Tổng quan luận án
Nghiên cứu về ý định quay lại điểm đến là một chủ đề trọng tâm trong lĩnh vực quản trị kinh doanh du lịch. Doanh thu của các điểm đến phụ thuộc phần lớn vào lượng du khách quay trở lại (Darnell và Johnson, 2001; Gitelson và Crompton, 1984), bởi nhóm khách này thường có thời gian lưu trú dài hơn và có xu hướng thực hiện truyền miệng tích cực (Petrick, 2004; Oppermann, 1997). Mặc dù các công trình trước đây khẳng định vai trò của sự hài lòng hay hình ảnh điểm đến, các yếu tố này thường chỉ giải thích được từ 20% đến 30% phương sai của ý định quay lại trong ngắn hạn (Shawn Jang và cộng sự, 2006; Um và cộng sự, 2006). Trong bối cảnh chuyển dịch sang nền kinh tế trải nghiệm (Pine và Gilmore, 1998), trải nghiệm du lịch đáng nhớ (Memorable Tourism Experiences - MTEs) trở thành tiền đề cốt lõi dự báo hành vi du khách (Kim và cộng sự, 2012). Tại Việt Nam, du lịch cộng đồng (Community-Based Tourism - CBT) là loại hình giàu tiềm năng nhưng các công trình chuyên sâu về cấu trúc MTEs và tác động của nó tới ý định quay lại của du khách nội địa còn rất hạn chế.
Luận án tiến sĩ ngành Quản trị kinh doanh (mã số: 9340101) của nghiên cứu sinh Trần Thị Thu Huyền, thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Hoài Dung (Hà Nội, 2022), giải quyết trực tiếp khoảng trống trên.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Kiểm định mô hình về mối quan hệ giữa trải nghiệm du lịch đáng nhớ và ý định quay lại điểm đến của khách du lịch nội địa trong du lịch cộng đồng tại Việt Nam.
- Mục tiêu cụ thể:
- Mô tả các thành phần trải nghiệm du lịch đáng nhớ và ý định quay lại điểm đến của khách du lịch nội địa thông qua việc học tập, cải tiến và hiệu chỉnh các thang đo nghiên cứu trước đó cho phù hợp với bối cảnh du lịch cộng đồng tại Việt Nam.
- Đánh giá mối quan hệ giữa trải nghiệm du lịch đáng nhớ và ý định quay lại điểm đến của khách du lịch nội địa trong du lịch cộng đồng tại Việt Nam (có xem xét đến tác động của các yếu tố nhân khẩu học).
- Đánh giá sự khác biệt về mối quan hệ giữa trải nghiệm du lịch đáng nhớ và ý định quay lại điểm đến của khách du lịch nội địa trong du lịch cộng đồng tại Việt Nam giữa những khách đi du lịch cộng đồng quy mô nhóm khác nhau.
- Đưa ra các hàm ý nghiên cứu dành cho các nhà quản lý và doanh nghiệp kinh doanh du lịch cộng đồng từ kết quả nghiên cứu thu được.
Câu hỏi nghiên cứu
- Trong bối cảnh du lịch cộng đồng Việt Nam, trải nghiệm du lịch đáng nhớ của khách du lịch nội địa là người Việt Nam bao gồm những thành phần nào?
- Các biến quan sát trong thang đo được kế thừa từ các nghiên cứu trước đó có phù hợp với bối cảnh nghiên cứu là du lịch cộng đồng tại Việt Nam hay không? Nếu không thì cần cải tiến và hiệu chỉnh như thế nào?
- Trải nghiệm du lịch đáng nhớ có tác động tới ý định quay lại điểm đến của khách du lịch nội địa trong du lịch cộng đồng tại Việt Nam hay không? Nếu có thì sự tác động này là thuận chiều hay nghịch chiều? Các yếu tố nhân khẩu học có tác động tới mối quan hệ này hay không?
