Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Lâm nghiệp với đề tài “Tác động của du lịch sinh thái đến quản lý rừng đặc dụng tại Vườn quốc gia Ba Vì” do nghiên cứu sinh Trần Nho Đạt thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn An Thịnh và PGS. Đồng Thanh Hải, hoàn thành tại Khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường, Trường Đại học Lâm nghiệp vào tháng 12 năm 2022. Luận án thuộc chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, mã số đào tạo 9620211.

Về tính cấp thiết, du lịch sinh thái (DLST) tại Việt Nam gắn liền với hệ thống rừng đặc dụng (RĐD) vốn được hình thành và quy hoạch từ đầu thế kỷ XX (thời kỳ người Pháp khai thác nghỉ dưỡng tại Ba Vì, Tam Đảo, Bạch Mã, Bà Nà). Tính đến năm 2020, quy mô RĐD trên toàn quốc đạt khoảng 2,4 triệu ha với 176 khu quy hoạch, bao gồm 34 Vườn quốc gia (VQG), 72 khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN), 61 khu bảo vệ cảnh quan và 9 khu rừng nghiên cứu thực nghiệm khoa học. Hoạt động DLST trong RĐD mang lại nguồn thu và tạo sinh kế địa phương, nhưng đồng thời phát sinh nhiều tác động tiêu cực: ô nhiễm không khí do phương tiện giao thông và hoạt động xây dựng hạ tầng; ô nhiễm chất thải rắn; tiêu thụ quá mức tài nguyên thiên nhiên (TNTN); một số doanh nghiệp du lịch chú trọng lợi nhuận trước mắt mà chưa tính toán đầy đủ chi phí cơ hội lâu dài đối với hệ sinh thái (HST).

VQG Ba Vì được thành lập năm 1991 theo Quyết định số 17-CT ngày 16/01/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ), trực thuộc Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. VQG sở hữu khí hậu trong lành, nhiều danh thắng suối (Thiên Sơn - Suối Ngà, Ao Vua, Khoang Xanh, Hồ Tiên Sa) cùng hệ thống di tích lịch sử - văn hóa (đền Thượng, đền Trung, đền Hạ, đền thờ Bác Hồ, tháp Báo Thiên, động Ngọc Hoa). VQG Ba Vì đón lượng khách trung bình khoảng 400.000 lượt mỗi năm với doanh thu du lịch trên dưới 20 tỷ đồng. Tuy nhiên, hoạt động DLST tại đây làm nảy sinh ô nhiễm môi trường, chưa gắn kết chặt chẽ với bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH), nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và sinh kế cộng đồng vùng đệm. Bên cạnh đó, yêu cầu tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập có thu đặt ra thách thức lớn cho công tác quản lý RĐD. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là việc thiếu hụt các nghiên cứu đánh giá tổng thể, định lượng các tác động đa chiều của DLST tới các lĩnh vực quản lý RĐD, chưa lượng giá kinh tế tài nguyên cảnh quan và chưa xây dựng được hệ thống giải pháp ưu tiên cùng bộ chỉ số giám sát phục vụ quản lý RĐD.

Mục tiêu chung của luận án là xác lập luận cứ khoa học và thực tiễn về đánh giá tác động của DLST đến quản lý RĐD nói chung và tại VQG Ba Vì nói riêng; đồng thời đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý RĐD tại VQG Ba Vì.

Các mục tiêu cụ thể gồm 5 mục tiêu:

  1. Nghiên cứu, tổng quan được các lý thuyết, công trình nghiên cứu, bài báo liên quan đến quản lý DLST trong RĐD.
  2. Đánh giá được tài nguyên du lịch và thực trạng tổ chức hoạt động DLST tại VQG Ba Vì.
  3. Nghiên cứu được tác động của hoạt động DLST đến công tác bảo tồn ĐDSH và quản lý môi trường, đến quản lý phát triển hạ tầng du lịch và đến quản lý tài chính và công tác tự chủ tài chính của VQG Ba Vì.
  4. Xác định được hệ thống giải pháp tổng thể, các giải pháp ưu tiên thúc đẩy phát triển DLST và nâng cao hiệu quả công tác quản lý RĐD tại VQG Ba Vì.
  5. Xây dựng được bộ chỉ số đánh giá, giám sát công tác quản lý RĐD tại VQG Ba Vì.

Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm: các lý thuyết, công trình nghiên cứu và phương pháp quản lý DLST trong RĐD; các nhà khoa học, cơ quan quản lý, khách du lịch nội địa, cán bộ Ban quản lý (BQL) VQG Ba Vì; tài nguyên du lịch và thực trạng tổ chức hoạt động DLST tại VQG Ba Vì; các tác động của DLST đến bảo tồn ĐDSH, quản lý môi trường, phát triển hạ tầng du lịch, tài chính và công tác tự chủ tài chính; các mô hình định lượng toán học và mô hình hóa phục vụ xác định hệ thống giải pháp và bộ chỉ số giám sát.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Phạm vi không gian: VQG Ba Vì, nằm trên địa bàn thành phố Hà Nội (huyện Ba Vì) và tỉnh Hòa Bình (huyện Lương Sơn và thành phố Hòa Bình). Theo Quyết định số 1181/QĐ-BNN-TCLN ngày 06/5/2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, diện tích quy hoạch VQG là 10.814,6 ha. Sau khi đo đạc thực tế và điều chỉnh chuyển 1.114,46 ha về tỉnh Hòa Bình quản lý năm 2014, diện tích VQG còn 9.702,4 ha (được phê duyệt tại Quyết định số 1668/QĐ-BNN-TCLN ngày 20/4/2021 về Phương án Quản lý, Bảo tồn và Phát triển bền vững VQG Ba Vì giai đoạn 2021-2030).
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp về tài nguyên du lịch, quản lý RĐD và phát triển DLST thu thập trong giai đoạn 2011-2020. Số liệu sơ cấp được thu thập trong giai đoạn 2016-2021 qua 6 đợt điều tra thực địa (du khách và cư dân khảo sát từ 2016-2018; cán bộ quản lý khảo sát từ 2016-2021).

Bố cục luận án gồm 126 trang đánh máy khổ A4 (không kể phụ lục và tài liệu tham khảo), bao gồm phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị, cùng 3 chương nội dung: Chương 1 (Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận), Chương 2 (Nội dung và phương pháp nghiên cứu), Chương 3 (Kết quả nghiên cứu và thảo luận).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Về nghiên cứu ngoài nước, luận án điểm lại lịch sử phát triển khái niệm DLST từ định nghĩa ban đầu của Ceballos-Lascuráin (1987), coi DLST là du lịch đến vùng tự nhiên ít biến đổi nhằm nghiên cứu, thưởng ngoạn cảnh quan hoang dã và văn hóa bản địa, gắn với trách nhiệm môi trường và tạo lợi ích cộng đồng. Các mốc quốc tế lớn được văn bản ghi nhận gồm Năm Quốc tế DLST (2002), Tuyên bố Quebec về DLST (2002) và Thỏa ước Oslo (GEC07, 2007) với sự tham gia của hơn 90 quốc gia. Về mặt tích cực, Sirakaya và cộng sự (khảo sát 282 nhà khoa học) khẳng định DLST là hình thức giáo dục ít tác động; Drumm và Moore (2005) chỉ rõ DLST tạo giá trị kinh tế cho dịch vụ HST và nguồn thu trực tiếp cho bảo tồn; Das và Hussain nghiên cứu tại VQG Kaziranga (Ấn Độ) chỉ ra DLST cải thiện thu nhập hộ gia đình và thái độ bảo tồn; Ishmael khảo sát tại VQG Kakum (Ghana) đánh giá mô hình DLST cộng đồng; Aseres và Sira nghiên cứu tại VQG Dãy núi Bale (Ethiopia) phân tích mâu thuẫn và sự cộng sinh giữa DLST với bảo tồn. Ngược lại, MacKinnon chỉ ra các tác động tiêu cực: quá tải du khách, xáo trộn tập tính động vật, hư hại đường mòn, ô nhiễm, rác thải; Prato cùng Berke và Peterman phân tích thách thức trong dự đoán trạng thái HST của nhà quản lý; Baloglu và Mangaloglu nhấn mạnh sức ép môi trường khi du khách tập trung cao độ tại điểm đến. Về lý thuyết đánh giá, luận án điểm lại lý thuyết hình ảnh điểm đến (Echtner và Ritchie, 2003; Tasci và Gartner, 2007; Jenkins, 1999; Beerli và Martin, 2004 với 9 thành phần thuộc tính) và lý thuyết lòng trung thành du khách (Chen và Gursoy, 2001; Moliner, 2009; Baker và Crompton, 2000; Oppermann, 2000).

