không tái tạo, đến các điều kiện thuận lợi cũng như khó khăn trong việc tổ chức các kế hoạch hành động ngắn hạn và dài hạn đan xen nhau”. Đến năm 1987, Uỷ ban Môi trường và Phát triển Thế giới WCED do bà GroHarlem Brundtland thành lập đã công bố thuật ngữ “phát triển bền vững” trong báo cáo “Tương lai của chúng ta” như sau: “Phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”.
10 Theo Hội nghị thượng đỉnh về Trái đất năm 1992, được tổ chức ở Rio – de – Janeiro, “Phát triển bền vững được hình thành trong sự hòa nhập, xen cài và thỏa hiệp giữa ba hệ thống là hệ tự nhiên, hệ kinh tế và hệ xã hội”. Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đều đề cập đến “phát triển bền vững” trong quá trình hoạch định chính sách và quản lí phát triển kinh tế, với ý muốn nhấn mạnh phương thức và việc sử dụng có trách nhiệm các nguồn lực của sự phát triển. Trong chỉ thị 36/CT của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng ngày 25/6/1998, đã nêu rõ: Mục tiêu và các quan điểm cơ bản của phát triển bền vững chủ yếu dựa vào hoạt động bảo vệ môi trường, bảo vệ môi trường sinh thái, sử dụng hợp lí tài nguyên như một cấu thành không thể tách rời của phát triển bền vững.2 Nội dung phát triển bền vững - Bền vững về kinh tế: Đòi hỏi phải đảm bảo kết hợp hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, cân đối tốc độ tăng trưởng kinh tế với việc sử dụng các điều kiện nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa học, công nghệ, đặc biệt chú trọng phát triển công nghệ sạch và năng lượng sạch. - Bền vững về xã hội: Là xây dựng một xã hội mà trong đó nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định phải đi đôi với dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội; giáo dục – đào tạo, y tế, bình đẳng giới, giải quyết công ăn việc làm, khai thác tiềm năng tri thức bản địa và phúc lợi xã hội phải được chăm lo đầy đủ và toàn diện cho mọi đối tượng trong xã hội.
- Bền vững về tài nguyên môi trường: Là các dạng tài nguyên thiên nhiên tái tạo được sử dụng trong khả năng chịu tải của chúng nhằm khôi phục được cả về số lượng và chất lượng, các dạng tài nguyên không tái tạo phải sử dụng tiết kiệm và hợp lí nhất. Môi trường tự nhiên và môi trường xã hội không bị các hoạt động của con người làm ô nhiễm, suy thoái và tổn hại. Các nguồn phế thải từ công nghiệp và sinh hoạt được xử lí, tái chế kịp thời, vệ sinh môi trường được đảm bảo, con người được sống trong môi trường sạch sẽ… 11 Các tiêu chí nói trên là những điều kiện cần và đủ để đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội, nếu thiếu một trong những điều kiện đó thì sự phát triển đứng trước nguy cơ mất bền vững.2 Phát triển du lịch bền vững 1.1 Quan niệm Khái niệm “du lịch bền vững” (Sustainable Tourism) xuất hiện năm 1996, trên cơ sở cải thiện và nâng cấp khái niệm “du lịch mềm” (soft tourism), được nhiều quốc gia và hiệp hội du lịch lớn trên thế giới ủng hộ. “Du lịch bền vững là việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên, các đặc điểm văn hóa kèm theo (có thể là cả trong quá khứ và hiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác động thấp từ du khách và mang lại những lợi ích cho sự tham gia chủ động về kinh tế - xã hội của cộng đồng địa phương” – (World Conservation Union, 1996).
