Luận án nghiên cứu đảm bảo an ninh lương thực Đồng bằng sông Cửu Long

Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến an ninh lương thực vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Đề xuất giải pháp đảm bảo an toàn lương thực bền vững cho khu vực này.

Trường đại học

Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

Chuyên ngành

Địa lí học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

269
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về an ninh lương thực

An ninh lương thực là vấn đề quan trọng đối với mọi quốc gia. Đảm bảo an ninh lương thực là việc cung cấp đủ lương thực cho mọi người, mọi lúc, mọi nơi. Điều này không chỉ liên quan đến sản xuất lương thực mà còn bao gồm phân phối, tiếp cận và tiêu dùng lương thực.

1.1. Khái niệm về an ninh lương thực

An ninh lương thực là khái niệm dùng để chỉ tình trạng mà mọi người có thể tiếp cận và tiêu dùng đủ lương thực để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của mình.

1.2. Vai trò của an ninh lương thực

An ninh lương thực đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sức khỏe, sự phát triển và hạnh phúc của con người.

II. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến an ninh lương thực

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến an ninh lương thực, bao gồm cả yếu tố tự nhiên và xã hội. Các yếu tố tự nhiên như thời tiết, đất đai, nước và các yếu tố xã hội như kinh tế, chính trị và văn hóa cũng ảnh hưởng đến an ninh lương thực.

2.1. Các nhân tố tự nhiên ảnh hưởng đến an ninh lương thực

Thời tiết, đất đai, nước là các nhân tố tự nhiên quan trọng ảnh hưởng đến sản xuất lương thực và an ninh lương thực.

2.2. Các nhân tố xã hội ảnh hưởng đến an ninh lương thực

Kinh tế, chính trị và văn hóa là các nhân tố xã hội quan trọng ảnh hưởng đến phân phối, tiếp cận và tiêu dùng lương thực.

III. Giải pháp đảm bảo an ninh lương thực

Để đảm bảo an ninh lương thực, cần thực hiện các giải pháp như tăng cường sản xuất lương thực, cải thiện phân phối và tiếp cận lương thực, cũng như nâng cao ý thức và kiến thức về dinh dưỡng và an ninh lương thực.

3.1. Tăng cường sản xuất lương thực

Tăng cường sản xuất lương thực thông qua việc áp dụng công nghệ mới, cải thiện kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi.

3.2. Cải thiện phân phối và tiếp cận lương thực

Cải thiện phân phối và tiếp cận lương thực thông qua việc xây dựng hệ thống phân phối lương thực hiệu quả và công bằng.

IV. Kết luận và ứng dụng

An ninh lương thực là vấn đề quan trọng và cần được quan tâm. Các giải pháp đảm bảo an ninh lương thực cần được thực hiện một cách hiệu quả và toàn diện để đảm bảo đủ lương thực cho mọi người, mọi lúc, mọi nơi.

4.1. Kết luận

An ninh lương thực là vấn đề quan trọng và cần được quan tâm để đảm bảo sức khỏe và hạnh phúc của con người.

4.2. Ứng dụng

Các giải pháp đảm bảo an ninh lương thực cần được ứng dụng một cách rộng rãi và hiệu quả để mang lại lợi ích cho mọi người.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

20/05/2026
Luận án tiến sĩ các nhân tố ảnh hưởng và giải pháp đảm bảo an ninh lương thực vùng đồng bằng sông cửu long

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Lương thực được coi là nhu cầu cơ bản không thể thiếu được đối với đời sống xã hội con người. Ở Việt Nam, đảm bảo ANLT là một trong những vấn đề được đặc biệt quan tâm trong điều kiện dân số tăng, diện tích đất nông nghiệp giảm, cùng với tác động của BĐKH dẫn đến thu nhập của nông dân đang sụt giảm dần, xu hướng“ly nông” ngày càng tăng nhất là những vùng sản xuất còn gặp nhiều khó khăn. ĐBSCL là vựa lúa lớn nhất cả nước, nguồn cung lương thực không những đảm bảo cho nội vùng mà còn cung cấp lương thực đảm bảo ANLT quốc gia và xuất khẩu thu ngoại tệ.

Cụ thể, sản xuất lương thực của vùng chiếm 48,4% diện tích và 49,6% sản lượng cây lương thực có hạt của cả nước, bình quân lương thực có hạt theo đầu người là 1.360 kg, gấp 2,6 lần mức trung bình cả nước; Riêng cây lúa, vùng ĐBSCL chiếm 54,8% diện tích và 55,2% sản lượng lúa cả nước, bình quân sản lượng lương thực có hạt theo đầu người là 1. Mức tiêu dùng gạo và lương thực khác quy gạo chung của cả nước từ 12,7 Kg/người/tháng (2005) xuống 10,8 Kg/ người/ tháng (2010) và 9,9 Kg (2016). Theo Niên giám thống kê Việt Nam năm 2018, trong giai đoạn 2005 – 2018, mức tiêu dùng lương thực (đã quy đổi ra gạo) khoảng 133 kg/người/năm thì ĐBSCL không chỉ đảm bảo ANLT cho 17,66 triệu dân vùng, đảm bảo lương thực cho gần 92,7 triệu dân cả nước mà vẫn dư thừa khoảng 1/2 sản lượng lương thực. Song không phải mỗi người dân trong vùng ĐBSCL cũng như cả nước được cung cấp, được tiếp cận lương thực như nhau.