- Quy mô nhóm du lịch có làm thay đổi tác động của trải nghiệm du lịch đáng nhớ tới ý định quay lại điểm đến của khách du lịch nội địa trong du lịch cộng đồng tại Việt Nam hay không? Nếu có thì điều đó dẫn tới những khác biệt như thế nào?
Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa trải nghiệm du lịch đáng nhớ và ý định quay lại điểm đến của khách du lịch nội địa trong du lịch cộng đồng ở Việt Nam.
- Khách thể nghiên cứu: Khách du lịch nội địa là người Việt Nam đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam, đã từng đến các điểm du lịch cộng đồng ở khu vực miền núi phía Bắc, Việt Nam.
- Phạm vi không gian: Các điểm đến du lịch cộng đồng thuộc khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam (gồm các địa bàn tiêu biểu như Sa Pa, Tả Van, Mai Châu, Mộc Châu, Nậm Đăm...).
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu sơ cấp phục vụ phân tích được thu thập trong khoảng thời gian từ tháng 3/2021 đến tháng 12/2021.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các nhánh nghiên cứu lý luận và thực nghiệm liên quan đến trải nghiệm du lịch, ý định hành vi, nhân khẩu học và nhóm du khách:
- Nghiên cứu về trải nghiệm và trải nghiệm du lịch đáng nhớ: Khái niệm trải nghiệm phát triển từ phân định của Walter Benjamin (1923) giữa Erlebnis (trải nghiệm tức thời) và Erfahrung (trải nghiệm được đánh giá), tiếp nối qua quan điểm tâm lý học và tiêu dùng của Holbrook và Hirschman (1982), Pine và Gilmore (1998, 1999), Mannell (1984), Larsen (2007), Oh và cộng sự (2007). Về MTEs, Kim, Ritchie và Tung (2010), Kim và cộng sự (2012) đã phát triển thang đo 7 thành phần (Hedonism, Novelty, Local culture, Refreshment/Relaxation, Involvement, Meaningfulness, Knowledge). Chandralal và Valenzuela (2013, 2015) xác định thêm các yếu tố như trải nghiệm chia sẻ, sự bất ngờ, dịch vụ chuyên nghiệp. Các công trình của Coudounaris và Sthapit (2017), Sharma và Nayak (2019), Bigne và cộng sự (2020), Rasoolimanesh và cộng sự (2021) tiếp tục kiểm định MTEs trong các bối cảnh văn hóa và loại hình du lịch đặc thù.
- Nghiên cứu về ý định quay lại điểm đến: Dựa trên nền tảng lý thuyết ý định hành vi (Fishbein và Ajzen, 1975; Warshaw và Davis, 1985; Ajzen, 1988) và ý định mua lại (Berry, 1983; Reichheld và Sasser, 1990; Fullerton, 2005). Trong du lịch, các công trình của Gyte và Phelps (1989), Baloglu và Erickson (1998), Shawn Jang và Feng (2007), Zhang và cộng sự (2018), Conner và Sparks (1996) phân tích các cấp độ ý định quay lại ngắn, trung và dài hạn.
- Nghiên cứu về tác động của nhân khẩu học: Các nghiên cứu của Alimi và Workneh (2016), Wang và cộng sự (2020), Um, Chon và Ro (2006), Mittal và Kamakura (2001) cho thấy tác động của giới tính, độ tuổi, thu nhập, trình độ học vấn tới ý định hành vi có sự không đồng nhất giữa các bối cảnh (như phân tích của Abubakar và cộng sự, 2017; Celik, 2019; Chi, 2010; Valle và cộng sự, 2006; Esu, 2015; Weaver và cộng sự, 1994; Horng và cộng sự, 2012).
- Nghiên cứu về quy mô nhóm du lịch: Park, Woo và Nicolau (2020), Stone và cộng sự (2018), Basala và Klenosky (2001), Xu (2018), Bridal và cộng sự (2012), Han và cộng sự (2018), Song và cộng sự (2018), Wu và Mattila (2013) khẳng định sự hiện diện của bạn đồng hành và quy mô nhóm ảnh hưởng đến sự tương tác, phán đoán và hành vi du lịch.