Về nghiên cứu trong nước, DLST tại Việt Nam phát triển từ thập niên 1990 gắn với các hội thảo quốc gia (1998, 1999, 2004) và đề tài “Cơ sở khoa học phát triển DLST ở Việt Nam” do Lê Huy Bá chủ trì. Hệ thống lý luận được xây dựng qua các công trình của Nguyễn Văn Đính và Trần Đức Thanh (2001), Lê Huy Bá (2002), Phạm Trung Lương (2002), “Cẩm nang quản lý phát triển DLST ở các khu bảo tồn Việt Nam” (Cục Kiểm lâm và Quỹ Fundeso Tây Ban Nha, 2004), “Các khu rừng đặc dụng Việt Nam” (Tổng cục Lâm nghiệp và GIZ, 2021) và tài liệu “Hướng dẫn quản lý về khu BTTN: một số kinh nghiệm và bài học quốc tế” (2003). Các nghiên cứu tình huống cụ thể tại RĐD gồm: Phạm Thị Phượng và Ngô Thúy Lân tại VQG Tràm Chim; Nguyễn Văn Thuật tại VQG Cát Tiên; các nghiên cứu tại Mẫu Sơn (Lạng Sơn), Bến En (Thanh Hóa), Xuân Nha (Sơn La), Rừng dừa Bảy Mẫu Cẩm Thanh (Hội An); Phạm Trung Lương tại đảo Cát Bà; Nguyễn Thị Kim Yến tại VQG Ba Bể. Trong lĩnh vực lượng giá kinh tế tài nguyên du lịch RĐD, Trần Võ Hùng Sơn (2000) áp dụng phương pháp chi phí du lịch (TCM) tại Hòn Mun (Khánh Hòa) xác định giá trị giải trí đạt 260 tỷ đồng/năm (thặng dư tiêu dùng 45,4 tỷ đồng); Lê Thanh An (2004) lượng giá VQG Bạch Mã đạt 34,2 tỷ đồng/năm (thặng dư tiêu dùng 2,3 triệu đồng/lượt khách). Tại VQG Ba Vì, các công trình đi trước gồm: Bùi Thị Minh Nguyệt (2017) ước lượng mức sẵn lòng chi trả (WTP) bằng phương pháp thực nghiệm lựa chọn; Nguyễn An Thịnh (2020) nghiên cứu hình thức khai thác dịch vụ môi trường rừng; Đỗ Hương Lan (2014) và Phạm Hồng Long (2016) nghiên cứu giải pháp phát triển và chất lượng dịch vụ du lịch.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là: Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận đơn lẻ về bảo tồn hoặc sinh kế, chưa giải quyết một cách tích hợp và triệt để mối quan hệ giữa DLST và quản lý RĐD trên cả ba khía cạnh then chốt: quản lý tài nguyên - môi trường (đặc biệt qua chuỗi nhân quả DPSIR), quản lý hạ tầng du lịch (dưới góc độ hình ảnh điểm đến tác động đến lòng trung thành của du khách) và quản lý tài chính bền vững (lượng giá kinh tế cảnh quan kết hợp giải bài toán tự chủ tài chính cho đơn vị sự nghiệp). Đồng thời, còn thiếu một mô hình định lượng xác định thứ tự ưu tiên của các giải pháp quản lý và thiếu bộ chỉ số giám sát phục vụ thực tiễn điều hành tại VQG.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở pháp lý và khung lý luận chặt chẽ:

  • Quy định pháp lý: Luật Du lịch năm 2017; Luật Lâm nghiệp năm 2017 (Khoản 2 Điều 5 về phân loại RĐD, Điều 53 về hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, DLST, nghỉ dưỡng, Điểm d Khoản 1 Điều 75 về quyền cho thuê môi trường rừng); Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 1994, 2004; Nghị định số 156/2018/NĐ-CP (Điều 14 về phương án quản lý rừng bền vững và giá thuê môi trường rừng tối thiểu 1% tổng doanh thu; Điều 15 về quy chuẩn xây dựng công trình tại các phân khu RĐD); Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đầu tư phát triển RĐD giai đoạn 2011-2020 (quy định quy hoạch 10 năm, cho thuê môi trường rừng không quá 50 năm, chuyển đổi bộ phận kinh doanh có doanh thu trên 3 tỷ đồng/năm thành công ty cổ phần); Nghị định số 69/2008/NĐ-CP và Nghị định số 59/2011/NĐ-CP.
  • Khái niệm và nguyên tắc: Luận án áp dụng định nghĩa DLST theo Luật Du lịch 2017; 6 nguyên tắc và 4 yêu cầu phát triển DLST của Cochrane (2006); khái niệm tài chính bền vững RĐD (khả năng duy trì nguồn thu ổn định đáp ứng nhu cầu chi phí trực tiếp và gián tiếp trong thời gian từ 5 năm trở lên).
  • Ba khung phân tích lý thuyết:
    1. Khung phân tích Động lực - Áp lực - Hiện trạng - Tác động - Đáp ứng (DPSIR) do Cơ quan Môi trường Châu Âu (EEA, 1999) xây dựng: Phân tích tương tác hai chiều thuận và phản hồi giữa kinh tế - xã hội và môi trường nhằm đánh giá nhận thức của du khách và BQL về quản lý môi trường.
    2. Khung đánh giá hình ảnh điểm đến đối với lòng trung thành của du khách (Jenkins và McArthur, 1996; Oppermann, 2000; Baker và Crompton, 2000): Đánh giá 4 nhân tố cấu thành hình ảnh điểm đến (Sức hấp dẫn, Cơ sở hạ tầng, Khả năng tiếp cận, Hình ảnh cảm xúc) tác động đến lòng trung thành (ý định quay lại và giới thiệu điểm đến).
    3. Khung đánh giá tự chủ tài chính trên cơ sở các mô hình lượng giá tài nguyên: Sử dụng phương pháp chi phí du lịch vùng (ZTCM) với hàm cầu $V_i = V(TC_i, POP_i, S_i)$ để ước lượng thặng dư tiêu dùng; sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) với hàm mức sẵn lòng chi trả $WTP = f(w_i, a_i, e_i, q_i)$ nhằm xác định giá trị bảo tồn cảnh quan (sử dụng và phi sử dụng).

