chương I thì “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch” (Quốc Hội, 2017). Theo Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên) cùng nhóm tác giả đã đưa ra định nghĩa về tài nguyên du lịch như sau: “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên, văn hóa - lịch sử cùng các thành phần của chúng có sức hấp dẫn với du khách; đã, đang và sẽ được khai thác, cũng như bảo vệ nhằm đáp ứng nhu cầu của du lịch một cách hiệu quả và bền vững” (Nguyễn Minh Tuệ, 2010). Như vậy, đối với mỗi nhà nghiên cứu đều có cái nhận định khác nhau về tài nguyên du lịch, song về cơ bản có điểm chung là đều đề cập đến các yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa do con người tạo ra có sức hấp dẫn đối với du khách. Tuy nhiên cần lưu ý: - Tổng thể tự nhiên và nhân văn có tính chất của tài nguyên du lịch nhưng chưa có nhu cầu du lịch thì chưa được coi là tài nguyên du lịch mà chỉ có thể được coi ở dạng tiềm năng.
- Chỉ những tài nguyên khai thác thật sự tạo ra sản phẩm du lịch đem lại hiệu quả cao mới được trao quyền sở hữu cho du lịch. - Trong điều kiện nhu cầu tăng cao, việc đưa các tổng thể tự nhiên, nhân văn không thật thuận lợi vào việc khai thác phục vụ du lịch phải được cải tạo theo quy luật đáp ứng nhu cầu của con người. * Đặc điểm tài nguyên du lịch - Tài nguyên du lịch rất đa dạng và phong phú, trong đó có nhiều tài nguyên đặc sắc và độc đáo có sức hấp dẫn rất lớn đối với khách du lịch. Tài nguyên du lịch là điều kiện cần để tạo ra sản phẩm du lịch, tài nguyên du Luan van 14 lịch càng đa dạng và phong phú thì sản phẩm du lịch càng phong phú nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của du khách.
Chẳng hạn để thỏa mãn nhu cầu tham quan, tìm hiểu để nâng cao nhận thức của khách du lịch thì tài nguyên du lịch có thể là các lễ hội, các sinh hoạt truyền thống của một vùng chợ, của một số các dân tộc ít người, các di tích lịch sử - văn hóa, các bảo tàng, các thác nước, hồ, sông, suối, các hang động, các cánh rừng nguyên sinh với sự đa dạng sinh học cao. - Tài nguyên du lịch không chỉ có giá trị hữu hình mà còn có giá trị vô hình. Đây có thể được xem là một trong những đặc điểm quan trọng của tài nguyên du lịch, khác với những nguồn tài nguyên khác. Tài nguyên du lịch là phương tiện vật chất trực tiếp tham gia vào việc hình thành các sản phẩm du lịch.
Đó chính là những giá trị hữu hình của tài nguyên du lịch. Ví dụ: tắm biển chính là sản phẩm du lịch tồn tại hữu hình từ các bãi cát, nước biển với những đặc điểm tự nhiên cụ thể. Còn giá trị vô hình của tài nguyên này chính là sự cảm nhận được của khách du lịch thông qua những cảm xúc tâm lý, làm thỏa mãn nhu cầu tinh thần (thẩm mỹ, văn hóa), một nhu cầu đặc biệt của khách du lịch. Giá trị vô hình của tài nguyên du lịch đôi khi còn được thể hiện thông qua những thông tin (nghe kể lại, qua báo chí, truyền hình, quảng cáo…) mà khách du lịch cảm nhận được, ngưỡng mộ và mong muốn đến tận nơi để thưởng thức.
Hoặc chẳng hạn đối với các tài nguyên như nhã nhạc cung đình Huế, cồng chiêng Tây Nguyên. Người ta chỉ thật sự cảm nhận được giá trị của các tài nguyên này thông qua tiếng nhạc, tiếng cồng chiêng vì các ý nghĩa khi dùng những nhạc cụ, dàn nhạc. - Tài nguyên du lịch có tính sở hữu chung. Theo Luật Du lịch Việt Nam, năm 2017 điều 7, mục 1 quy định: “Cộng đồng dân cư có quyền tham gia và hưởng lợi ích hợp pháp từ hoạt động du lịch”.
Và tại điều 5, mục 4 Luật Du lịch Việt Nam, năm 2017 cũng quy định: “Nhà nước ta đảm bảo sự tham gia của mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư trong phát triển du lịch” (Quốc Hội, 2017). Qua đó cho thấy, về nguyên tắc thì bất kì công dân nào cũng có quyền được thẩm định, thưởng thức các giá trị của tài nguyên du lịch. Việc khai thác tài nguyên du lịch là quyền của mọi doanh nghiệp du lịch. Không có cá nhân hoặc doanh Luan van 15 nghiệp nào được độc quyền tổ chức các tour du lịch, khai thác tài nguyên du lịch tại bất cứ điểm du lịch nào.
Thậm chí một công ty hay một tập đoàn tư bản đầu tư quy hoạch xây dựng một khu du lịch, song cũng không thể độc quyền tổ chức các tour du lịch mà chỉ có thể hưởng lợi nhuận từ việc đầu tư xây dựng và tổ chức kinh doanh. Vì thế nếu như lượng khách du lịch đến càng ít sẽ dẫn đến lãng phí tài nguyên, cơ sở vật chất kỹ thuật và từ đó kéo theo hiệu quả kinh doanh thấp. - Tài nguyên du lịch có thời gian khai thác khác nhau. Trong số các tài nguyên du lịch, có những tài nguyên có khả năng khai thác quanh năm, nhưng có những tài nguyên chỉ khai thác vào một số thời điểm trong năm, phụ thuộc chủ yếu vào thờì tiết khí hậu và chính điều này tạo nên tính thời vụ trong du lịch.