- Nghiên cứu du lịch cộng đồng tại Việt Nam: Các luận án tiến sĩ trước đó tập trung vào phát triển du lịch cộng đồng (Đặng Trung Kiên, 2020; Lã Thị Bích Quang, 2021), doanh nghiệp xã hội trong CBT (Vũ Hương Giang, 2019) hoặc sự hài lòng của du khách (Nguyễn Công Viện, 2020), nhưng chưa đi sâu vào mối quan hệ giữa MTEs và ý định quay lại.
| Khoảng trống nghiên cứu được xác định |
Cách tiếp cận giải quyết của luận án |
| Cấu trúc các thành phần MTEs chưa được kiểm định đầy đủ trong bối cảnh du lịch cộng đồng. |
Kiểm định, hiệu chỉnh và bổ sung các biến quan sát cho thang đo MTEs trong loại hình CBT tại Việt Nam. |
| Mức độ tác động của từng thành phần MTEs riêng lẻ tới ý định quay lại điểm đến chưa có sự thống nhất. |
Đánh giá tác động độc lập của 9 thành phần MTEs tới ý định quay lại điểm đến của khách nội địa. |
| Thiếu vắng các nghiên cứu phân tích vai trò điều tiết của quy mô nhóm du lịch đối với mối quan hệ MTEs - ý định quay lại. |
Ứng dụng lý thuyết tác động xã hội để kiểm định vai trò điều tiết của quy mô nhóm du lịch bằng phân tích cấu trúc đa nhóm. |
| Tác động của các biến nhân khẩu học đối với ý định quay lại còn phân tán, mâu thuẫn giữa các nghiên cứu trước. |
Kiểm định sự khác biệt về ý định quay lại theo 4 biến nhân khẩu học (giới tính, độ tuổi, trình độ, thu nhập bình quân). |
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
- Lý thuyết củng cố của B. F. Skinner (Reinforcement Theory): Xác lập nguyên lý hành vi con người có xu hướng lặp lại những trải nghiệm mang lại kết quả thỏa mãn (củng cố tích cực) và tránh lặp lại những trải nghiệm không mong muốn (củng cố tiêu cực) (Skinner, 2014; Wirtz và cộng sự, 2003). MTEs đóng vai trò là yếu tố kích thích củng cố trực tiếp ý định quay lại điểm đến của du khách.
- Lý thuyết tác động xã hội của Bibb Latané (1981): Mô hình hóa tác động xã hội qua hàm số $i = f(S \times I \times N)$, trong đó tác động xã hội ($i$) phụ thuộc vào sức mạnh ($S$), tính tức thời ($I$) và số lượng nguồn tác động ($N$). Số lượng thành viên trong nhóm du lịch đóng vai trò điều tiết mức độ tác động của các trải nghiệm đến nhận thức, cảm xúc và ý định hành vi của cá nhân.
- Các lý thuyết bổ trợ: Lý thuyết Chuỗi phương tiện – kết thúc (Means-End Chain - Gutman, 1982), Lý thuyết hành động hợp lý (TRA - Fishbein và Ajzen, 1975) và Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB - Ajzen, 1985, 1991).
