Luận án tiến sĩ nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia cát bà hải phòng

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia cát bà, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

226
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG

TRANG THÔNG TIN VỀ NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Cơ sở lý luận về DLST

1.2. Khái niệm về DLST

1.3. Các loại hình DLST

1.4. Đặc điểm của DLST

1.5. Vai trò của việc phát triển DLST

1.6. Những vấn đề liên quan đến phát triển DLST theo hướng bền vững

1.7. Phát triển DLST gắn với bảo tồn ĐDSH

1.7.1. Khái niệm về ĐDSH

1.7.2. Bảo tồn ĐDSH

1.7.3. Mối quan hệ giữa phát triển DLST với bảo tồn ĐDSH

1.7.4. Ứng dụng GIS và AHP trong xác định vùng tiềm năng DLST

1.7.5. Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển DLST

1.7.5.1. Mức độ tham gia của cộng đồng
1.7.5.2. Thái độ và nhận thức của cộng đồng
1.7.5.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng

1.7.6. Phát triển DLST ở các VQG

1.7.6.1. Khái quát về VQG
1.7.6.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển DLST ở VQG

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

2.1. Đặc điểm tự nhiên

2.2. Vị trí địa lý

2.3. Đặc điểm khí hậu

2.4. Đặc điểm thủy văn

2.5. Dân sinh kinh tế, xã hội

2.6. Dân số, dân tộc và nguồn lao động

2.7. Về giáo dục đào tạo

2.8. Công tác y tế và chăm sóc sức khỏe cho người dân

3. CHƯƠNG 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.2. Phạm vi nghiên cứu

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Thực trạng phát triển DLST tại VQG Cát Bà

4.2. Thực trạng khai thác các tuyến và điểm DLST

4.3. Hiện trạng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch

4.4. Cơ cấu tổ chức, quản lý hoạt động DLST tại VQG Cát Bà

4.5. Hiện trạng khách du lịch đến VQG Cát Bà

4.6. Hiện trạng và tiềm năng ĐDSH cho phát triển DLST

4.6.1. Đa dạng HST rừng

4.6.2. Đa dạng thành phần loài động vật

4.6.3. Đa dạng thành phần loài thực vật

4.7. Giá trị bảo tồn ĐDSH

4.8. Mô tả một số loài động vật tiềm năng cho phát triển DLST

4.9. Xác định vùng tiềm năng cho phát triển DLST

4.10. Kết quả xây dựng hệ thống bản đồ đánh giá các vùng thích hợp cho phát triển DLST

4.11. Xác định trọng số của từng chỉ tiêu đánh giá sử dụng AHP

4.12. Xây dựng bản đồ tiềm năng du lịch sinh thái

4.13. Nhận thức và thái độ của cộng đồng đối với phát triển DLST và bảo tồn ĐDSH

4.13.1. Đặc điểm nhân khẩu học

4.13.2. Mức độ tham gia của cộng đồng vào các hoạt động DLST

4.13.3. Nhận thức của cộng đồng về những lợi ích của DLST

4.13.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng

4.13.5. Các rào cản hạn chế sự tham gia của cộng đồng

4.13.6. Nhận thức của cộng đồng về lợi ích của phát triển DLST

4.13.7. Thái độ của cộng đồng đối với phát triển DLST

4.13.8. Sự khác biệt về thái độ dựa trên đặc điểm nhân khẩu học

4.13.9. Thái độ của cộng đồng đối với bảo tồn ĐDSH

4.14. Đề xuất giải pháp thúc đẩy hoạt động DLST tại VQG Cát Bà

4.14.1. Đề xuất các giải pháp

4.14.2. Xác định thứ bậc ưu tiên của các giải pháp

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ NHỮNG CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về du lịch sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học

Du lịch sinh thái (du lịch sinh thái) là một hình thức du lịch bền vững, kết hợp giữa việc khám phá thiên nhiên và bảo tồn môi trường. Tại Việt Nam, đặc biệt là tại Vườn Quốc gia Cát Bà (vườn quốc gia Cát Bà), du lịch sinh thái không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần quan trọng vào việc bảo tồn đa dạng sinh học (bảo tồn đa dạng sinh học). Theo nghiên cứu, việc phát triển du lịch sinh thái gắn liền với bảo tồn đa dạng sinh học có thể tạo ra nguồn thu nhập cho cộng đồng địa phương, đồng thời nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường. "Du lịch sinh thái không chỉ là một hoạt động giải trí mà còn là một công cụ giáo dục về bảo vệ thiên nhiên".

1.1. Khái niệm và vai trò của du lịch sinh thái

Khái niệm về du lịch sinh thái đã được định nghĩa bởi nhiều tổ chức khác nhau, nhưng nhìn chung, nó hướng tới việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Du lịch sinh thái tại Vườn Quốc gia Cát Bà không chỉ giúp bảo tồn các hệ sinh thái phong phú mà còn tạo ra cơ hội cho cộng đồng địa phương tham gia vào các hoạt động du lịch. "Du lịch sinh thái là cầu nối giữa con người và thiên nhiên, giúp nâng cao giá trị sinh thái".

1.2. Mối quan hệ giữa du lịch sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học

Mối quan hệ giữa phát triển du lịch sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học là rất chặt chẽ. Việc phát triển du lịch sinh thái tại Vườn Quốc gia Cát Bà không chỉ giúp bảo tồn các loài động thực vật quý hiếm mà còn tạo ra động lực cho việc bảo vệ môi trường. "Bảo tồn đa dạng sinh học là nền tảng cho sự phát triển bền vững của du lịch sinh thái". Các chương trình bảo tồn thiên nhiên tại đây đã được triển khai nhằm bảo vệ các loài động thực vật đặc hữu, đồng thời thu hút khách du lịch đến tham quan.

II. Thực trạng phát triển du lịch sinh thái tại Vườn Quốc gia Cát Bà

Vườn Quốc gia Cát Bà hiện đang là một trong những điểm đến du lịch sinh thái nổi bật tại Việt Nam. Tuy nhiên, thực trạng phát triển du lịch sinh thái tại đây vẫn còn nhiều hạn chế. Các tuyến điểm du lịch chưa được khai thác triệt để, và cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch còn yếu kém. "Mặc dù có tiềm năng lớn, nhưng du lịch sinh thái tại Cát Bà vẫn chưa phát triển tương xứng với khả năng". Việc thiếu sự phối hợp giữa các bên liên quan trong việc quy hoạch và phát triển du lịch là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này.

2.1. Hiện trạng khai thác các tuyến và điểm du lịch

Các tuyến du lịch tại Vườn Quốc gia Cát Bà chủ yếu tập trung vào các hoạt động như khám phá thiên nhiên và tham quan các loài động thực vật. Tuy nhiên, việc khai thác các tuyến điểm này còn chưa đồng bộ và thiếu sự đa dạng. "Cần có sự đầu tư và quy hoạch hợp lý để phát triển các tuyến du lịch sinh thái một cách bền vững".

2.2. Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch

Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch tại Vườn Quốc gia Cát Bà còn nhiều hạn chế, từ hệ thống giao thông đến các dịch vụ hỗ trợ du lịch. Việc cải thiện cơ sở hạ tầng là cần thiết để thu hút khách du lịch và nâng cao trải nghiệm của họ. "Cơ sở hạ tầng tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của du lịch sinh thái".

III. Đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo tồn đa dạng sinh học

Để phát triển du lịch sinh thái tại Vườn Quốc gia Cát Bà một cách bền vững, cần có các giải pháp cụ thể. Việc kết hợp giữa phát triển du lịch và bảo tồn đa dạng sinh học là rất quan trọng. "Giải pháp phát triển du lịch sinh thái cần phải gắn liền với bảo tồn thiên nhiên và sự tham gia của cộng đồng". Các chương trình giáo dục môi trường cũng cần được triển khai để nâng cao nhận thức của cộng đồng và du khách về tầm quan trọng của bảo tồn đa dạng sinh học.

3.1. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng

Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào các hoạt động du lịch là rất quan trọng. Cần có các chính sách khuyến khích và tạo điều kiện cho người dân tham gia vào phát triển du lịch sinh thái. "Cộng đồng địa phương là một phần không thể thiếu trong việc bảo tồn và phát triển du lịch sinh thái".

3.2. Quy hoạch và phát triển bền vững

Việc quy hoạch các tuyến điểm du lịch và phát triển bền vững là cần thiết để đảm bảo sự phát triển lâu dài của du lịch sinh thái tại Vườn Quốc gia Cát Bà. "Quy hoạch hợp lý sẽ giúp bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế địa phương".

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về DLST 1. Khái niệm về DLST Hiện nay đang tồn tại rất nhiều định nghĩa về DLST. Mỗi định nghĩa nhấn mạnh các khía cạnh khác nhau về DLST như vấn đề BVMT, phát triển kinh tế, bảo tồn ĐDSH,… Trong Luận án này, những định nghĩa được sử dụng rộng rãi sẽ được xem xét.

Cụ thể như sau: Thuật ngữ "Ecotourism - DLST" lần đầu tiên được giới thiệu bởi Ceballos-Lascuráin vào năm 1987 và ngay sau đó đã phát triển nhanh chóng và rộng khắp (Ceballos-Lascuráin, 1987, 1996). Tuy nhiên, theo định nghĩa này, tác giả đã chỉ nhấn mạnh về yếu tố tự nhiên nhưng chưa đề cập đến vấn đề bảo tồn những giá trị thiên nhiên và văn hóa địa phương cũng như sự tham gia của cộng đồng dân cư. Vì vậy, khái niệm này phù hợp với du lịch dựa vào thiên nhiên (nature - based tourism) hơn là khái niệm về DLST. Theo định nghĩa của Wood (1991): “DLST là du lịch đến các khu vực còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trường tự nhiên và văn hóa mà không làm thay đổi sự toàn vẹn của các HST.

Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích tài chính cho người dân địa phương”. Định nghĩa của Allen (1993): “DLST được phân biệt với các loại hình du lịch thiên nhiên khác về mức độ giáo dục cao đối với môi trường và sinh thái, thông qua những hướng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề. DLST tạo ra mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên hoang dã cùng với ý thức giáo dục để biến bản thân khách du lịch thành những người đi đầu trong công tác BVMT. Phát triển DLST sẽ làm giảm thiểu tác động của khách du lịch đến văn hóa và môi trường, đảm bảo cho địa phương được hưởng nguồn lợi tài chính do du lịch mang lại và chú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc BTTN”.

luan an 7 Một định nghĩa khác của Honey (1999) “DLST là du lịch hướng tới những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích nhằm gây ra ít tác hại và với quy mô nhỏ nhất. Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để BVMT, nó trực tiếp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự tự quản lý cho người dân địa phương và nó khuyến khích tôn trọng các giá trị về văn hóa và quyền con người”. Trong cuộc hội thảo “Xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển DLST” tại Việt Nam năm 1999, khái niệm DLST mới có sự thống nhất bước đầu: “DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và PTBV, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”. Định nghĩa này bao hàm đầy đủ nội dung của DLST, thống nhất về cơ bản với các quan niệm của các nhà khoa học trên thế giới.

Năm 2000, Lê Huy Bá cũng đưa ra khái niệm: “DLST là một loại hình du lịch lấy các HST đặc thù, tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các HST. Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triển môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững”. Theo Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN): “DLST là loại hình du lịch và tham quan có trách nhiệm với môi trường tại những vùng còn tương đối nguyên sơ để thưởng thức và hiểu biết thiên nhiên (có kèm theo các đặc trưng văn hóa - quá khứ cũng như hiện tại) có hỗ trợ đối với bảo tồn, giảm thiểu tác động từ du khách, đóng góp tích cực cho sự phát triển KT-XH của nhân dân địa phương” (IUCN, 2008). Sự ra đời của Hiệp hội DLST quốc tế (TIES) vào năm 1990 bước đầu khẳng định vị thế của DLST với tư cách là một hệ thống lý luận và thực tiễn luan an 8 về PTBV trong du lịch.

Hiệp hội DLST thế giới đã tổng hợp và đưa ra định nghĩa tương đối đầy đủ về DLST: “Du lịch có trách nhiệm đến các khu vực tự nhiên bảo tồn môi trường, duy trì cuộc sống của người dân địa phương và liên quan đến việc giải thích và giáo dục” (TIES, 2015). Bảng tổng hợp các định nghĩa về DLST Khái niệm Nguồn “DLST là du lịch đến các khu vực còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trường tự nhiên và văn hóa mà không làm thay đổi sự toàn vẹn của các HST. Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích tài chính cho người dân địa phương”. “DLST được phân biệt với các loại hình du lịch thiên nhiên khác về mức độ giáo dục cao đối với môi trường và sinh thái, thông qua những hướng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề.

DLST tạo ra mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên hoang dã cùng với ý thức giáo dục để biến bản thân khách du lịch thành những người đi đầu trong công tác Allen, 1993. Phát triển DLST sẽ làm giảm thiểu tác động của khách du lịch đến văn hóa và môi trường, đảm bảo cho địa phương được hưởng nguồn lợi tài chính do du lịch mang lại và chú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc BTTN”. “DLST là du lịch hướng tới những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích nhằm gây ra ít tác hại và với quy mô nhỏ nhất. Nó giúp giáo dục du khách, Honey, 1999.

tạo quỹ để BVMT, nó trực tiếp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự tự quản lý cho người dân địa phương và nó khuyến khích tôn trọng các giá trị về văn hóa và quyền con người”. luan an 9 Khái niệm Nguồn Hội thảo “Xây “DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa dựng chiến lược bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực quốc gia về phát bảo tồn và PTBV, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa triển DLST” tại phương". “DLST là một loại hình du lịch lấy các HST đặc thù, tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các HST. Đó cũng là hình thức kết hợp Lê Huy Bá, chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với giới 2000.

thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triển môi trường và TNTN một cách bền vững”. “DLST là loại hình du lịch và tham quan có trách nhiệm với môi trường tại những vùng còn tương đối nguyên sơ để thưởng thức và hiểu biết thiên nhiên (có kèm theo các đặc IUCN, 2008. trưng văn hóa - quá khứ cũng như hiện tại) có hỗ trợ đối với bảo tồn, giảm thiểu tác động từ du khách, đóng góp tích cực cho sự phát triển KT-XH của nhân dân địa phương”. “Du lịch có trách nhiệm đến các khu vực tự nhiên bảo tồn môi trường, duy trì cuộc sống của người dân địa phương và TIES, 2015.

liên quan đến việc giải thích và giáo dục”. Như vậy, từ định nghĩa đầu tiên được đưa ra năm 1987 cho đến nay, nội dung của DLST đã có những thay đổi, từ chỗ đơn thuần là loại hình du lịch hoạt động ít tác động đến môi trường tự nhiên sang cách nhìn tích cực, nhấn mạnh vào việc bảo tồn di sản thiên nhiên và văn hóa, trong việc kết hợp luan an 10 với phát triển cộng đồng địa phương, cung cấp các vấn đề giáo dục du khách. Theo đó, DLST là hoạt động có trách nhiệm với môi trường, có tính giáo dục và diễn giải cao về tự nhiên, có đóng góp cho hoạt động bảo tồn và đem lại nguồn lợi cho người dân địa phương. Các nghiên cứu trên thế giới cũng nhấn mạnh đến mối liên hệ chặt chẽ giữa hoạt động du lịch với công tác bảo tồn ĐDSH.

Ở Việt Nam, DLST là lĩnh vực mới được nghiên cứu từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX song đã thu hút đực sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu về du lịch và môi trường. Tuy nhiên với nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau khái niệm DLST còn nhiều điểm chưa thống nhất (Phạm Trung Lương và cộng sự, 2002). Theo Phạm Trung Lương và cộng sự (2002) đã nhận định, DLST là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường có tác động tích cực đến việc BVMT và văn hóa, đảm bảo mang lại lợi ích về tài chính cho cộng đồng địa phương, có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn (Phạm Trung Lương, 2003). Hệ thống cơ sở lý luận về DLST đã được các tổ chức và các học giả đưa ra như: Lê Văn Lanh (1998), Hội các VQG và khu BTTN Việt Nam (2001); Phạm Trung Lương (2002), Lê Huy Bá (2006).

Hầu hết các công trình nghiên cứu đều thống nhất khái niệm về DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường và đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn và PTBV với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương (Lê Văn Lanh, 1998; Phạm Trung Lương và cộng sự, 2002; Lê Huy Bá, 2006; Nguyễn Quyết Thắng, 2012). Mặc dù các định nghĩa trên chưa thống nhất với nhau hoàn toàn nhưng đã tập trung vào việc giải thích DLST phản ánh mối quan hệ chặt chẽ giữa những giá trị TNTT, bản sắc văn hóa địa phương với việc nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo tồn những giá trị đó đồng thời nhấn mạnh vai trò, quyền lợi của cộng đồng địa phương trong hoạt động DLST. luan an 11 Theo Điều 3, Luật Du lịch Việt Nam 2017 định nghĩa: “DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương, có sự tham gia của cộng đồng dân cư, kết hợp giáo dục về BVMT” (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2017). Nghiên cứu này sẽ sử dụng định nghĩa này để tiếp cận các nội dung nghiên cứu của đề tài luận án.

Các loại hình DLST Để thuận tiện cho việc nghiên cứu tổng quát cũng như thực tế tổ chức hoạt động DLST thì hình thức phân chia các loại hình du lịch theo mục đích chuyến đi được sử dụng phổ biến (Hiệp hội DLST, 1999a).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia Cát Bà, Hải Phòng" của tác giả Lê Thị Ngân, dưới sự hướng dẫn của PGS. Đồng Thanh Hải và PGS. Phạm Ngọc Linh, tập trung vào việc phát triển du lịch sinh thái tại khu vực Cát Bà, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn đa dạng sinh học. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa du lịch và bảo tồn môi trường mà còn đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm phát triển bền vững du lịch tại khu vực này. Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin hữu ích về cách thức kết hợp giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, từ đó nâng cao nhận thức về du lịch bền vững.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến du lịch bền vững và bảo tồn, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Luận văn về phát triển bền vững du lịch năng lượng xanh tại khu du lịch Cát Bà, nơi nghiên cứu ứng dụng năng lượng xanh trong phát triển du lịch, và Luận án tiến sĩ: Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch xanh ở Việt Nam, cung cấp cái nhìn tổng quan về các yếu tố thúc đẩy du lịch xanh trong nước. Ngoài ra, Luận án Tiến sĩ Kinh tế về Phát triển Bền vững Du lịch tại Thanh Hóa cũng là một tài liệu quý giá cho những ai quan tâm đến phát triển du lịch bền vững.