Chương I của Luật du lịch Việt Nam 2009: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”(Luật du lịch, 2017) Như vậy, du lịch là sự di chuyển và lưu trú tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng. Đồng thời, du lịch cũng là một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú thường xuyên với mục đích phục hồi sức khỏe và nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh. Hay nói cách khác, du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định. Khái niệm về kinh tế du lịch Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác, và nó được định nghĩa như sau: Kinh tế du lịch là một loại hình kinh tế có tính đặc thù, mang tính dịch vụ và thường được xem như ngành công nghiệp không khói, gồm có du lịch quốc tế và du lịch trong nước; có chức Luan van 5 năng, nhiệm vụ tổ chức, khai thác các tài nguyên và cảnh quan của đất nước nhằm thu hút khách du lịch trong nước và ngoài nước; tổ chức buôn bán, xuất nhập khẩu tại chỗ hàng hóa và dịch vụ cho khách du lịch.
Như vậy, chúng ta thấy được kinh tế du lịch là một loại hình kinh tế đặc biệt vì du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, bao gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Nó vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế vừa có đặc điểm của ngành văn hóa - xã hội. Cũng như các ngành kinh tế khác, kinh tế dịch vụ cũng bị tác động và chi phối bởi các quy luật của thị trường và sự quản lý thống nhất của nhà nước để phát triển một cách bền vững (Nguyễn Văn Bình, 2005), 1. Khái niệm dịch vụ và kinh tế dịch vụ C.
Mác cho rằng: "Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, trôi chảy, liên tục để thoả mãn nhu cần ngày càng cao đó của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển". Với định nghĩa như vậy, C. Mác đã chỉ ra nguồn gốc ra đời và sự phát triển của dịch vụ, kinh tế hàng hóa càng phát triển thì dịch vụ càng phát triển mạnh. Khi kinh tế càng phát triển thì vai trò của dịch vụ ngày càng quan trọng và dịch vụ đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khác nhau: từ kinh tế học đến văn hóa học, luật học, từ hành chính học đến khoa học quản lý.
Do vậy mà có nhiều khái niệm về dịch vụ theo nghĩa rộng hẹp khác nhau, đồng thời cách hiểu về nghĩa rộng và nghĩa hẹp cũng khác nhau. (Trần Thùy Anh, 2011) Theo Luật giá năm 2013: Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật. (Luật giá, 2013) Theo Từ điển Tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công. Trong kinh tế học: Dịch vụ là một loại hình kinh tế và được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất.
Có những sản phẩm Luan van 6 thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Trong phạm vi đề tài này, dịch vụ được xem là một lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế quốc dân bao hàm tất cả những hoạt động phục vụ sản xuất và đời sống dân cư. Theo nghĩa này, hoạt động dịch vụ bao hàm cả hoạt động thương mại và được xem xét với tư cách một ngành kinh tế thực hiện quá trình lưu thông trao đổi hàng hóa và thực hiện các công việc phục vụ tiêu dùng của sản xuất và dân cư trên thị trường. * Những đặc điểm cơ bản của dịch vụ - Tính không mất đi sau khi đã cung ứng.
- Tính vô hình hay phi vật chất. - Tính không thể phân chia. - Tính không ổn định và khó xác định được chất lượng. - Tính không lưu giữ được.
- Hàm lượng trí thức trong dịch vụ chiếm tỷ lệ lớn. - Dịch vụ rất nhạy cảm đối với tốc độ thay đổi nhanh chóng của công nghệ. Khái niệm Du lịch sinh thái Trong những năm qua, DLST như một hiện tượng và xu thế phát triển ngày càng chiếm được sự quan tâm của các nước trên thế giới. Ngoài ý nghĩa góp phần bảo tồn tự nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học và văn hóa cộng đồng; phát triển DLST đã mang lại những nguồn lợi kinh tế to lớn, tạo cơ hội giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập quốc gia và thu nhập cho cộng đồng dân cư địa phương, nhất là đối với vùng sâu, vùng xa, nơi có cảnh quan thiên nhiên, văn hóa hấp dẫn.