Hệ thống phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp (P2) và phân tích, tổng hợp tài liệu (P3): Khai thác dữ liệu quy hoạch, báo cáo tài chính, quản lý rừng từ BQL VQG Ba Vì, Tổng cục Lâm nghiệp và các cơ sở dữ liệu quốc tế (World Bank, UNDP, FAO, Springer, ScienceDirect, Emerald, Wiley & Sons).
  • Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp (P1): Triển khai qua 6 đợt khảo sát thực địa (tháng 8/2016, tháng 6/2017, tháng 11/2018, tháng 2/2019, tháng 6/2020 và tháng 3/2021). Hệ thống phiếu hỏi gồm:
    • Phiếu ZTCM: 18 câu hỏi, thu về 73 phiếu hợp lệ từ du khách nội địa.
    • Phiếu CVM: 22 câu hỏi cho du khách nội địa (73 phiếu hợp lệ) và 19 câu hỏi cho cư dân địa phương (85 phiếu hợp lệ).
    • Phiếu khảo sát hình ảnh điểm đến và lòng trung thành: Phát ra 250 phiếu, thu về 237 phiếu hợp lệ (Mẫu 01 gồm 14 câu cho du khách; Mẫu 02 gồm 26 câu cho người dân và hộ kinh doanh; Mẫu 03 gồm 7 câu đánh giá mô hình hình ảnh điểm đến).
    • Phiếu đánh giá môi trường theo DPSIR: 25 phiếu dành cho du khách nội địa và 7 phiếu dành cho cán bộ BQL VQG Ba Vì.
    • Phỏng vấn sâu, tham vấn chuyên gia: Phỏng vấn cán bộ kiểm lâm thuộc Hạt Kiểm lâm VQG Ba Vì, chuyên gia lâm nghiệp và đại diện doanh nghiệp du lịch.
  • Các phương pháp phân tích số liệu:
    • Phân tích thống kê mô tả sử dụng giá trị trung bình có trọng số (wMean) trên thang đo Likert 5 điểm (P5).
    • Phương pháp ma trận tác động Leopold (P6): Đánh giá tương tác định lượng giữa hoạt động DLST với các yếu tố môi trường tự nhiên tại VQG và trên các tuyến du lịch.
    • Mô hình hóa phương trình cấu trúc (SEM) (P7): Thực hiện kiểm định độ tin cậy thang đo bằng Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và kiểm định mô hình SEM.
    • Mô hình lượng giá ZTCM (P8) và CVM (P9) phục vụ phân tích tài chính.
    • Quá trình phân tích thứ bậc (AHP) 2 bậc (P4): Xây dựng ma trận so sánh cặp xác định trọng số ưu tiên của hệ thống giải pháp quản lý RĐD.

Thiết kế nghiên cứu tổng thể của luận án được thể hiện qua bảng sau:

STT Thiết kế nội dung nghiên cứu Khung lý thuyết áp dụng Phương pháp nghiên cứu áp dụng
1 Luận chứng khoa học về nghiên cứu đánh giá tác động của DLST đến quản lý RĐD (N1) Khung lý luận quản lý RĐD và tài chính bền vững Thu thập số liệu thứ cấp (P2); Phân tích, tổng hợp tài liệu (P3)
2 Phân tích thực trạng tổ chức hoạt động DLST tại VQG Ba Vì (N2) Cơ sở pháp lý và tiêu chuẩn DLST trong RĐD Thu thập số liệu thứ cấp (P2); Phân tích, tổng hợp tài liệu (P3)
3 Đánh giá tác động của DLST đến công tác bảo tồn ĐDSH và quản lý môi trường tại VQG Ba Vì (N3) Khung phân tích Động lực - Áp lực - Thực trạng - Tác động - Đáp ứng (DPSIR) (K1) Thu thập số liệu sơ cấp (P1); Thu thập số liệu thứ cấp (P2); Phân tích thống kê mô tả Likert 5 (P5); Ma trận Leopold (P6)
4 Đánh giá tác động của DLST đến quản lý phát triển hạ tầng du lịch tại VQG Ba Vì (N4) Khung đánh giá hình ảnh điểm đến đối với lòng trung thành của du khách (K2) Thu thập số liệu sơ cấp (P1); Mô hình hóa phương trình cấu trúc (SEM) (P7)
5 Đánh giá tác động của DLST đến quản lý tài chính và công tác tự chủ tài chính của VQG Ba Vì (N5) Khung đánh giá tự chủ tài chính trên cơ sở các mô hình lượng giá tài nguyên du lịch (K3) Phương pháp chi phí du lịch vùng (ZTCM) (P8); Phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) (P9)
6 Đánh giá tổng hợp tác động của DLST tới quản lý RĐD (N6) Khung đánh giá đa lĩnh vực quản lý RĐD Phương pháp ma trận tác động Leopold (P6)
7 Xác định các giải pháp ưu tiên và xây dựng bộ tiêu chí giám sát hoạt động DLST và quản lý RĐD (N7) Khung ra quyết định đa tiêu chí Thu thập số liệu sơ cấp (P1); Thu thập số liệu thứ cấp (P2); Quá trình phân tích thứ bậc (AHP) (P4)