Đối với các tài nguyên biển, thời gian khai thác thích hợp nhất là vào thời kì có khí hậu nóng bức trong năm; đối với nguồn tài nguyên nhân văn là các lễ hội thì thời điểm hoạt động du lịch, thu hút khách trùng với thời gian diễn ra lễ hội. Thời gian diễn ra lễ hội thường gắn với đặc điểm tôn giáo, hoặc đặc điểm hình thành các lễ hội đó và mùa xuân là mùa của lễ hội với các lễ hội nổi tiếng như lễ hội Chùa Hương, lễ hội Đền Hùng (mồng 10 tháng 3), Hội Lim (ngày 13 tháng giêng), lễ hội đền Cổ Loa (từ ngày 6 đến 16 tháng giêng), Hội Gióng, Hội Đống Đa,… Thời kì mùa khô, ít mưa, có tiết trời ấm áp và có thời tiết tốt là thời kì thuận lợi cho nhiều loại hình du lịch. Các địa phương, những người quản lý, điều hành và tổ chức các hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch cũng như du khách đều phải quan tâm đến tính chất mùa vụ của du lịch để có biện pháp chủ động điều tiết thích hợp nhằm đạt được hiệu quả cao nhất. - Tài nguyên du lịch được khai thác tại chỗ để tạo ra sản phẩm du lịch.
Không như những ngành sản xuất các sản phẩm hàng hóa khác là tài nguyên sau khi khai thác có thể đưa đến nơi để chế biến ra các sản phẩm, sau đó các sản phẩm phải được vận chuyển đến tận nơi tiêu thụ. Còn đối với ngành du lịch, tài nguyên du lịch được khai thác ở vị trí nào thì sẽ cho ra sản phẩm du lịch ngay tại vị trí đó và du khách muốn được chiêm ngưỡng các sản phẩm du lịch này thì bắt buộc họ phải đến tận nơi có sản phẩm du lịch. Điều đó có nghĩa là quá trình khai thác, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm diễn ra đồng thời. Luan van 16 Chính vì khách du lịch phải đến tận các điểm du lịch, nơi có tài nguyên du lịch và thưởng thức các sản phẩm du lịch nên muốn khai thác các tài nguyên này thì điều đầu tiên cần quan tâm là phải chuẩn bị tốt các cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, phương tiện vận chuyển khách du lịch.
Thực tế cho thấy những điểm du lịch nào có vị trí địa lý thuận lợi, tiện đường giao thông và các cơ sở dịch vụ du lịch tốt thì hoạt động du lịch ở nơi đó sẽ đạt được hiệu quả cao. Ngược lại, ở những điểm du lịch có tài nguyên du lịch rất đặc sắc như bãi biển Trà Cổ (Quảng Ninh), thị trấn Sa Pa, cao nguyên Bắc Hà (Lào Cai)… vì nằm ở vị trí xa xôi và còn hiểm trở nên ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thu hút khách du lịch. Do đó nếu được đầu tư về cơ sở hạ tầng và phương tiện vân chuyển du khách tốt hơn thì chắc chắn không bao lâu những điểm du lịch này sẽ phát triển vượt bậc. - Tài nguyên du lịch có thể được sử dụng nhiều lần.
Với đặc điểm này thì nguồn tài nguyên tạo nên sản phẩm du lịch sẽ được phục vụ cho nhiều đối tượng khách du lịch khác nhau trong một thời gian nhất định và rất nhiều lần. Tài nguyên du lịch được xếp vào loại tài nguyên có khả năng tái tạo và sử dụng lâu dài. Vấn đề chính là phải nắm được quy luật của tự nhiên, lường trước được sự thử thách khắc nghiệt của thời gian và những biến động, đổi thay do con người gây nên. Từ đó có định hướng lâu dài và các biện pháp cụ thể để khai thác hợp lí các nguồn tài nguyên du lịch, không ngừng bảo vệ, tôn tạo và hoàn thiện tài nguyên nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của du lịch.
* Phân loại tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch rất đa dạng và phong phú, vì vậy, có nhiều cách phân loại tùy thuộc vào việc sử dụng các tiêu chí khác nhau. Năm 1997, tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã phân chia tài nguyên du lịch thành 3 loại, với 9 nhóm gồm: loại cung cấp tiềm tàng (3 nhóm: văn hóa kinh điển, tự nhiên kinh điển, vận động); loại cung cấp hiện tại (3 nhóm: giao thông, thiết bị, hình tượng tổng thể) và loại tài nguyên kỹ thuật (3 nhóm: khả năng hoạt động, cách thức và tiềm lực khu vực). Theo Luật Du lịch Việt Nam (2017), tài nguyên du lịch được chia thành 2 nhóm cơ bản sau: Luan van 17 - Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. - Tài nguyên du lịch văn hóa gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.
* Tài nguyên du lịch sông nước - Tài nguyên tự nhiên gồm địa hình, khí hậu, sông ngòi, hệ sinh thái cảnh quan vùng sông nước.