Luận án tiến sĩ nghiên cứu tác động của trải nghiệm du lịch đáng nhớ tới ý định quay lại điểm đến của khách du lịch nội địa trong du lịch cộng đồng tại việt nam

Chuyên khảo Tác động của trải nghiệm du lịch đáng nhớ đến ý định quay lại của khác phân tích chuyên sâu các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

185
19
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan nghiên cứu về tác động của trải nghiệm du lịch đáng nhớ tới ý định quay lại điểm đến

1.2. Các khái niệm có liên quan

1.3. Các bối cảnh đã nghiên cứu

1.4. Các mô hình nghiên cứu đã thực hiện

1.5. Một số lý thuyết được sử dụng trong nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới ý định quay lại điểm đến trong du lịch

1.6. Sự tác động của các yếu tố nhân khẩu học tới ý định quay lại điểm đến

1.7. Tác động của quy mô nhóm du lịch tới trải nghiệm du lịch và ý định hành vi

1.8. Các kết luận rút ra từ tổng quan nghiên cứu

1.9. Các khái niệm sử dụng trong luận án

1.10. Các lý thuyết sử dụng trong luận án

1.11. Các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu của luận án

1.11.1. Giả thuyết H1 về sự tác động của các thành phần trải nghiệm du lịch đáng nhớ tới ý định quay lại điểm đến

1.11.2. Giả thuyết H2 về sự tác động của quy mô nhóm du lịch tới mối quan hệ giữa trải nghiệm du lịch đáng nhớ và ý định quay lại điểm đến

1.11.3. Giả thuyết H3 về sự tác động của các yếu tố nhân khẩu học tới ý định quay lại điểm đến

1.12. Mô hình nghiên cứu

1.13. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2. Thang đo các biến nghiên cứu

2.2.1. Biến phụ thuộc

2.2.2. Biến độc lập

2.2.3. Biến điều tiết

2.2.4. Biến nhân khẩu học

2.3. Phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm

2.4. Kết quả phỏng vấn

2.5. Thiết kế bảng hỏi

2.6. Nghiên cứu định lượng sơ bộ

2.6.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.6.2. Mẫu nghiên cứu

2.6.3. Phương pháp phân tích dữ liệu

2.7. Nghiên cứu định lượng chính thức

2.7.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.7.2. Mẫu nghiên cứu

2.7.3. Phương pháp phân tích dữ liệu

2.8. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ

3.2. Kết quả nghiên cứu định lượng chính thức

3.3. Thống kê mô tả kết quả nghiên cứu

3.4. Kiểm định sự khác biệt trung bình về ý định quay lại điểm đến

3.5. Kiểm định độ tin cậy của các thang đo bằng Cronbach’s Alpha

3.6. Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

3.7. Phân tích nhân tố khẳng định (CFA)

3.8. Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM)

3.9. Phân tích mô hình cấu trúc đa nhóm (Multigroup analysis)

3.10. Kết luận về các giả thuyết nghiên cứu

3.11. Kết luận chương 3

4. CHƯƠNG 4: THẢO LUẬN KẾT QUẢ VÀ CÁC HÀM Ý NGHIÊN CỨU

4.1. Thảo luận kết quả nghiên cứu

4.1.1. Trải nghiệm du lịch cộng đồng ở Việt Nam có nhiều thành phần phong phú được khách du lịch ghi nhớ

4.1.2. Khách du lịch nội địa tham gia khảo sát có ý định quay lại điểm đến du lịch cộng đồng khá cao, tuy nhiên điều này có thể do ảnh hưởng của các chính sách giãn cách xã hội trong đại dịch Covid-19

4.1.3. Khách du lịch đi theo nhóm nhỏ có ý định quay lại điểm đến cao hơn

4.1.4. Các biến quan sát được bổ sung vào mô hình có ý nghĩa thống kê cho thấy khía cạnh khác biệt của trải nghiệm văn hóa địa phương và trải nghiệm ý nghĩa trong du lịch cộng đồng

4.1.5. Trải nghiệm du lịch đáng nhớ tích cực có tác động thuận chiều tới ý định quay lại điểm đến của khách du lịch nội địa trong du lịch cộng đồng tại Việt Nam

4.1.6. Những trải nghiệm có cảm xúc tiêu cực không có tác động tới ý định quay lại điểm đến của khách du lịch nội địa trong du lịch cộng đồng tại Việt Nam