Khung phân tích và hệ thống giả thuyết nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu bao gồm 9 biến độc lập (các thành phần MTEs), 1 biến phụ thuộc (Ý định quay lại điểm đến), 1 biến điều tiết (Quy mô nhóm du lịch) và 4 biến kiểm soát nhân khẩu học.
| Mã giả thuyết |
Nội dung giả thuyết nghiên cứu |
Chiều tác động giả định |
| H1.1 |
Những trải nghiệm hưởng thụ được ghi nhớ tác động tới ý định quay lại điểm đến |
Thuận chiều (+) |
| H1.2 |
Những trải nghiệm thư giãn được ghi nhớ tác động tới ý định quay lại điểm đến |
Thuận chiều (+) |
| H1.3 |
Những trải nghiệm độc đáo được ghi nhớ tác động tới ý định quay lại điểm đến |
Thuận chiều (+) |
| H1.4 |
Những trải nghiệm tham gia được ghi nhớ tác động tới ý định quay lại điểm đến |
Thuận chiều (+) |
| H1.5 |
Những trải nghiệm ý nghĩa được ghi nhớ tác động tới ý định quay lại điểm đến |
Thuận chiều (+) |
| H1.6 |
Những trải nghiệm kiến thức được ghi nhớ tác động tới ý định quay lại điểm đến |
Thuận chiều (+) |
| H1.7 |
Những trải nghiệm văn hóa địa phương được ghi nhớ tác động tới ý định quay lại điểm đến |
Thuận chiều (+) |
| H1.8 |
Những trải nghiệm bất ngờ được ghi nhớ tác động tới ý định quay lại điểm đến |
Thuận chiều (+) |
| H1.9 |
Những trải nghiệm cảm xúc tiêu cực được ghi nhớ tác động tới ý định quay lại điểm đến |
Ngược chiều (-) |
| H2 |
Quy mô nhóm du lịch có ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa MTEs và ý định quay lại điểm đến |
Tác động điều tiết |
| H3 |
Có sự khác biệt về ý định quay lại điểm đến giữa các nhóm khách phân theo giới tính, độ tuổi, trình độ và thu nhập |
Kiểm định khác biệt |
Quy trình và phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng thiết kế nghiên cứu hỗn hợp kết hợp định tính và định lượng qua 4 bước:
Bước 1: Tổng quan nghiên cứu -> Xác định khoảng trống và xây dựng mô hình nghiên cứu
Bước 2: Phỏng vấn sâu & Thảo luận nhóm -> Cải tiến, bổ sung biến quan sát, hoàn thiện thang đo
Bước 3: Nghiên cứu định lượng sơ bộ -> Đánh giá độ tin cậy Cronbach's Alpha, chỉnh sửa bảng hỏi
Bước 4: Nghiên cứu định lượng chính thức -> Khảo sát quy mô lớn, kiểm định EFA, CFA, SEM, Đa nhóm
- Nghiên cứu định tính: Thực hiện phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm nhằm hiệu chỉnh thang đo MTEs kế thừa từ Kim và cộng sự (2012) và Chandralal và cộng sự (2015). Kết quả định tính bổ sung 02 biến quan sát: 01 biến về sự truyền cảm hứng vào thang đo "Sự ý nghĩa" và 01 biến về trải nghiệm ẩm thực địa phương vào thang đo "Văn hóa địa phương". Thang đo ý định quay lại kế thừa từ Conner và Sparks (1996).
- Nghiên cứu định lượng sơ bộ: Khảo sát thử nghiệm mẫu nhỏ để kiểm tra độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach's Alpha và hiệu chỉnh các câu từ trong bảng hỏi khảo sát.
- Nghiên cứu định lượng chính thức: Thu thập dữ liệu sơ cấp qua bảng hỏi khảo sát du khách nội địa đã trải nghiệm CBT tại miền núi phía Bắc. Các kỹ thuật xử lý dữ liệu bao gồm: thống kê mô tả, kiểm định T-test, One-way ANOVA, kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA), mô hình phương trình cấu trúc tuyến tính (SEM) và phân tích cấu trúc đa nhóm (Multigroup Analysis) để kiểm định tác động điều tiết của quy mô nhóm.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các tài liệu học thuật về trải nghiệm du lịch, MTEs, ý định quay lại điểm đến, bản chất của du lịch cộng đồng, vai trò của quy mô nhóm và các biến nhân khẩu học. Tác giả phân tích các mô hình nghiên cứu tiêu biểu của Coudounaris và Sthapit (2017), Kim (2017), Sharma và Nayak (2019), Rasoolimanesh và cộng sự (2021).
