Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN Liên kết phát triển du lịch giữa các địa phương trong vùng, giữa vùng với các địa bàn khác trong một nước và liên kết quốc tế, với các nước nằm trong khu vực nhằm đa dạng hóa sản phẩm du lịch phù hợp với thế mạnh của từng địa phương, tạo sự độc đáo trong các tour du lịch, tăng cường chất lượng sản phẩm du lịch, xúc tiến quảng bá du lịch , vừa tạo sự hài hòa, thống nhất và sức mạnh tổng hợp của từng địa phương, của vùng nhằm tạo lập không gian du lịch thống nhất toàn vùng để cùng phát triển, tăng khả năng cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Lý luận và thực tiễn về liên kết phát triển du lịch được đề cập trong một số các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm như sau: 1. Tổng quan một số công trình nghiên cứu liên quan liên kết và liên kết phát triển vùng 1. Các nghiên cứu liên quan đến liên kết Thuật ngữ liên kết (linkage) từ lâu đã được sử dụng trong nhiều ngành khoa học khác nhau như vật lý học, sinh học, quân sự, chính trị học,… Trong mỗi ngành nó lại có nội hàm và ý nghĩa riêng.
Ngay bản thân trong lý thuyết phát triển, thuật ngữ liên kết, với các tác giả khác nhau, cũng được dùng với nhiều cách khác nhau. Trong lý thuyết phát triển, thuật ngữ liên kết được sử dụng đầu tiên trong các công trình của Perroux (1955) [165] và Hirschman (1958) [130]. Tuy vậy, Perroux và Hirschman lại đi theo hai hướng khác nhau, và chính hai hướng đi này có ảnh hưởng chi phối đối với nhiều công trình nghiên cứu về liên kết của các tác giả đi sau. Hiệu ứng liên kết ngược (backward linkage effects) nảy sinh từ nhu cầu cung ứng đầu vào của một ngành nào đó mới được thiết lập; còn hiệu ứng liên kết xuôi phát sinh từ việc sử dụng đầu ra của ngành đó như là đầu vào của các hoạt động kéo theo.
Ông khuyến nghị cần tập trung đầu tư vào những ngành có các mối liên kết mạnh, để thông qua sức lan tỏa của chúng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (tăng trưởng không cân đối). Với cách quan niệm của mình khi định nghĩa liên kết là quá trình làm thế nào một hoạt động này dẫn đến một hoạt động khác và giải thích thêm rằng liên kết tồn tại 11 khi một hoạt động đang diễn ra kéo theo các chủ thể khác bắt đầu một hoạt động mới, Hirschman đã gây ra rất nhiều sự nhầm lẫn về sau này khi không có sự phân biệt bản thân mối liên kết với những hiệu ứng của nó (Kristiansen, 2003) [146]. Ở góc độ khác, Perroux (1955) [165] tiếp cận liên kết vùng dựa trên ý tưởng về “cực tăng trưởng”, với chiến lược thiết lập các khu vực trong đó có ngành có sức lan tỏa mạnh. Từ đó, ngành cốt lõi này tạo xung lực cho sự phát triển của các khu vực và ngành khác trong phạm vi lân cận.
Mặc dù vậy, nhiều người cho rằng quan điểm về không gian kinh tế và không gian địa lý của Perroux không trùng khớp. Từ đây, yếu tố then chốt trong phát triển không chỉ là sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các ngành nữa mà để có sự phát triển kinh tế vùng phải có sự tập trung về mặt không gian của các hoạt động sản xuất; và Boudeville giả định luôn rằng sự tập trung đó nằm ở đô thị. Các liên kết trong phát triển vùng ở đây nằm ở sự tương tác giữa cực tăng trưởng/đô thị và các vùng nằm trong ảnh hưởng của nó. Một cách tiếp cận khác ngược với kiểu liên kết cực/trung tâm tăng trưởng nêu trên do Friedman and Douglass (1978) [112] đề xuất.
Đây là cách tiếp cận theo kiểu từ dưới lên (bottom-up), hướng tới giải quyết các vấn đề nghèo đói thông qua các dự án ở nông thôn và nông nghiệp, với sự tham gia liên kết của nhiều phía: khu vực tư nhân và nhà nước, các trung tâm nghiên cứu và các trường đại học, các tổ chức xã hội,…, và được triển khai trên quy mô tương đối nhỏ. Nói cách khác, theo cách tiếp cận này, sự phát triển vùng có thể đạt được một cách tốt nhất thông qua sự kết nối giữa phát triển đô thị và phát triển nông thôn ở cấp độ địa phương (Douglass, 1998) [102]. Douglass (1998) chỉ ra 5 liên kết cần lưu ý: (1) Hệ thống thương mại và vận tải đô thị và sản xuất nông nghiệp; (2) Các dịch vụ vật tư nông nghiệp và cường độ sản xuất nông nghiệp; (3) Các thị trường hàng hóa phi nông nghiệp và thu nhập và sức cầu ở nông thôn; (4) Công nghiệp chế biến và đa dạng hóa nông nghiệp; và (5) Việc làm phi nông nghiệp và lao động nông thôn. Martin (2003) [155] tiếp cận khái niệm liên kết giữa đô thị và nông thôn trong vùng trên cơ sở phức hợp các mối quan hệ trong đó.
