Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển loại hình du lich sinh thái cho một điểm du lịch Chương 2: Thực trạng kinh doanh sản phẩm du lịch của Công ty TNHH MTV S- Tours và thực trang phát triển loại hình du lich sinh thái tại Huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam Chương 3: Giải pháp phát triển loại hình du lịch sinh thái tại Huyện Nam Trà My, Tinh Quang Nam cho Công ty TNHH MTV S- Tours giai đoạn 2020-2025. Tổng quan tài liệu nghiên cứu: Để thực hiện đề tài nghiên cứu, tôi đã tìm hiểu và sử dụng các tài liệu chuyên ngành về du lịch sau: GSTS. Nguyễn Văn Đính- PGS. Trần Thị Minh Hòa, 2009, giáo trình Kinh Tế Du Lịch- nhà xuất bản ĐH Kinh Tế Quốc Dân.
Tác giả đã hệ thống hóa về các khái niệm du lịch, nhu cầu, loại hình và các lĩnh vực kinh doanh du lich và các điều kiện phát triển du lịch. Đồng thời bao hàm các các van dé kinh tế du lịch như lao động trong ngành, cơ sở vật chất, chất lượng dịch vụ và hiệu quả kinh tế từ du lịch.TSKH, Lê Huy Bá, Du lich sinh thái, NXB Khoa học kỹ thuật. Sách giới thiệu các nội dung chính về du lịch sinh thái, sinh thái môi trường phục vụ du lịch sinh thái. Cho ta nhìn một cái nhìn khái quát về phát triển du lịch sinh thái phù hợp với đặc điểm từng địa phương.S Trần Thị Thúy Lan - CN Nguyễn Đình Quang, 2005, Giáo trình Tổng Quan Du Lịch- nhà xuất bản Hà Nội.
Giáo trình cho thấy được những vấn đề cơ bản về du lịch một cách có hệ thong từ khái quát du lịch đến chất lượng phục vụ du lịch từ đó cho thay một cach nhìn tổng quan về du lịch hiện nay. Bên cạnh về lý luận, tác giả tham khảo các bài báo và bài nghiên cứu về du lịch sinh thái trong nước như: Tác giả Đào Thế Tuấn với “Từ du lịch sinh thái, văn hóa đến du lịch cộng đồng” tạp chí Xưa và Nay số 247 năm 2005 nhấn mạnh mối liên kết trong quan hệ DLST, văn hóa đối với cộng đồng nơi tồn tại trong quan hệ DLST, văn hóa đối với cộng đồng nơi tồn tại hoạt động du lịch, đồng thời nhân mạnh vai trò gìn giữ văn hóa bản sac dân tộc. Bài nghiên cứu “Một số giải pháp phát triển du lịch công đông tại khu du lịch sinh thai Tràng An, tỉnh Ninh Binh” của tac giả Lê Thanh Tú (2016) Tại vùng nghiên cứu của đề tài này, hiện nay đã có nhiều công trình khoa học, luận văn nghiên cứu liên quan đến phát triển du lịch tại Khu du lịch sinh thái Tràng An ở các mức độ và phạm vi rộng hẹp khác nhau như: Đặng Văn Bào, Trương Quang Hải (2009), Khu du lịch sinh thái cảnh quan Tràng An-Những giá trị cảnh quan, sinh thái và môi trường, Hà Nội. Cơ quan Hội di sản văn hoá (2008), Ninh Bình Di sản văn hoá và tiềm năng du lịch, Tạp chí Thế giới Di sản số 09/2008.
UBND tỉnh Ninh Bình (2008), Báo cáo hội thảo khoa học: Giá trị di sản văn hoá có đô Hoa Lư và khu du lịch sinh thái Tràng An. Những bài báo nghiên cứu trên tạp chí: Phạm Đức Ánh (2002), Du lịch Ninh Bình phát triển bền vững; Nguyễn Thị Thanh Tâm (2005), Du lịch Ninh Bình phấn đấu trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Các nghiên cứu này cho thấy vai trờ DLST trong sự phát triển kinh tế của Ninh Bình. Đề cập đến văn háo, git gin bản sác dan tộc làm nền tảng, chưa đi sâu khai thác DLST trãi nghiệm thực tế.
CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE PHAT TRIEN LOẠI HÌNH DU LICH SINH THÁI MOI CHO MOT DIEM DU LICH 1. KHAI NIEM DIEM DU LICH VA LOAI HINH DU LICH: 1. Khái niệm điểm du lịch: Tổ chức Du lịch Thế giới (UN-WTO), đã đưa ra quan niệm về điểm đến du lich(Tourism Destination): “Điểm đến du lịch là vùng không gian dia lý mà khách du lịch ở lại ít nhất một đêm, bao gồm các sản phẩm du lịch, các dịch vụ cung cấp, các tài nguyên du lịch thu hút khách, có ranh giới hành chính dé quản lý và có sự nhận diện về hình ảnh dé xác định khả năng cạnh tranh trên thị trường”. Theo Tourism destinatiom management, the George Washington University, 2007 đưa ra khái niệm “Tourist attraction” (Điểm thu hút du lịch) là một điểm thu hút khách du lich, nơi khách du lịch tham quan, thường có các giá trị vốn có của nó hoặc trưng bày các giá trị văn hóa, ý nghĩa lịch sử hoặc được xây dựng, cung cấp các dịch vụ về phiêu lưu, mạo hiểm, vui chơi giải trí hoặc khám phá, trải nghiệm những điều mới lạ” Theo điểm 8 điều 4 chương | Luật Du lịch Việt Nam năm 2005: “Điểm du lịch được hiểu là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch” Các chuyên gia về quản lý điểm đến của Tổ chức Du lịch thế giới định nghĩa: “Điểm đến du lịch là một không gian vật chat mà du khách lưu trú lại ít nhất một đêm.
Nó bao gồm các sản phẩm du lịch như các dịch vụ hỗ trợ, các điểm đến và tuyến điểm du lịch trong thời gian một ngày. Nó có các giới hạn vật chất và quản lý giới hạn hình ảnh, sự quản lý xác định tính cạnh tranh trong thị trường. Khái niệm loại hình du lịch: Khái niệm: Sở thích, thị hiếu và nhu cầu của du khách là hết sức đa dạng, phong phú, chính vì vậy cần phải tiến hành phân loại các loại hình du lịch, chuyên môn hóa các sản phẩm du lịch nhằm thỏa mãn cho sự lựa chọn và đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu của du khách. LOẠI HÌNH DU LỊCH SINH THÁI: 1.
Khái niệm loại hình du lịch sinh thái: DLST (ecotourism) là một khái niệm tương đối mới và nhanh chóng thu hút sự quan tâm của nhiều lĩnh vực và đặc biệt là lĩnh vực du lịch. Có thể hiểu DLST ở góc độ rộng hơn thì nó chính là một laoij hình du lịch thiên nhiên. Vậy các hoạt động du lịch ngoài trời, ngắm cảnh, leo núi, tắm biển,. đều có thể gọi là DLST.
* Loại hình du lịch sinh thái là một loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tượng đề phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ sinh thái. Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triển môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững” (Lê Huy Bá — 2000) “DLST là sự tạo nên và thỏa mãn sự khao khát thiên nhiên, là sự khai thác các tiềm năng du lịch cho bảo tồn va phát triển va là sự ngăn ngừa các tác động tiêu cực lên sinh thái, văn hóa và thâm mỹ”. 10 Hay theo dinh nghia về DLST ở Việt Nam thì : “Du lich sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nổ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương. Một số các loại hình DLST như: - Du lịch xanh, du lịch da ngoại.
- Du lịch nhạy cảm, du thuyền trên sông, hồ, trên biển. - Du lịch thiên nhiên, tham quan miệt vườn, làng bản. - Du lịch môi trường. - Du lịch thám hiểm, mạo hiểm, lặn biển, thăm hang động.
Đặc trưng của loại hình du lịch sinh thái: - Loại hình du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào sức hấp dẫn của tự nhiên và văn hóa bản địa. Cho thấy đối tượng của DLST là những khu vực hấp dẫn với các đặc điểm phong phú về tự nhiên, đa dạng về sinh học và những nét văn hóa bản địa đặc sắc. Đặc biệt những khu tự nhiên còn tương đối hoang sơ, ít bị tác động bởi các hoạt động của con người. Chính vì vậy, hoạt động DLST thường được diễn ra và thích hợp với các Vườn quốc gia hay các khu bảo tồn thiên nhiên.
- Hỗ trợ bảo tồn và quản lý bền vững về sinh thái. Đây là một đặc trưng khác biệt nổi bật nhất của DLST so với các loại hình du lịch khác. Trong DLST, hình thức, địa điểm và mức độ sử dụng cho các hoạt động du lịch phải được quản lí cho sự bền vững của cả hệ sinh thái và bản thân ngành du lịch. - Có hoạt động giáo dục và diễn giải về môi trường.
Đặc trưng nay trong DLST là một yếu tố cơ bản thứ hai, phân biệt nó với loại du lịch tự nhiên II khác. Giáo dục và diễn giải về môi trường là những công cụ quan trọng trong việc tăng thêm những kinh nghiệm du lịch cho du khách. Khách DLST là những khách có thể biết và rất mong muốn được gần gũi, tiếp xúc với môi trường nhằm nâng cao kiến thức và trân trọng môi trường. Việc giáo dực môi trường trong DLST có tác dụng làm thay đổi thái độ của du khách, cộng đồng và chính ngành du lịch đối với giá trị bảo tồn, và sẽ góp phần tạo nên sự phát triển bền vững của hoạt động DLST.
Giáo dục môi trường trong DLST có thể được xem là một công cụ quản lí hữu hiệu cho các khu tự nhiên. - Hỗ trợ phát triển cộng đồng địa phương. DLST phải đảm bảo cải thiện đời sống, tăng thêm lợi ích cho cộng đồng tại địa phương. Cộng đồng địa phương có thể tham gia vào những công việc vận hành DLST trên phương diện cung cấp kiến thức, kinh nghiệm thực tế, các dich vụ, và các sản phẩm phục vụ khách.
- Thỏa mãn nhu cầu về kinh nghiệm du lich cho du khách. Khách DLST thường có mong muốn trải nghiệm trong thiên nhiên và mức độ đáp ứng nhu cầu này sẽ thé hiện chất lượng của hoạt động DLST. Vì vậy, các dịch vụ du lịch phải làm hài lòng du khách, về mặt trải nghiệm thiên nhiên. Các nguyên tắc của hoạt động du lịch sinh thái: - Tạo điều kiện thuận lợi và đảm bảo an toàn cho du khách.
Trong hoạt động tham quan, tìm hiểu về tự nhiên, các hoạt động DLST bắt buộc phải đảm bảo duoc an toàn cho du khách tham gia. Day là nguyên tắc trung tâm cho hoạt động du lịch. Tạo cho du khách thuận lượi khám phá tự nhiên luôn đi kèm với đảm bảo an toàn. - Có hoạt động giáo dục và diễn giải về môi trường qua đó tạo ý thức tham gia vào các nỗ lực bao tồn.