Trên cơ sở các khoảng trống tri thức đã nhận diện, chương này đặt nền móng lý thuyết thông qua Lý thuyết củng cố của B. F. Skinner và Lý thuyết tác động xã hội của Bibb Latané, xây dựng khung mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 9 thành phần MTEs đóng vai trò là biến độc lập, ý định quay lại điểm đến là biến phụ thuộc, quy mô nhóm du lịch là biến điều tiết, cùng hệ thống 11 giả thuyết nghiên cứu (từ H1.1 đến H1.9, H2 và H3).
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu và quy trình vận hành phương pháp luận. Tác giả xây dựng hệ thống thang đo chi tiết cho các biến nghiên cứu:
- Biến phụ thuộc: Ý định quay lại điểm đến (kế thừa thang đo của Conner và Sparks, 1996; Lam và cộng sự, 2006).
- Biến độc lập: 9 thành phần MTEs gồm Sự tận hưởng, Sự thư giãn, Sự độc đáo, Sự tham gia, Sự ý nghĩa, Kiến thức, Văn hóa địa phương, Sự bất ngờ và Cảm xúc tiêu cực (kế thừa thang đo của Kim và cộng sự, 2012; Chandralal và cộng sự, 2015; Bigne và cộng sự, 2020).
- Biến điều tiết: Quy mô nhóm du lịch (phân chia nhóm nhỏ và nhóm lớn).
- Biến nhân khẩu học: Giới tính, độ tuổi (các nhóm tuổi theo chuẩn khảo sát), trình độ học vấn (THPT, CĐ/ĐH, Sau ĐH) và thu nhập bình quân hộ gia đình theo tháng (dựa trên phân vị khảo sát mức sống VHLSS).
Chương 2 mô tả chi tiết tiêu chuẩn chọn mẫu phỏng vấn sâu, nội dung hướng dẫn thảo luận nhóm, quy trình trích xuất từ khóa, kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ và kế hoạch thu thập dữ liệu định lượng chính thức tại các tỉnh miền núi phía Bắc.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 công bố kết quả xử lý và phân tích số liệu thực nghiệm:
- Đặc điểm mẫu khảo sát: Thống kê mô tả chi tiết cơ cấu mẫu theo giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn và thu nhập hộ gia đình.
- Kiểm định khác biệt trung bình: Kết quả kiểm định Independent Samples T-test (theo giới tính) và One-way ANOVA (theo độ tuổi, trình độ, thu nhập hộ gia đình) cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về ý định quay lại điểm đến giữa các nhóm nhân khẩu học này. Ngược lại, kiểm định One-way ANOVA chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về ý định quay lại theo quy mô nhóm du lịch.
- Kiểm định độ tin cậy và phân tích EFA: Hệ số Cronbach's Alpha của các thang đo đều đạt chuẩn tin cậy. Trong phân tích EFA, sau khi loại bỏ 01 biến quan sát không đạt chuẩn thuộc thang đo "Sự độc đáo", ma trận nhân tố trích xuất rõ ràng 9 nhân tố độc lập và 1 nhân tố phụ thuộc.
- Phân tích CFA và SEM: Mô hình phân tích nhân tố khẳng định (CFA) đạt độ tương thích tốt với dữ liệu thị trường, đảm bảo tính đơn nguyên, độ tin cậy tổng hợp, giá trị hội tụ và giá trị phân biệt. Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) xác nhận MTEs giải thích 66.8% phương sai của ý định quay lại điểm đến ($R^2 = 0.668$).