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về phát triển DLST trong các khu bảo tồn, đồng thời phân tích cơ sở pháp lý và lý luận liên quan đến ba trụ cột quản lý RĐD: quản lý tài nguyên - môi trường, quản lý hạ tầng du lịch và quản lý tài chính bền vững. Luận án phân tích chi tiết quy chế pháp lý từ Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (1994, 2004), Luật Du lịch (2017), Luật Lâm nghiệp (2017), Nghị định 156/2018/NĐ-CP và Quyết định 24/2012/QĐ-TTg. Các nội dung pháp lý quan trọng được tổng hợp bao gồm: quy định về phân khu chức năng (phân khu bảo vệ nghiêm ngặt chỉ được lập đường mòn, cáp treo/ngầm, chòi ngắm cảnh; phân khu phục hồi sinh thái đường giao thông không vượt cấp IV miền núi; phân khu dịch vụ - hành chính được xây dựng công trình du lịch); chính sách cho thuê môi trường rừng với mức giá tối thiểu 1% tổng doanh thu và thời hạn thuê không quá 30 năm (theo Nghị định 156) hoặc tối đa 50 năm điều chỉnh 5 năm/lần không quá 2% doanh thu (theo Quyết định 24); cơ chế chuyển đổi bộ phận kinh doanh có doanh thu trên 3 tỷ đồng/năm sang công ty cổ phần BQL nắm giữ tối thiểu 51% vốn điều lệ. Chương này xác lập ma trận dự kiến tác động của DLST tới 3 lĩnh vực quản lý RĐD làm cơ sở định hướng cho toàn bộ nghiên cứu thực nghiệm.

Chương 2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu tích hợp gồm 7 nội dung cụ thể (N1 đến N7), vận dụng 3 khung lý thuyết (DPSIR, hình ảnh điểm đến - lòng trung thành, khung tự chủ tài chính từ lượng giá tài nguyên) và 9 phương pháp nghiên cứu (P1 đến P9). Chương mô tả quy trình thiết kế công cụ khảo sát thực địa với 4 loại phiếu hỏi cụ thể, phương thức chọn mẫu ngẫu nhiên và phân tầng, quy trình 6 đợt khảo sát thực địa từ năm 2016 đến năm 2021. Phương pháp luận toán học cho từng kỹ thuật được diễn giải chi tiết: công thức tính wMean trên thang đo Likert 5 phân cấp từ rất thấp đến rất cao; nguyên lý ma trận Leopold kết hợp độ lớn và tầm quan trọng của tác động; quy trình kiểm định thang đo SEM (Cronbach’s Alpha > 0,6; EFA với hệ số KMO và phương sai trích; CFA kiểm định độ phù hợp mô hình); quy trình thiết lập hàm cầu ZTCM phân chia vùng nguồn gốc du khách để tính thặng dư tiêu dùng; quy trình thiết kế kịch bản CVM dạng mở/thực nghiệm để ước lượng mức sẵn lòng chi trả (WTP) trung bình; và cấu trúc mô hình AHP 2 bậc nhằm phân tích thứ bậc quyết định lựa chọn nhóm giải pháp ưu tiên.

Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 3 tập trung các kết quả nghiên cứu thực nghiệm và thảo luận khoa học qua 7 nhóm nội dung chính:

  1. Thực trạng công tác quản lý RĐD và hoạt động DLST tại VQG Ba Vì:
  • Về quản lý: Phân tích cơ cấu tổ chức của BQL VQG Ba Vì; thực trạng công tác cho thuê môi trường rừng năm 2018 và diện tích các đơn vị nhận khoán bảo vệ rừng có kinh doanh du lịch.
  • Về tài nguyên du lịch: Thống kê chi tiết tài nguyên thực vật bậc cao có mạch theo các ngành, họ, chi; tài nguyên động vật rừng theo các nhóm giá trị công dụng.
  • Về hoạt động du lịch: Thống kê các tuyến điểm du lịch chính (cốt 400, cốt 1100, đền Thượng, đền Bác Hồ, Ao Vua, Khoang Xanh, Thiên Sơn - Suối Ngà...); phân tích số liệu du khách và doanh thu dịch vụ du lịch giai đoạn 2012-2020 (trung bình đón khoảng 400.000 khách, doanh thu xấp xỉ 20 tỷ đồng/năm).
  1. Đánh giá tác động của DLST đối với công tác quản lý môi trường:
  • Sử dụng ma trận Leopold đánh giá tác động tổng thể của các hoạt động du lịch tới môi trường tại VQG và chi tiết tại các tuyến du lịch.
  • Áp dụng khung DPSIR qua phân tích thống kê mô tả (wMean theo Likert 5) từ dữ liệu khảo sát du khách và cán bộ BQL đối với: các yếu tố Động lực (D) (khai thác khoáng sản phụ cận, dịch vụ du lịch, giao thông vùng đệm, quy hoạch huyện Ba Vì, mở rộng Hà Nội); các yếu tố Áp lực (P) (khai thác TNTN, nhà hàng khách sạn, giao thông xây dựng); các yếu tố Hiện trạng môi trường và Nguồn thải (S) (không khí, nước, đất, rác thải); các yếu tố Tác động (I) của DLST tới môi trường tự nhiên và hệ sinh thái; và các yếu tố Đáp ứng (R) gồm các giải pháp quản lý, bảo vệ môi trường hiện hành cùng đánh giá hiệu quả quản lý.
  1. Đánh giá tác động của DLST tới bảo tồn đa dạng sinh học: Phân tích tác động trực tiếp và gián tiếp của các hoạt động du lịch dã ngoại, lưu trú, xây dựng cơ sở hạ tầng đến thảm thực vật rừng tự nhiên, làm chia cắt sinh cảnh sống và gây xáo trộn tập tính cư trú của các loài động vật hoang dã tại các phân khu chức năng của VQG.