4.1.7. Giới tính, độ tuổi, thu nhập và trình độ không có tác động tới ý định quay lại điểm đến của khách du lịch nội địa trong du lịch cộng đồng tại Việt Nam

4.1.8. Tác động của trải nghiệm du lịch đáng nhớ tới ý định quay lại điểm đến với những khách du lịch đi theo nhóm từ 8 người trở lên cao hơn so với những khách du lịch đi theo nhóm từ 7 người trở xuống

4.2. Các hàm ý nghiên cứu

4.2.1. Tập trung thiết kế các trải nghiệm du lịch cộng đồng theo hướng mang lại 08 trải nghiệm đáng nhớ cho khách du lịch

4.2.2. Áp dụng linh hoạt các thiết kế trải nghiệm du lịch cộng đồng theo từng quy mô nhóm

4.3. Một số đóng góp của nghiên cứu

4.3.1. Về mặt học thuật

4.3.2. Về mặt thực tiễn

4.4. Những hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo

4.4.1. Những hạn chế của nghiên cứu

4.4.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

4.5. Kết luận chương 4

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tác động của trải nghiệm du lịch đáng nhớ

Trải nghiệm du lịch đáng nhớ đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành ý định quay lại của khách nội địa tại Việt Nam. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng những trải nghiệm tích cực, đặc biệt là những trải nghiệm có cảm xúc mạnh mẽ, có tác động mạnh mẽ đến ý định quay lại của khách du lịch. Theo Kim và cộng sự (2012), trải nghiệm du lịch đáng nhớ không chỉ đơn thuần là những hoạt động mà khách du lịch tham gia, mà còn là những cảm xúc và kỷ niệm mà họ mang về sau chuyến đi. Điều này cho thấy rằng tác động của trải nghiệm đến hành vi của khách du lịch không thể xem nhẹ. Hơn nữa, sự hài lòng về trải nghiệm du lịch cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến ý định quay lại. Các nghiên cứu trước đây đã khẳng định rằng sự hài lòng về dịch vụ, điểm đến, và trải nghiệm có liên quan mật thiết đến quyết định quay lại của khách du lịch (Shawn Jang và cộng sự, 2006).

1.1. Các thành phần của trải nghiệm du lịch đáng nhớ

Các thành phần của trải nghiệm du lịch đáng nhớ bao gồm cảm xúc, hoạt động, và những kỷ niệm mà khách du lịch ghi nhớ. Nghiên cứu cho thấy rằng những trải nghiệm có tính chất độc đáo và khác biệt sẽ tạo ra ấn tượng mạnh mẽ hơn, từ đó gia tăng khả năng quay lại của khách du lịch. Hơn nữa, khách du lịch thường có xu hướng quay lại những điểm đến mà họ đã có trải nghiệm tích cực. Bằng chứng từ nghiên cứu của Kim (2017) cho thấy rằng những trải nghiệm tích cực sẽ làm tăng sự hài lòng và từ đó tăng cường ý định quay lại. Điều này cho thấy rằng việc thiết kế trải nghiệm du lịch cần chú trọng đến các yếu tố tạo ra cảm xúc tích cực cho khách hàng.

II. Ý định quay lại của khách nội địa

Ý định quay lại của khách nội địa trong bối cảnh du lịch Việt Nam là một vấn đề quan trọng, đặc biệt trong thời điểm hiện tại khi ngành du lịch đang phục hồi sau đại dịch Covid-19. Nghiên cứu cho thấy rằng khách du lịch nội địa có xu hướng quay lại những điểm đến mà họ đã có trải nghiệm đáng nhớ. Theo Darnell và Johnson (2001), việc quay lại điểm đến không chỉ phụ thuộc vào trải nghiệm du lịch mà còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như thời gian lưu trú, mức độ hài lòng và sự truyền miệng tích cực từ những người đã trải nghiệm. Hơn nữa, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những khách đi theo nhóm nhỏ có ý định quay lại cao hơn, cho thấy vai trò của quy mô nhóm du lịch trong việc hình thành ý định quay lại.