- Kết quả kiểm định giả thuyết H1: 8 thành phần MTEs mang tính tích cực (Sự thư giãn, Sự độc đáo, Sự tận hưởng, Sự tham gia, Sự ý nghĩa, Kiến thức, Văn hóa địa phương, Sự bất ngờ) đều có tác động thuận chiều có ý nghĩa thống kê tới ý định quay lại điểm đến. Trong đó, "Sự thư giãn" và "Sự độc đáo" là hai thành phần có hệ số tác động mạnh nhất. Thành phần "Cảm xúc tiêu cực" không có tác động có ý nghĩa thống kê tới ý định quay lại (bác bỏ H1.9).
- Phân tích cấu trúc đa nhóm (Multigroup Analysis) kiểm định H2: Kết quả so sánh mô hình khả biến và mô hình bất biến xác nhận quy mô nhóm du lịch đóng vai trò điều tiết mối quan hệ giữa MTEs và ý định quay lại. Tác động của MTEs tới ý định quay lại ở nhóm khách đi từ 8 người trở lên mạnh hơn có ý nghĩa so với nhóm khách đi từ 7 người trở xuống.
Chương 4: Thảo luận kết quả và các hàm ý nghiên cứu
Chương 4 thảo luận sâu các phát hiện nghiên cứu trong mối tương quan với y văn học thuật và thực tiễn du lịch cộng đồng Việt Nam:
- Luận giải nguyên nhân 8 thành phần MTEs tích cực tác động thuận chiều tới ý định quay lại, nhấn mạnh vai trò vượt trội của sự thư giãn và tính độc đáo trong không gian văn hóa bản địa.
- Lý giải vì sao cảm xúc tiêu cực không tác động có ý nghĩa thống kê tới ý định quay lại trong bối cảnh du khách có tâm lý thấu hiểu cho điều kiện khó khăn của các bản làng vùng cao.
- Luận giải tác động điều tiết của quy mô nhóm dựa trên lý thuyết tác động xã hội của Latané: du khách đi nhóm nhỏ ($\le 7$ người) có điểm ý định quay lại trung bình cao hơn, nhưng tác động củng cố của MTEs lên ý định quay lại ở nhóm lớn ($\ge 8$ người) lại mạnh mẽ hơn do hiệu ứng lan tỏa cảm xúc tập thể.
- Xây dựng hệ thống hàm ý quản trị chi tiết cho các cơ sở kinh doanh và nhà quản lý CBT nhằm thiết kế trải nghiệm theo 8 thành phần đáng nhớ và tùy biến theo quy mô nhóm du khách.
- Trình bày đóng góp mới, hạn chế và đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý thuyết
- Hoàn thiện và kiểm định thang đo MTEs trong du lịch cộng đồng: Luận án đã cải tiến và kiểm định thang đo trải nghiệm du lịch đáng nhớ trong bối cảnh CBT tại một quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Bổ sung thành công 02 biến quan sát có ý nghĩa thống kê: 01 biến về sự truyền cảm hứng (thuộc thang đo Sự ý nghĩa) và 01 biến về trải nghiệm ẩm thực địa phương (thuộc thang đo Văn hóa địa phương).
- Xác định cấu trúc tác động của 8 thành phần MTEs: Luận án chứng minh 8 thành phần trải nghiệm đáng nhớ tích cực (thư giãn, độc đáo, tận hưởng, tham gia, ý nghĩa, kiến thức, bất ngờ, văn hóa địa phương) có tác động thuận chiều đến ý định quay lại, giải thích 66.8% ý định quay lại của du khách nội địa, trong đó "Sự thư giãn" và "Sự độc đáo" giữ vai trò chi phối lớn nhất.
- Làm sáng tỏ vai trò điều tiết của quy mô nhóm bằng lý thuyết tác động xã hội: Luận án cung cấp bằng chứng thực nghiệm khẳng định quy mô nhóm du lịch điều tiết mối quan hệ giữa MTEs và ý định quay lại, ứng dụng thành công lý thuyết tác động xã hội của Latané (1981) để giải thích sự khác biệt hành vi giữa nhóm nhỏ ($\le 7$ người) và nhóm lớn ($\ge 8$ người).