Mặt khác, DLST còn góp phần vào việc nâng cao dân trí và sức khoẻ cộng đồng thông qua giáo dục môi trường, văn hóa, lịch sử và nghỉ ngơi giải trí. DLST là loại hình du lịch có trách nhiệm, thông qua các hoạt Luan van 7 động nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, phát triển phúc lợi cộng đồng và đảm bảo cho sự phát triển bền vững. Du lịch sinh thái (Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới và nhanh chống thu hút được sự quan tâm của nhiều người thuộc các lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, đến nay chưa có nhận thức thống nhất, còn nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm DLST.
Các tổ chức và cá nhân tham gia nghiên cứu về loại hình du lịch này đều đưa ra những định nghĩa của riêng mình: Một trong những định nghĩa được coi là sớm về DLST mà đến nay vẫn được nhiều người quan tâm là định nghĩa của Hội DLST Quốc tế đưa ra năm 1991: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch có trách nhiệm đối với các vùng tự nhiên, bảo vệ môi trường và duy trì cuộc sống yên bình của người dân địa phương” [16, tr. Định nghĩa này đề cao trách nhiệm bảo vệ môi trường, giữ gìn, tôn tạo, tránh sự ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tự nhiên, hệ sinh thái, và cả cuộc sống của cư dân địa phương. Theo quỹ bảo tồn động vật hoang dã (WWF - World Wild Fund): "Du lịch sinh thái đề cập tới các hoạt động du lịch đi tới các khu vực thiên nhiên hoang dã, gây tác động tối thiểu tới môi trường tự nhiên và cuộc sống của các loài động thực vật hoang dã trong khi mang lại một số lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phương và những người bản địa phục vụ tại đó" [16, tr. Ở định nghĩa này, cũng đề cập đến hoạt động của DLST, đó là các khu vực tự nhiên hoang dã và điều quan trọng là giảm thiểu những tác động tiêu cực đối môi trường tự nhiên, mang lại những lợi ích kinh tế cho cộng cư dân địa phương, những người bản địa làm việc trực tiếp trong ngành du lịch.
Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO - World Tourism Organisation): Du lịch sinh thái là loại hình du lịch được thực hiện tại những khu vực tự nhiên còn ít bị can thiệp bởi con người, với mục đích để chiêm ngưỡng, học Luan van 8 hỏi về các loài động thực vật cư ngụ trong khu vực đó, giúp giảm thiểu và tránh được các tác động tiêu cực tới khu vực mà du khách đến thăm. Ngoài ra, du lịch sinh thái phải đóng góp vào công tác bảo tồn những khu vực tự nhiên và phát triển những khu vực cộng đồng lân cận một cách bền vững đồng thời phải nâng cao được khả năng nhận thức về môi trường và công tác bảo tồn đối với người dân bản địa và du khách đến thăm [16, tr. Đây là một định nghĩa tương đối đầy đủ nó phản nội dung hoạt động cũng như những đặc điểm, mục đích của DLST. Đó là loại hình du lịch mang tính giáo dục, nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho các tổ chức, cá nhân trong việc bảo tồn giữ gìn môi trường tự nhiên và môi trường văn hoá để đảm bảo cho sự phát triển bền vững ở những nơi mà du khách tới thăm quan.
Khái niệm về phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ - Phát triển là một quá trình làm thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội. - Tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm hay gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một giai đoạn hay một thời kỳ nhất định. - Phát triển kinh tế là một khái niệm chung nhất về một chuyển biến của nền kinh tế, từ trạng thái thấp lên trạng thái cao. Theo đó phát triển kinh tế du lịch là thỏa mãn đầy đủ các nhu cầu của khách tại điểm đến, nâng cao hiệu quả kinh doanh của du lịch, tạo nhiều việc làm cho cộng đồng dân cư tại địa phương và phát triển một các bền vững, sản phẩm du lịch không phải là một hoạt động riêng rẽ mà là một quá trình gắn kết với nhau của nhiều sản phẩm hàng hóa do nhiều chủ thể tại điểm đến cung cấp cho khách du lịch.
Phát triển kinh tế du lịch là một nội dung trong phát triển kinh tế xã hội: Là quá trình nâng cao điều kiện về vật chất và tinh thần của con người qua việc tạo ra các sản phẩm du lịch chất lượng cao đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch.