Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tống quan tình hình xâm nhập mặn tại tỉnh Bến Tre 1. Đặc điểm đất nhiễm mặn Đất nhiễm mặn có thành phần cơ giới nang, ty lệ sét cao (50% đến 60%), đất bí chặt, thoát nước kém, khi khô đất co lại nứt nẻ, khi ướt đất dẻo dính, khó làm đất, vùng rễ cây hoạt động kém. Thành phần muối trong đất chủ yếu là NaCl, ngoài ra còn có các muối khác như NaxCO3, Na2SOz, NaaSOa, MgCl và MgSO¿.
Các mudi này ở nồng độ cao sẽ gây độc cho cây trồng. Đất có tính kiềm pH, vi sinh hoạt động yếu (Hồ Quang Đức và ctv, 2010). Đất bị nhiễm mặn do sự tích tụ quá mức bình thường của các loại muối hòa tan trong dat, dẫn đến áp suất thâm thấu của dung dịch đất tăng cao, natri trao đổi ở mức độ cao, dẫn đến tính chất vật lý của đất rất xấu, hàm lượng dễ tiêu của một số chất dinh dưỡng cần thiết rất thấp. Dat nhiễm mặn làm cho cây trồng bị thiếu dinh dưỡng và nhiễm độc ion, làm cho kết cầu đất bị suy thoái (Setter và ctv, 2009).
Nguyên nhân gây mặn Do hạn hán, mực nước sông thấp, nước biển theo các con sông vào kênh rạch rồi đi vào đồng ruộng gây mặn. Mặt khác, những vùng ở xa sông thì do nước ngầm mặn di chuyền tầng đất mặt gây mặn. Đất mặn là nhóm dat phù sa ven biển, chịu ảnh hưởng trực tiếp của nước mặn biển theo thủy triều tràn vào hoặc gián tiếp do mach nước mặn từ biển ngắm vào. Ở Việt Nam, đất mặn phát sinh là do ngập nước mặn ở ven biển; do anh hưởng của các mạch nước mặn ngắm lên mặt đất hay do mẫu chất mặn nội địa trong điều kiện khí hậu bán khô hạn, về mùa khô, muối hòa tan theo các mao quản dẫn lên làm đất nhiễm mặn; do nước bốc hơi dé lại muối hòa tan trong đất (Hồ Quang Đức và ctv, 2010).
Xâm nhập mặn tại tỉnh Bến Tre Sông Mê Kông có chín cửa đồ ra biển Đông tại Đồng bằng sông Cửu Long thì trong đó có bốn cửa sông thuộc tỉnh Bến Tre, đây là nguyên nhân cho việc Bến Tre chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi xâm nhập mặn và sạt lở. Theo số liệu của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre, trong mùa khô năm 2015 - 2016, mặn tăng cao đột ngột và xâm nhập rất sâu vào đất liền, ước tính giá trị thiệt hại của riêng ngành nông nghiệp là hơn một nghìn tỉ đồng. Mùa khô năm 2019 - 2020, tỉnh Bến Tre tiếp tục đối mặt với đợt xâm nhập mặn khốc liệt nhất trong lịch sử. Độ mặn 2%o hầu như bao phủ trên toàn tỉnh, có thời điểm độ mặn lên đến 5%o.
Theo nhận định của Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh Bến Tre, tổng lượng dòng chảy từ thượng lưu sông Mê Kông về hạ lưu và vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong tháng 10 và tháng 11 năm 2022 6 mức cao hơn trung bình nhiều năm từ 15 - 25%, trong tháng 12 cao hơn trung bình nhiều năm 10 - 15%. Mùa khô 2022 - 2023, nhận định xâm nhập mặn ở mức sớm hơn trung bình nhiều năm. Từ nửa cuối tháng 12 năm 2022, mặn bắt đầu xâm nhập vào khu vực gần cửa sông. Xâm nhập mặn sâu nhất ở mức xấp xỉ và thấp hơn mùa khô 2021 - 2022.
Độ mặn cao nhất và xâm nhập sâu nhất xuất hiện vào tháng 2 và tháng 3 năm 2023. Dự báo độ mặn 4%o có thê xâm nhập cách các cửa sông khoảng từ 45 - 57 km; độ man 1% có thể xâm nhập cách các cửa sông khoảng từ 54 - 68 km. Ảnh hưởng của đất nhiễm mặn đến đặc điểm sinh lý, sinh hóa của cây Khi nước mặn xâm nhập vào ao, mương trong vườn sẽ tích tụ các muối hòa tan trong đất. Khi tưới nước cho cây trồng, hàm lượng muối hòa tan cao làm cho áp suất thâm thấu của dung dịch đất lớn hơn áp suất thâm thấu của tế bào.
Chính sự chênh lệch áp suất này làm cho hệ thống rễ cây không hút được nước và chất đinh dưỡng, đồng thời làm cho màng tế bào rễ bi phá vỡ dẫn đến cây bị mat nước, trường hop nặng có thể dẫn đến chết cây. Đất nhiễm mặn gây trở ngại cho sinh trưởng và phát triển cây trồng, gây rối loạn sự hấp thu nước và chất dinh dưỡng, phá hủy cấu trúc đất. Đất bị nén chặt kìm hãm sự phát triển bình thường của rễ, giảm tính thấm và thoát nước, gây hạn sinh lý và cây bị héo lâu dai. Kha năng hap thụ khoáng của cây bị hạn chế dẫn đến thiếu các khoáng chất cần thiết, thiếu phospho nên quá trình phosphoryl hóa bị kìm hãm và cây bị thiếu năng lượng.
Sự vận chuyền và phân bố các chất đồng hóa trong mạch libe bị kìm hãm làm các chất hữu cơ tích lũy trong lá, ảnh hưởng đến quá trình tích lũy vào cơ quan dự trữ. Sự dư thừa các ion trong đất làm rối loạn tính thắm của màng nên làm rÒ ri các ion ra ngoài rễ, quá trình trao đồi chất, đặc biệt là trao đôi protein bi rồi loan, dẫn đến tích lũy các acid amin va amit trong cây. Sự tong hợp cytokinine bi ngừng vì rễ là cơ quan tổng hợp phytohormone này nên cây thiếu cytokinine ảnh hưởng đến sinh trưởng của các cơ quan trên mặt đất. Không có điểm độ mặn tới hạn nào mà thực vật không phát triển được.
Khi độ mặn tăng, tốc độ tăng trưởng giảm dần đến khi cây bị nhiễm độc Clo và chết. Thực vật khác nhau có khả năng chịu được lượng muối khác nhau (Abrol và ctv, 1988). Tổng quan về vi khuẩn Pseudomonas 1. Đặc điểm phân loại Pseudomonas là một giống thuộc họ Pseudomonadaceae, bộ Pseudomonadales, lớp Gammaproteobacteria, ngành Proteobacateria, gồm các loài có quan hệ gần gũi với Pseudomonas aeruginosa thuộc nhóm tương đồng DNA - rRNA nhóm 1, lớp “Gammaproteobacteria”.
Các loài trong nhóm này đôi khi còn được gọi là “Pseudomonas thật” hoặc “Pseudomonas huỳnh quang” do khả năng tiết sắc tổ huỳnh quang tan trong nước. Dù vậy, không phải tất cả các loài “Pseudomonas huỳnh quang” thực sự sản sinh sắc tố phát huỳnh quang như trường hop Pseudomonas stutzeri, Pseudomonas medocima, Pseudomonas alclogenes Thuật ngữ “Dseudomonad” cũng thường được sử dụng với nghĩa bao gồm cả các loài gần giống với các loài thuộc chi Pseudomonas (Palleroni và Moore, 2004). Việc nhận diện và phân loại chính xác các loài thuộc chi nay cần phải được thực hiện với sự liên quan tới rủi ro về khả năng gây bệnh cho thực vật, động vật và cả con người. Đề phân biệt vi khuẩn thuộc chi Pseudomonas với các chi vi khuẩn khác một cách hệ thống, cần xem xét dựa trên nhiều đặc điểm: tỉ lệ base trong bộ gene, trình tự rRNA, thành phần lipid của tế bào, sự biến dưỡng các amino acid, hình thái, sinh hóa và các protein của tế bào (Palleroni và Moore, 2004).
Đặc điểm hình thái, sinh lý, sinh hóa và sinh thái Vi khuẩn Pseudomonas có tế bào thang hoặc hơi cong nhưng không xoắn, đường kính khoảng 0,5 - 1,0 pm, đài khoảng 1,5 - 5,0 ym. Không tạo chồi và không được bao quanh bởi màng bao, không hình thành thé nghỉ, Gram âm, di động bởi một hoặc một vài lông roi ở 2 cực (hiếm khi không di động). Hiếu khí, sử dụng oxy làm chất nhận điện tử cuối cùng, một số trường hợp có thể sử dụng nitrat làm chất nhận điện tử thay thế và cho phép tăng trưởng xảy ra trong điều kiện ky khí. Không tạo xanthomonadin.
Hầu hết, chứ không phải tất cả, các loài không tăng trưởng trong điều kiện acid (pH 4,5 hoặc thấp hơn). Có thể tăng trưởng trên môi trường khoáng tối thiểu với anmonium hoặc nitrate là nguồn nitơ và một hợp chất hữu cơ làm nguồn carbon và năng lượng, không đòi hỏi các nhân tố tăng trưởng hữu cơ. Nhiệt độ tối ưu cho sự tăng trưởng là khoảng 28°C, mặc dù một vài loài có thé tăng trưởng ở 4°C hoặc 41°C. Phản ứng oxidase và phản ứng catalase đương tính.
Chứa các thành phần acid béo hydroxy hóa 3-OH 10:0 và 12:0, và 2-OH 12:0, và ubiquinone Q-9. Hàm lượng G+C của DNA khoảng 58 — 69% (theo hệ thống phân loại vi khuân của Bergey) (Vos và ctv, 2011). Trên đây là một định nghĩa chính thức, tuy nhiên chưa nhân mạnh tiềm năng ứng dụng trong công nghệ sinh học của nhóm vi khuẩn này, chang hạn như kha năng phân hủy một số lượng lớn các hợp chất hữu cơ, khả năng tương tác với thực vật và liên kết với vùng rễ tạo thuận lợi cho nông nghiệp. Một sé chung từ lâu được chứng minh có khả năng kiểm soát sinh học là PGPR.
Số lượng các chủng này được công bố ngày một nhiều và những hiểu biết về cơ chế liên quan ngày một tăng. Sự hiện diện rộng rãi trong tự nhiên và có thể thích nghỉ tốt với nhiều 6 sinh thái khác nhau do nhu cầu dinh dưỡng đơn giản. Một số thành viên của chi Pseudomonas là những vi khuan gây bệnh ở người, động vật, thực vat và là tác nhân gây ô nhiễm thực phẩm (Mercado-Blanco va Bakker, 2007). Một đặc điểm quan trọng khác của Pseudomonas Spp.
là sự sản sinh một loạt các sắc tô, có thê tan trong nước và khuêch tán vào môi trường nuôi cấy hoặc liên kết với tế bào vi khuẩn. có thé tạo các sắc tố khuếch tán và phát huỳnh quang ở bước sóng UV 365 nm. Một số trong số này, như pyoverdine màu vàng xanh (fluorescein) là các siderophore có vai trò sinh lý quan trọng trong việc hấp thu Fe ở vi khuẩn. Pyoverdine cũng là một công cụ hiệu qua để nhận diện Pseudomonas spp.
vì mỗi nhóm di truyền được mô tả bởi các pyoverdine đặc trưng. Các sắc tố khác được tạo ra bởi các loài Pseudomonas spp. bao gồm pyocyanin (P. aeruginosa, màu xanh da trời), pyorubin (P.
aeruginosa, mau đỏ), chlororaphin (P. chlororaphis, màu xanh lục), pyomelanin (P. aeruginosa, màu den hoặc nâu). mendocina còn có thé tạo ra các sắc tố carotenoid (Ramos và Filloux, 2010).
Các thành viên thuộc chi Pseudomonas được biết là có khả năng phân hủy một phổ rộng các cơ chất như hydrocarbon, các hợp chất có vòng thom và các dẫn xuất của vi khuẩn. Một số chất này có nguồn gốc tự nhiên như toluene, styrene, naphthalene, phenol, các chất khác là sản phẩm cuối hoặc trung gian của các hoạt động công nghiệp như polychlorobiphenyl, dioxin, nitrotoluene (Novik và ctv, 2015). Sự tương tác của Pseudomonas với vùng rễ thực vật Tất cả những đặc điểm có lợi mà một vi khuẩn tiềm năng có thể cung cấp cho thực vật sẽ trở nên vô hiệu nếu không thé định cư và bền vững trong vùng rễ hoặc trong các mô rễ của thực vật.