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và kiến nghị giải pháp
- Định hướng thiết kế sản phẩm du lịch cộng đồng theo 8 thành phần trải nghiệm: Các nhà quản lý và doanh nghiệp CBT cần chuyển trọng tâm từ cung cấp dịch vụ lưu trú đơn thuần sang thiết kế trải nghiệm chuyên sâu, ưu tiên các hoạt động giúp du khách tái tạo năng lượng (thư giãn), khám phá nét đặc thù bản địa (độc đáo, ẩm thực, văn hóa), tương tác sinh hoạt cùng người dân bản địa (tham gia, truyền cảm hứng).
- Áp dụng linh hoạt thiết kế trải nghiệm theo quy mô nhóm du khách:
- Đối với nhóm nhỏ ($\le 7$ người): Tập trung vào chiều sâu của sự tĩnh lặng, tính cá nhân hóa, sự thư giãn tuyệt đối và sự gắn kết gia đình/bạn thân.
- Đối với nhóm lớn ($\ge 8$ người): Thiết kế các hoạt động trải nghiệm tập thể, giao lưu văn nghệ lửa trại, trò chơi dân gian, sinh hoạt cộng đồng nhằm kích hoạt hiệu ứng tương tác xã hội và gia tăng mức độ gắn kết cảm xúc tập thể.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu:
- Dữ liệu sơ cấp được thu thập trong giai đoạn từ tháng 3/2021 đến tháng 12/2021, thời điểm chịu tác động nhất định bởi các chính sách giãn cách xã hội và biến động của đại dịch Covid-19, điều này có thể ảnh hưởng đến tâm lý và mức độ mong muốn đi du lịch trở lại của người được khảo sát.
- Phạm vi không gian khảo sát tập trung chủ yếu vào các điểm đến du lịch cộng đồng thuộc khu vực miền núi phía Bắc, chưa mở rộng ra các vùng du lịch cộng đồng đặc trưng khác như duyên hải miền Trung, Tây Nguyên hay đồng bằng sông Cửu Long.
- Mẫu nghiên cứu chỉ giới hạn ở khách du lịch nội địa là người Việt Nam, chưa xem xét đối tượng khách du lịch quốc tế.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang các vùng địa lý khác trên toàn quốc nhằm kiểm định tính phổ quát của thang đo MTEs trong du lịch cộng đồng.
- Khảo sát so sánh giữa khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế đến các điểm CBT.
- Đánh giá lại mô hình trong giai đoạn bình thường mới sau đại dịch Covid-19.
- Xem xét thêm các biến điều tiết khác như tính chất nhóm (nhóm gia đình, nhóm đồng nghiệp, nhóm bạn bè) hoặc mức độ quen thuộc với điểm đến.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Quản trị kinh doanh, Du lịch, Marketing: Cung cấp khung lý thuyết cập nhật về MTEs, mô hình nghiên cứu kết hợp lý thuyết củng cố và lý thuyết tác động xã hội, cùng quy trình phân tích định lượng chuẩn mực qua SEM và phân tích cấu trúc đa nhóm (Multigroup Analysis).
- Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch tại các địa phương: Tham khảo cơ sở khoa học để xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm du lịch cộng đồng bền vững, quy hoạch không gian bảo tồn văn hóa gắn liền với phát triển kinh tế sinh kế địa phương.
- Doanh nghiệp lữ hành, hợp tác xã và các hộ kinh doanh du lịch cộng đồng: Vận dụng các hàm ý thiết kế sản phẩm du lịch theo 8 thành phần MTEs và cách thức phân khúc, phục vụ du khách linh hoạt theo quy mô đoàn khách nhằm nâng cao tỷ lệ khách quay trở lại.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định những thành phần trải nghiệm du lịch đáng nhớ nào có tác động thuận chiều tới ý định quay lại điểm đến du lịch cộng đồng?
Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) trong luận án xác nhận 8 thành phần MTEs mang tính tích cực có tác động thuận chiều có ý nghĩa thống kê tới ý định quay lại điểm đến của khách du lịch nội địa, bao gồm: Sự thư giãn, Sự độc đáo, Sự tận hưởng, Sự tham gia, Sự ý nghĩa, Kiến thức, Văn hóa địa phương và Sự bất ngờ. Trong đó, "Sự thư giãn" và "Sự độc đáo" là hai thành phần có mức độ tác động mạnh nhất.
2. Tác giả đã bổ sung những biến quan sát mới nào vào thang đo MTEs trong nghiên cứu định tính?
Qua quá trình phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, tác giả đã bổ sung 02 biến quan sát mới phù hợp với thực tiễn du lịch cộng đồng tại miền núi phía Bắc Việt Nam:
- 01 biến quan sát về sự truyền cảm hứng được bổ sung vào thang đo thành phần "Sự ý nghĩa".
- 01 biến quan sát về trải nghiệm ẩm thực địa phương được bổ sung vào thang đo thành phần "Văn hóa địa phương".
3. Quy mô nhóm du lịch điều tiết mối quan hệ giữa MTEs và ý định quay lại điểm đến như thế nào?
Phân tích cấu trúc đa nhóm chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm:
- Nhóm khách đi quy mô nhỏ ($\le 7$ người) có điểm trung bình ý định quay lại cao hơn.
- Tuy nhiên, cường độ tác động của trải nghiệm du lịch đáng nhớ (MTEs) tới ý định quay lại ở nhóm khách đi quy mô lớn ($\ge 8$ người) lại cao hơn so với nhóm nhỏ. Kết quả này được giải thích phù hợp với Lý thuyết tác động xã hội của Latané (1981), khi số lượng người trong nhóm gia tăng sẽ tạo ra sức mạnh tương tác và khuếch đại tác động củng cố của trải nghiệm lên ý định hành vi.
4. Các yếu tố nhân khẩu học (giới tính, độ tuổi, trình độ, thu nhập) có làm thay đổi ý định quay lại điểm đến trong nghiên cứu này không?
Kết quả kiểm định Independent Samples T-test (đối với biến giới tính) và One-way ANOVA (đối với các biến độ tuổi, trình độ học vấn, thu nhập bình quân hộ gia đình) cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về ý định quay lại điểm đến giữa các nhóm nhân khẩu học này trong bối cảnh khảo sát du lịch cộng đồng tại miền núi phía Bắc.
5. Mô hình nghiên cứu của luận án giải thích được bao nhiêu phần trăm phương sai của ý định quay lại điểm đến?
Theo kết quả phân tích mô hình phương trình cấu trúc (SEM) ở Chương 3, các thành phần của trải nghiệm du lịch đáng nhớ giải thích được 66.8% ($R^2 = 0.668$) sự biến thiên trong ý định quay lại điểm đến du lịch cộng đồng của khách du lịch nội địa.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Trần Thị Thu Huyền (2022) là một công trình nghiên cứu thực nghiệm hệ thống về tác động của trải nghiệm du lịch đáng nhớ tới ý định quay lại điểm đến của du khách nội địa trong bối cảnh du lịch cộng đồng tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp Lý thuyết củng cố của Skinner và Lý thuyết tác động xã hội của Latané qua phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, luận án đã hiệu chỉnh thành công thang đo MTEs đặc thù cho CBT và chứng minh 8 thành phần trải nghiệm tích cực giải thích 66.8% ý định quay lại. Phát hiện về vai trò điều tiết của quy mô nhóm du lịch ($\le 7$ người và $\ge 8$ người) mang lại những đóng góp học thuật mới và cung cấp cơ sở thực tiễn giá trị cho việc hoạch định, thiết kế trải nghiệm du lịch cộng đồng tại Việt Nam.