  2. Tác động của DLST đến quản lý phát triển hạ tầng du lịch sinh thái:

  • Phân tích mẫu khảo sát du khách (237 phiếu hợp lệ).
  • Kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha cho các thang đo nhân tố.
  • Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) và khẳng định (CFA) trích xuất được 4 nhóm nhân tố ảnh hưởng cấu thành hình ảnh điểm đến VQG Ba Vì: (1) Sức hấp dẫn; (2) Cơ sở hạ tầng; (3) Khả năng tiếp cận; (4) Hình ảnh cảm xúc.
  • Kết quả mô hình SEM khẳng định mối quan hệ tác động có ý nghĩa thống kê của các nhân tố hình ảnh điểm đến tới lòng trung thành của du khách (ý định quay trở lại và giới thiệu cho cộng đồng), làm căn cứ khoa học cho quy hoạch hạ tầng du lịch thân thiện với môi trường.
  1. Đánh giá tác động của DLST đối với quản lý tài chính và công tác tự chủ tài chính:
  • Đánh giá nguồn thu trực tiếp: Phân tích kế hoạch, dự toán thu - chi từ nguồn ngân sách nhà nước cấp chi thường xuyên và ngoài thường xuyên giai đoạn 2018-2020; tổng hợp thu - chi phí, lệ phí và dịch vụ giai đoạn 2018-2020.
  • Lượng giá nguồn thu tiềm năng từ vốn tự nhiên:
    • Phương pháp ZTCM: Phân chia 4 vùng nguồn gốc xuất phát của du khách nội địa, tính toán tỷ lệ tham quan trên 1.000 dân trong một năm từ các vùng, chi phí du lịch bình quân, xây dựng đường cầu giải trí của du khách đến VQG Ba Vì và ước tính thặng dư người tiêu dùng.
    • Phương pháp CVM: Khảo sát mức độ hiểu biết và đánh giá tầm quan trọng của du khách và cư dân địa phương đối với việc bảo vệ cảnh quan du lịch; ước lượng mức sẵn lòng chi trả (WTP) trung bình của du khách và cư dân cho quỹ bảo tồn cảnh quan VQG Ba Vì.
    • Phân tích cơ cấu giá trị sử dụng và phi sử dụng trong tổng giá trị kinh tế của VQG Ba Vì.
  • Bài toán tự chủ tài chính: Tổng hợp số liệu năm 2021 về các khoản phải chi thực tế, các khoản phải chi khi chuyển sang cơ chế tự chủ tài chính, các khoản thu thực tế và lập bảng cân đối thu - chi năm 2021 để xây dựng lộ trình tự chủ tài chính cho BQL VQG Ba Vì.
  1. Đánh giá tổng hợp tác động của DLST đến công tác quản lý RĐD tại VQG Ba Vì: Tổng hợp các phát hiện từ ma trận Leopold, mô hình SEM và phân tích tài chính để đánh giá toàn diện mức độ tác động của DLST đến ba lĩnh vực: Quản lý tài nguyên và môi trường (chất thải rắn, nước thải, ô nhiễm cục bộ, áp lực ĐDSH); Quản lý phát triển hạ tầng DLST; Quản lý tài chính và tự chủ tài chính.

  2. Đề xuất hệ thống giải pháp và bộ tiêu chí quản lý RĐD:

  • Ứng dụng mô hình phân tích thứ bậc AHP 2 bậc: Thiết lập ma trận so sánh cặp nhóm giải pháp bậc 1 và ma trận so sánh cặp nội bộ của 4 nhóm giải pháp cụ thể:
    • Nhóm GP1: Giải pháp về quản lý tài nguyên, bảo tồn ĐDSH và bảo vệ môi trường.
    • Nhóm GP2: Giải pháp về quản lý và phát triển cơ sở hạ tầng DLST.
    • Nhóm GP3: Giải pháp về quản lý tài chính và tự chủ tài chính.
    • Nhóm GP4: Giải pháp về nâng cao năng lực quản lý, giáo dục môi trường và hợp tác cộng đồng. Tính toán trọng số ưu tiên xác định các giải pháp cấp bách cần ưu tiên phân bổ nguồn lực.
  • Đề xuất bộ tiêu chí phục vụ đánh giá, giám sát công tác quản lý RĐD và phát triển DLST tại VQG Ba Vì.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác lập 3 đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn:

  1. Luận chứng đầy đủ, cập nhật cơ sở khoa học về DLST trong RĐD và tác động của hoạt động DLST tới quản lý RĐD. Luận án tích hợp các khung lý thuyết hiện đại (DPSIR, hình ảnh điểm đến, tài chính bền vững) vào bối cảnh thể chế quản lý lâm nghiệp Việt Nam theo Luật Lâm nghiệp 2017 và Nghị định 156/2018/NĐ-CP.
  2. Lần đầu tiên lượng giá được giá trị cảnh quan du lịch thông qua việc thực hiện đánh giá tổng hợp tác động của hoạt động DLST tới các lĩnh vực quản lý RĐD tại VQG Ba Vì trên cơ sở sử dụng kết hợp các mô hình định lượng toán học và lượng giá kinh tế (Leopold, SEM, ZTCM, CVM), cung cấp luận cứ định lượng về nguồn thu tiềm năng và cơ cấu giá trị sử dụng - phi sử dụng phục vụ bài toán tự chủ tài chính.
  3. Lần đầu tiên mô hình AHP 2 bậc được sử dụng để xác định các giải pháp ưu tiên và đề xuất được bộ chỉ số giám sát DLST, hiệu quả quản lý RĐD tại VQG Ba Vì.