Có 7 liên kết chủ yếu: (1) Liên kết về cơ sở hạ tầng bao gồm đường sá, cảng và hệ thống cơ sở giáo dục và y tế; (2) Liên 12 kết kinh tế bao gồm cấu trúc thị trường, các dòng vốn, lao động và nguyên vật liệu, hợp tác trong sản xuất và chuyển giao công nghệ; (3) Liên kết dịch chuyển dân số bao gồm các dòng di cư tạm thời và lâu dài; (4) Liên kết xã hội bao gồm tương tác giữa các nhóm xã hội, tôn giáo và văn hóa, và sức khỏe, kỹ năng của dân cư; (5) Liên kết tổ chức bao gồm các chuẩn mực và quy tắc, các tổ chức chính thức và phi chính thức; (6) Liên kết hành chính bao gồm các mối quan hệ về cơ cấu hành chính, các chuỗi quyết định chính trị phi chính thức; và (7) liên kết môi trường bao gồm các mối quan hệ về vốn tự nhiên và chất thải. Trên khía cạnh khác, xem xét mối quan hệ giữa kinh tế, xã hội và thể chế, Kristiansen (2003) [146] chia liên kết thành 3 nhóm: (1) Liên kết như là tổng giá trị kinh tế của các giao dịch giữa các khu vực kinh tế hay khu vực địa lý theo thời gian; (2) Liên kết như là mối liên hệ liên tục giữa các tác nhân kinh tế, bị chi phối bởi các hợp đồng hoặc sự can thiệp của nhà nước; và (3) Liên kết như các quan hệ xã hội hay mạng lưới mà có thể được sử dụng để phát triển vốn xã hội, văn hóa và con người hay thúc đẩy giá trị của các quyết định, giao dịch kinh doanh hoặc phát triển kinh tế. Các nghiên cứu liên quan đến liên kết Ở Việt Nam, hiện đã có nhiều kết quả nghiên cứu về vai trò của liên kết trong phát triển nông nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung theo hướng bền vững ở các vùng khác nhau. Vấn đề liên kết ở nhiều vùng ở Việt Nam đều đã được xem xét, chẳng hạn Vũ Thành Hưng (2011) [40] đánh giá về liên kết phát triển Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Vũ Minh Trai (2011) [71] nghiên cứu vị trí và vai trò của Hà Nội trong mối liên kết vùng kinh tế Đồng Bằng Sông Hồng.
Về liên kết phát triển ở miền Trung và Tây Nguyên, có các nghiên cứu của Lê Thế Giới (2008) [23], Đào Hữu Hòa (2008) [26], Trương Bá Thanh (2009) [65], Nguyễn Danh Sơn (2010) [60], Trần Du Lịch (2011) [45], Nguyễn Văn Huân (2012) [31] và Nguyễn Danh Sơn (2014) [61]. Đối với liên kết phát triển ở phía Nam, có các công trình của Nguyễn Xuân Thắng (2010) [66], Trương Thị Hiền (2011) [39] hay Đinh Sơn Hùng (2011) [29], trong số nhiều tác giả khác. Các tác giả đều thống nhất rằng điều quan trọng là phải có sự liên kết hỗ trợ cùng phát triển, cần xoá bỏ “cát cứ hành chính”, cần có “người nhạc trưởng” để chỉ huy sự phát triển của một vùng. Các nghiên cứu vùng mang tính nền tảng về vùng cũng được nhiều tác giả thực hiện.
Chẳng hạn, Lê Thông và Nguyễn Văn Phú (2004) [67] đã đưa ra một số lý luận 13 cơ bản về vùng và phát triển vùng, đó là các khái niệm về vùng, vùng kinh tế; quan niệm về phát triển bền vững theo vùng; vấn đề xử lý liên vùng trong quá trình phát triển vùng; cơ chế chính sách phát triển vùng; vấn đề phát triển các lãnh thổ đặc biệt và các trung tâm đô thị làm hạt nhân đột phá trên các vùng. Trong đó các tác giả đã đua ra các quan điểm phát triển vùng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến năm 2020 gồm các điểm: (1) Phát triển vùng có trọng tâm, trọng điểm, tránh tràn lan, dàn trải. Trước hết tạo ra sự phát triển nhanh của một vùng lãnh thổ làm động lực, đột phá cho sự phát triển chung của cả nước; (2) Mỗi vùng luôn chú ý phát hiện những nhân tố mới, nổi trội để hình thành các hạt nhân trong vùng để bứt phá đi trước, trở thành động lực trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của cả nước; (3) Bên cạnh phát triển có trọng điểm, luôn chú ý đến sự phát triển của các vùng kém phát triển ở mức độ nhất định nhằm đảm bảo ổn định và phát huy tiềm năng thế mạnh của tất cả các vùng; (4) Phát triển vùng trên cơ sở tận dụng khả năng tài nguyên, nguồn nhân lực tại chỗ và đáp ứng nhu cầu thị trường, đảm bảo lợi ích cộng đồng trong mỗi vùng và hiệu quả kinh tế - xã hội cao; (5) Phát triển vùng phải đảm bảo “giữ được bản sắc vùng”, mỗi vùng phải thể hiện được đặc thù của mình cả về kinh tế và văn hoá; và 6) Phát triển kinh tế vùng phải đảm bảo bền vững cho mỗi vùng và cho cả nền kinh tế. Các tác giả Đỗ Hoài Nam và Võ Đại Lược (2005) [51] đã có đánh giá tương đối toàn diện về vấn đề phát triển các vùng.
Theo đó, sự phát triển kinh tế thị trường sẽ tạo ra sự chênh lệch về trình độ phát triển và thu nhập, vì những vùng có nhiều lợi thế cạnh tranh sẽ tăng trưởng cao hơn các vùng sâu vùng xa, các thành phố sẽ có tốc độ tăng trưởng cao hơn các vùng nông thôn, những lao động có kỹ năng cũng sẽ có thu nhập cao hơn những lao động không có kỹ năng. Do vậy sự chênh lệch về phát triển là khó tránh khỏi.