Thực tiễn, vấn đề đảm bảo ANLT ở ĐBSCL hiện vẫn còn nhiều bất cập. Hiện tại, có một nghịch lý là người nông dân ở vựa lúa quốc gia, nơi cung cấp lương thực, đặc biệt là sản xuất lúa gạo đã giúp Việt Nam là nước đứng đầu trên thế giới về xuất khẩu gạo nhưng đổi lại họ là người có mức thu nhập thấp nhất và không tiếp cận đầy đủ lương thực. Mặt khác, hàng năm, lượng lương thực sản xuất dư ra rất nhiều nhưng số lượng lớn là lương thực chất lượng chưa cao và bán với giá rẻ, điều này đẩy nông dân sản xuất lương thực trở thành người nghèo nhất. Vựa lúa ĐBSCL là vùng có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn mức trung bình cả nước, nông dân 2 trồng lương thực ở ĐBSCL có thu nhập thấp hơn so với lao động trong những lĩnh vực khác.

Vấn đề đảm bảo ANLT ở ĐBSCL cần được xem xét một cách toàn diện là đảm bảo ANLT vùng ĐBSCL phải gắn với ANLT quốc gia và đảm bảo thu nhập cho nông dân, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến đảm bảo ANLT ở vựa lúa trên cơ sở khai thác hiệu quả nguồn lực kinh tế và khắc phục những nhân tố gây nên sự bất ổn định trong sản xuất, phân phối và tiếp cận lương thực ở ĐBSCL. Từ đó, tìm giải pháp đảm bảo ANLT ở ĐBSCL. Đặc biệt, quan tâm đến tìm giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ trồng cây lương thực và hộ nghèo trong vùng. Xuất phát từ các lí do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Các nhân tố ảnh hưởng và giải pháp đảm bảo An ninh lương thực vùng Đồng bằng sông Cửu Long”.

Lịch sử nghiên cứu đề tài Vấn đề đảm bảo ANLT đã được quan tâm từ rất xa xưa trong lịch sử của nhân loại, ở cả phương Đông lẫn phương Tây. Tuy nhiên, các nghiên cứu có tính hệ thống và khoa học thì muộn hơn nhiều. Năm 1992, FAO mới đưa ra được định nghĩa đầy đủ về ANLT. Qua thời gian, quan niệm về ANLT có những biến đổi khác nhau và đã có nhiều nghiên cứu về ANLT.

Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến đảm bảo ANLT trong sản xuất (cung lương thực) trên thế giới và Việt Nam. Vấn đề cung cầu lương thực luôn là trọng tâm của nhân loại, ngày nay dưới áp lực suy giảm nguồn tài nguyên cho sản xuất nông nghiệp, BĐKH,.v nên đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất và đảm bảo ANLT trên thế giới và ở Việt Nam.1 Ở Việt Nam Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn là vấn đề quan trọng trong chính sách phát triển nông nghiệp nói riêng và kinh tế của Việt Nam nói chung. ĐBSCL là một trong 7 vùng kinh tế, vùng trọng điểm cung ứng lương thực không những giữ vai trò chủ đạo đảm bảo ANLT cho nội vùng mà còn cho các vùng khác trong cả nước và xuất khẩu lương thực. Vì vậy, có rất nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất lương thực đảm bảo nguồn cung cho đảm bảo ANLT nội vùng và quốc gia.

3 Đặng Kiều Nhân (2009) trong công trình Năng suất và lợi tức sản xuất lúa cao sản ở ĐBSCL giai đoạn 1995-2006 đã nhận ra được những yếu tố chính ảnh hưởng đến năng suất và lợi tức sản xuất lúa ở ĐBSCL. Cụ thể, từ kết quả phân tích số liệu thống kê năng suất và lợi tức trong thời gian 10 năm của nông hộ, cho rằng diện tích lúa tăng ở những khu vực có điều kiện tự nhiên thuận lợi, sản xuất lương thực theo hướng thâm canh và hạn chế độc canh cây lúa là điều kiện cần thiết để đảm bảo nguồn cung lương thực bền vững và tăng thu nhập cho người trồng lương thực. Phạm Lê Thông (2011) qua nghiên cứu Hiệu quả kỹ thuật và kinh tế của vụ lúa Đông Xuân ở ĐBSCL đã khẳng định vấn đề lựa chọn vật tư đầu vào và lao động nông thôn thường xuyên được tập huấn khuyến nông, kỹ thuật sản xuất mới, sử dụng máy móc hiện đại,.có tác động lớn đến tăng năng suất lúa gạo ở vùng ĐBSCL. Nguyễn Hữu Đặng (2012), Hiệu quả kỹ thuật và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật của hộ trồng lúa ở ĐBSCL, Việt Nam giai đoạn 2008- 2011.

Nghiên cứu đánh giá hiện trạng sản xuất lúa ở ĐBSCL nhìn chung hiệu quả mang lại chưa cao và có xu hướng giảm là do sự không đồng bộ trong ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất và lựa chọn nguồn vật tư đầu vào tối ưu kém. Nguyễn Tiến Dũng, Lê Khương Ninh (2015) Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất lúa của nông hộ ở Thành phố Cần Thơ. Trên cơ sở phân tích dữ liệu sơ cấp từ điều tra nông hộ sản xuất lúa gạo tại Cần Thơ cho thấy sản xuất lúa gạo chủ yếu chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố như quy mô diện tích, phương thức mua vật tư, phương thức bán, tập quán sản xuất, số lượng, chất lượng và kinh nghiệm của nguồn lao động,… Lê Thị Lương, Võ Thành Danh (2018), Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng nông nghiệp ở Thành phố Cần Thơ, đã phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn gốc tăng trưởng nông nghiệp chủ yếu phụ thuộc vào việc tăng cường vốn vật chất đầu tư vào nông nghiệp, mở rộng quy mô đất canh tác do thủy lợi và cộng nghệ. Vũ Thị Kim Cúc (2011), Vai trò của các nhân tố kinh tế - xã hội đối với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thành phố Hải Phòng, nghiên cứu cho rằng lực lượng lao động chất lượng cao, thị trường và chính sách nhà nước, .sẽ góp phần 4 cho sản xuất nông nghiệp chuyển hướng tích cực theo hướng sản xuất lương thực hàng hóa 2.2 Trên thế giới Các học giả Trung Quốc, Vương Dật Châu và cộng sự (1999) trong cuốn sách “An ninh quốc tế trong thời đại toàn cầu hóa” [20] đã đề cập đến nội dung của ANLT dưới góc độ là bộ phận quan trọng của an ninh kinh tế, đề ra tác động 2 mặt của toàn cầu hóa và tính phức tạp của an ninh thế giới đối với đảm bảo ANLT của Trung Quốc.

Như vậy, đảm bảo ANLT là góp phần đảm bảo an ninh kinh tế và chịu sự ảnh hưởng lớn của toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới. Báo cáo phát triển con người (2005) của Liên hợp quốc (UNDP) với chủ đề: “Hợp tác quốc tế trong thời điểm quyết định: viện trợ, thương mại và an ninh trong một thế giới không bình đẳng” đã chỉ ra những cản trở, bất bình đẳng của thương mại trong nông nghiệp hiện nay đối với các nước đang phát triển, từ đó tác động đối với sản xuất lương thực và đảm bảo thực hiện mục tiêu đảm bảo ANLT trên thế giới. Food security: Challengen of feeding 9 billion people (2010) [114] của H. Godfray và cộng sự cho rằng những thách thức cho đảm bảo ANLT toàn cầu trong 40 năm tới là sức ép của tăng dân số, BĐKH, khan hiếm nguồn nước,… khả năng mở rộng nguồn cung lương thực hạn hẹp và nhu cầu lương thực tăng.

Nghiên cứu cũng cho rằng cần liên kết giữa các quốc gia để giải quyết nguồn cung cho vấn đề đảm bảo ANLT. Water and food security in Vietnam: Challengenges for rice production (2013), [115] Chu Thái Hoành đánh giá hiện trạng cung cấp lương thực và nhu cầu lương thực. Đặc biệt, ở khía cạnh đảm bảo ANLT hộ gia đình thì lượng Kcal đóng góp vào cơ cấu khẩu phần ăn cũng thay đổi theo chiều hướng tích cực (giảm Kcal từ lương thực). Tuy nhiên, để đảm bảo ANLT Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng còn rất nhiều thách thức như đối với chính sách, thu nhập người trồng lúa thấp,…Đặc biệt, là nhu cầu nguồn nước cho sản xuất lương thực dưới tác động BĐKH.

Rice production or rice farmer’s liverhoods for national food security under salinity intrucsion in the Mekong Delta (2013) [112], Đặng Kiều Nhân và cộng sự trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn và đưa ra 3 kịch bản tác động của xâm nhập mặn: 5 với mức xâm nhập mặn 30 cm có đến 50.000 ha đất và 120.000 tấn lương thực bị mất, nếu xâm nhập mặn kết hợp xây dựng các đập thủy điện và kết hợp khô hạn thì hơn 500.000 ha bị ảnh hưởng và 1.000 tấn lương thực bị mất, chỉ xâm nhập mặn ở các cửa sông lớn (Cái Lớn, Cổ Chiên, Hàm Luông) thì mức độ ảnh hưởng sẽ ít hơn nhiều.2 Nghiên cứu về các giải pháp đảm bảo ANLT trên thế giới và Việt Nam 2.1 Trên thế giới Tìm giải pháp đảm bảo ANLT luôn là vấn đề đáng quan tâm của thế giới. Vì vậy, cùng với nhiều công trình nghiên cứu, còn có những chương trình hành động nhằm thực thi các chính sách chống đói nghèo, đảm bảo ANLT trên quy mô toàn cầu, nhất là ở các nước đang phát triển.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