Về kiến nghị và giải pháp, luận án đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp can thiệp có thứ tự ưu tiên:

  • Nhóm GP1 (Tài nguyên và môi trường): Tăng cường phân vùng quản lý nghiêm ngặt; kiểm soát sức chứa tại các điểm du lịch cốt 400 và cốt 1100; lắp đặt hệ thống thu gom và xử lý rác thải rắn, nước thải đạt chuẩn; tăng cường tuần tra giám sát của kiểm lâm.
  • Nhóm GP2 (Hạ tầng du lịch): Quy hoạch hạ tầng giao thông và điểm dừng chân hài hòa cảnh quan tự nhiên theo đúng Điều 15 Nghị định 156/2018/NĐ-CP; nâng cao chất lượng cơ sở vật chất và khả năng tiếp cận các điểm tham quan nhằm duy trì hình ảnh điểm đến tích cực.
  • Nhóm GP3 (Tài chính và tự chủ tài chính): Đa dạng hóa nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng; hoàn thiện cơ chế đấu giá và quản lý hợp đồng cho thuê môi trường rừng kinh doanh DLST (mức thu tối thiểu 1% tổng doanh thu); từng bước cân đối thu - chi thường xuyên để chuyển đổi lộ trình tự chủ tài chính cho đơn vị sự nghiệp.
  • Nhóm GP4 (Nâng cao năng lực và liên kết cộng đồng): Đào tạo nghiệp vụ DLST cho cán bộ BQL; tăng cường chia sẻ lợi ích kinh tế với cư dân vùng đệm; đẩy mạnh các chương trình giáo dục môi trường tại chỗ cho du khách tham quan.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định các giới hạn gắn liền với phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi nghiên cứu thực nghiệm tập trung tại địa bàn VQG Ba Vì, do đó việc ngoại suy kết quả sang các hệ sinh thái RĐD đặc thù khác (như rừng ngập mặn, rừng trên núi đá vôi) cần có sự điều chỉnh tham số cho phù hợp với đặc thù sinh thái và thể chế quản lý địa phương.
  • Mẫu khảo sát du khách phục vụ các mô hình định lượng (SEM, ZTCM, CVM) tập trung vào đối tượng du khách nội địa, chưa mở rộng điều tra phân tích nhóm du khách quốc tế do đặc điểm cơ cấu nguồn khách tại VQG Ba Vì chủ yếu là khách trong nước.
  • Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp trong giai đoạn 2011-2020 và số liệu tài chính chi tiết khảo sát đến năm 2021; bài toán tự chủ tài chính cần tiếp tục cập nhật chuỗi số liệu thực tế trong các giai đoạn tiếp theo của đề án tự chủ đơn vị sự nghiệp công lập.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được xác định là mở rộng nghiên cứu tác động của DLST đối với các HST rừng khác trong hệ thống RĐD Việt Nam, tiếp tục nghiên cứu cơ chế chi trả dịch vụ hệ sinh thái du lịch và ứng dụng công nghệ số trong theo dõi, giám sát bộ chỉ số quản lý RĐD theo thời gian thực.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu: Luận án cung cấp một khung thiết kế nghiên cứu liên ngành mẫu mực, kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương pháp nghiên cứu lâm nghiệp, môi trường với các mô hình kinh tế lượng và thống kê đa biến (DPSIR, ma trận Leopold, SEM, AHP, ZTCM, CVM). Đây là tài liệu tham khảo hữu ích cho các chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Kinh tế tài nguyên và môi trường, Lâm sinh, và Quản trị dịch vụ du lịch.
  • Đối với giảng viên và các viện, trường đại học: Cung cấp tư liệu giảng dạy thực chứng về quản lý RĐD, lượng giá kinh tế vốn tự nhiên, đánh giá sức tải sinh thái và phương pháp phân tích thứ bậc trong ra quyết định quản lý.
  • Đối với các nhà quản lý, BQL các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên và cơ quan quản lý nhà nước (Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Nông nghiệp và PTNT các địa phương): Luận án cung cấp cơ sở khoa học và công cụ thực tế để xây dựng phương án quản lý rừng bền vững, đề án phát triển du lịch sinh thái, thẩm định hợp đồng cho thuê môi trường rừng và xây dựng phương án tự chủ tài chính theo quy định pháp luật hiện hành.