Cùng thời gian, WTTC cũng đưa ra khái niệm: “ Du lịch bền vững là sự đáp ứng nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn đảm bảo khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch mai sau”. 1998, Du lịch bền vững đòi hỏi các cấp và đơn vị kinh doanh du lịch quản lý tất cả các dạng tài nguyên du lịch theo một cách nào đó để một mặt đáp ứng được các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ, mặt khác vẫn duy trì được bản sắc văn hóa, các quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và các hệ sinh thái đảm bảo sự sống. Tại Việt Nam, quan điểm của Tổng cục du lịch Việt Nam, phát triển du lịch phải được định hướng và quản lý theo phương châm: Kết hợp hài hòa nhu cầu của hiện tại và tương lai trên cả hai góc độ sản xuất và tiêu dùng du lịch, khai thác, sử dụng hợp lý và phát triển tài nguyên du lịch tự nhiên, chú trọng bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của tài nguyên du lịch nhân văn, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tránh hiện đại hóa hoặc làm biến dạng môi trường, cảnh quan di tích, 12 xây dựng và giữ gìn môi trường xã hội lành mạnh, đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, đặc biệt là ở các đô thị du lịch và các điểm tham quan du lịch. Như vậy, du lịch bền vững không phải là một loại hình hay trào lưu du lịch mà đó là cương lĩnh phát triển du lịch của thời đại.2 Những điều kiện cơ bản để phát triển du lịch bền vững Để phát triển ngành du lịch được bền vững, cần có những điều kiện sau đây: a)Sự đa dạng của tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để tạo thành các sản phẩm du lịch, là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du lịch.
Sự phong phú, đa dạng của tài nguyên du lịch sẽ tạo nên những sản phẩm du lịch phong phú, đa dạng, đặc sắc và mới mẻ hấp dẫn du khách, nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả hoạt động du lịch. b)Sự am hiểu về du lịch Sự am hiểu về du lịch ở đây chính là sự am hiểu về tài nguyên du lịch, những tác động tiềm ẩn của hoạt động du lịch đối với tài nguyên – môi trường. Để đạt được sự am hiểu này cần phải có chiến lược giáo dục lâu dài và hiệu quả về những kiến thức du lịch, tài nguyên du lịch và bảo vệ môi trường cho các nhà quản lý, các nhà đầu tư, khai thác du lịch, đặc biệt là cộng đồng dân cư địa phương. Hơn ai hết, đây là những người trực tiếp được hưởng quyền lợi từ du lịch, vì vậy bảo vệ môi trường du lịch chính là bảo vệ cuộc sống của chính họ.
Không những thế, họ cũng chính là những người có khả năng truyền đạt hiệu quả nhất những kiến thức bảo vệ môi trường cho du khách. Như vậy, tất cả các lực lượng tham gia du lịch và dân bản địa cùng nhau bảo vệ tài nguyên du lịch cũng như môi trường du lịch, đây là điều kiện quan trọng để phát triển du lịch một cách bền vững, cũng là một trong những nguyên tắc của du lịch bền vững. c) Đảm bảo về cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật du lịch Giao thông vận tải: Đảm bảo nhu cầu đi lại cho du khách từ nơi lưu trú đến các điểm tham quan và ngược lại. 13 Thông tin liên lạc: Đảm bảo để du khách liên lạc với gia đình, người thân và các dịch vụ tiện ích cần thiết.
Điện, nước: Cung cấp đầy đủ cho các hoạt động du lịch và sinh hoạt của du khách. Cơ sở lưu trú: Chất lượng, phù hợp với môi trường du lịch của điạ phương. Các dịch vụ du lịch khác như ăn uống, mua sắm, vui chơi giải trí.phải đảm bảo chất lượng, an toàn, vệ sinh, không lôi kéo,“chặt chém’’ du khách. d) Tuân thủ chặt chẽ các quy định về “sức chứa’’ Môi trường tự nhiên có khả năng tự làm sạch, tự khôi phục và tự cân bằng.
Tuy nhiên, khả năng này có giới hạn nhất định, đó chính là “sức chứa’’. Khái niệm “sức chứa’’ được hiểu từ 4 khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý học và xã hội học.