Câu hỏi thường gặp

1. Vườn quốc gia Ba Vì được thành lập khi nào và có sự biến động diện tích quản lý như thế nào theo các văn bản pháp lý? VQG Ba Vì được thành lập theo Quyết định số 17-CT ngày 16/01/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ). Theo Quyết định số 1181/QĐ-BNN-TCLN ngày 06/5/2010 của Bộ Nông nghiệp và PTNT, diện tích quy hoạch VQG là 10.814,6 ha. Đến năm 2014, VQG thực hiện điều chỉnh chuyển 1.114,46 ha về tỉnh Hòa Bình quản lý, diện tích còn lại là 9.702,4 ha (được tái khẳng định tại Quyết định số 1668/QĐ-BNN-TCLN ngày 20/4/2021 của Bộ Nông nghiệp và PTNT phê duyệt Phương án Quản lý, Bảo tồn và Phát triển bền vững VQG Ba Vì giai đoạn 2021-2030).

2. Luận án đã áp dụng những khung phân tích và mô hình định lượng cụ thể nào để đánh giá tác động của du lịch sinh thái? Luận án áp dụng 3 khung phân tích lý thuyết: Khung DPSIR (Động lực - Áp lực - Hiện trạng - Tác động - Đáp ứng); Khung đánh giá hình ảnh điểm đến đối với lòng trung thành của du khách; Khung đánh giá tự chủ tài chính từ mô hình lượng giá tài nguyên. Hệ thống mô hình định lượng gồm: Ma trận tác động Leopold; Phân tích thống kê mô tả wMean thang đo Likert 5 điểm; Mô hình hóa phương trình cấu trúc (SEM) kết hợp Cronbach's Alpha, EFA, CFA; Phương pháp chi phí du lịch vùng (ZTCM); Phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM); và Mô hình phân tích thứ bậc (AHP) 2 bậc.

3. Quy mô mẫu điều tra sơ cấp của luận án được phân bổ như thế nào? Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua 6 đợt khảo sát thực địa (2016-2021) với các cỡ mẫu cụ thể: Điều tra ZTCM gồm 73 phiếu hợp lệ từ du khách nội địa; Điều tra CVM gồm 73 phiếu du khách nội địa và 85 phiếu cư dân địa phương; Điều tra mô hình SEM hình ảnh điểm đến gồm 237 phiếu hợp lệ (trên 250 phiếu phát ra); Điều tra môi trường theo DPSIR gồm 25 phiếu du khách và 7 phiếu cán bộ BQL; kết hợp các cuộc phỏng vấn sâu trực tiếp cán bộ kiểm lâm thuộc Hạt Kiểm lâm và BQL VQG Ba Vì.

4. Khung pháp lý nào chi phối quy định về xây dựng hạ tầng và cho thuê môi trường rừng tại VQG Ba Vì được tác giả phân tích? Các quy định pháp lý then chốt gồm: Luật Lâm nghiệp năm 2017 (Điều 5, Điều 53, Điều 75); Nghị định số 156/2018/NĐ-CP (Điều 14 quy định thời hạn cho thuê môi trường rừng không quá 30 năm, giá thuê tối thiểu 1% tổng doanh thu; Điều 15 quy định nghiêm ngặt về phân khu xây dựng công trình du lịch); và Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (quy định quy hoạch 10 năm, cho thuê môi trường rừng không quá 50 năm, chuyển đổi bộ phận kinh doanh có doanh thu trên 3 tỷ đồng/năm thành công ty cổ phần BQL nắm giữ từ 51% vốn).

5. Mô hình phân tích thứ bậc AHP 2 bậc được sử dụng nhằm mục đích gì trong luận án? Mô hình AHP 2 bậc được sử dụng để định lượng hóa quá trình ra quyết định đa tiêu chí, thông qua tính toán ma trận so sánh cặp giữa nhóm giải pháp bậc 1 và ma trận nội bộ của 4 nhóm giải pháp cụ thể (GP1: Quản lý tài nguyên, bảo tồn ĐDSH và bảo vệ môi trường; GP2: Quản lý và phát triển cơ sở hạ tầng DLST; GP3: Đổi mới cơ chế tài chính và tự chủ tài chính; GP4: Nâng cao năng lực và hợp tác cộng đồng). Kết quả tính toán trọng số giúp xác định các giải pháp ưu tiên cao nhất để phân bổ nguồn lực thực thi hiệu quả.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Nho Đạt là công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu, hoàn chỉnh và có hệ thống về tác động của du lịch sinh thái đến công tác quản lý rừng đặc dụng tại Vườn quốc gia Ba Vì. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa cơ sở lý luận, khung thể chế pháp lý lâm nghiệp và các công cụ mô hình hóa định lượng (DPSIR, Leopold, SEM, ZTCM, CVM, AHP), luận án đã làm sáng tỏ thực trạng tài nguyên du lịch, nhận diện các xung đột môi trường - đa dạng sinh học, lượng giá kinh tế vốn tự nhiên và đề xuất lời giải cho bài toán tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập. Hệ thống 4 nhóm giải pháp ưu tiên và bộ tiêu chí giám sát được xây dựng là căn cứ khoa học trực tiếp hỗ trợ các nhà quản lý trong việc nâng cao hiệu quả quản lý bền vững Vườn quốc gia Ba Vì và hệ thống rừng đặc dụng tại Việt Nam.