2.1. Tác động của quy mô nhóm du lịch

Quy mô nhóm du lịch có thể ảnh hưởng đáng kể đến trải nghiệm du lịchý định quay lại. Nghiên cứu cho thấy rằng những nhóm từ 8 người trở lên thường có những trải nghiệm phong phú hơn và dễ dàng tạo ra những kỷ niệm đáng nhớ hơn so với những nhóm nhỏ hơn. Điều này có thể lý giải bởi sự đa dạng trong hoạt động và tương tác giữa các thành viên trong nhóm. Hơn nữa, những trải nghiệm tập thể thường tạo ra cảm giác gắn kết và hài lòng cao hơn, từ đó gia tăng khả năng quay lại điểm đến trong tương lai. Các nhà quản lý du lịch nên xem xét yếu tố quy mô nhóm khi thiết kế các chương trình du lịch để tối ưu hóa trải nghiệm cho khách hàng.

III. Hài lòng và trải nghiệm du lịch

Sự hài lòng của khách du lịch là một yếu tố then chốt trong việc quyết định ý định quay lại. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự hài lòng không chỉ ảnh hưởng đến quyết định quay lại mà còn liên quan đến việc khách du lịch sẽ giới thiệu điểm đến cho người khác. Theo nghiên cứu của Yoon và cộng sự (2005), những khách hàng hài lòng thường có xu hướng truyền miệng tích cực, từ đó tạo ra một vòng lặp tích cực cho điểm đến. Điều này cho thấy rằng việc nâng cao sự hài lòng của khách du lịch thông qua cải thiện chất lượng dịch vụ và trải nghiệm có thể thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành du lịch.

3.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách du lịch, bao gồm chất lượng dịch vụ, trải nghiệm văn hóa địa phương, và cảm xúc trong suốt chuyến đi. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng những trải nghiệm văn hóa độc đáo và khác biệt có thể tạo ra sự hài lòng cao hơn cho khách du lịch. Bên cạnh đó, việc cá nhân hóa trải nghiệm cũng góp phần làm tăng sự hài lòng. Các điểm đến cần chú trọng đến việc tạo ra những trải nghiệm cá nhân hóa để đáp ứng nhu cầu và mong đợi của khách hàng, từ đó gia tăng ý định quay lại trong tương lai.

21/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu về tác động của trải nghiệm du lịch đáng nhớ tới ý định quay lại điểm đến Nội dung nghiên cứu của luận án tập trung vào làm rõ tác động của trải nghiệm du lịch đáng nhớ đến ý định quay lại điểm đến của khách du lịch nội địa trong du lịch cộng đồng tại Việt Nam. Trên định hướng đó, tác giả đã tiến hành tổng hợp các nghiên cứu có liên quan trong khả năng cho phép để làm rõ hơn những kết quả đã đạt được và từ đó xác định những vấn đề cần tiếp tục khám phá, tìm hiểu. Các khái niệm có liên quan 1.

Trải nghiệm du lịch đáng nhớ (MTEs) a. Trải nghiệm, trải nghiệm du lịch và trải nghiệm du lịch đáng nhớ Trải nghiệm (Experience) Trải nghiệm vừa là một danh từ, vừa là một động từ và là một khái niệm khá khó nắm bắt (Jenning, 2006). Trải nghiệm có thể được định nghĩa là quá trình thu nhận kiến thức hoặc kỹ năng thông qua làm việc, quan sát hoặc cảm nhận mọi thứ xung quanh (từ điển Oxford, theo Sharpley và Stone, 2012). Nhà triết học, đồng thời là nhà phê bình văn học Đức Walter Benjamin (1923) đã phát triển hai từ vựng tiếng Đức mới nhằm diễn đạt hai trạng thái khác nhau của trải nghiệm: Erlebnis (the moment by moment lived experience), tạm hiểu là trải nghiệm tức thời; Erfahrung (the evaluated experience), tạm hiểu là trải nghiệm được đánh giá.

Trải nghiệm được đánh giá là trọng tâm của hầu hết các nghiên cứu về trải nghiệm du lịch (Quinlan Cutler, S. Từ thập kỷ 90 của thế kỷ trước, các nghiên cứu về trải nghiệm bắt đầu phát triển ra ngoài khuôn khổ từ điển. Holbrook và Hirsman (1982) đã xem xét trải nghiệm khách hàng trong các nghiên cứu về hành vi người tiêu dùng. Holbrook và Hirsman (1982) là những người đầu tiên cho rằng các yếu tố thuộc về trải nghiệm như niềm vui, ý nghĩa biểu tượng, sự sáng tạo… có thể làm phong phú thêm và mở rộng sự hiểu biết về hành vi của người tiêu dùng.

Theo Holbrook và Hirsman (1982), trải nghiệm được lập luận là hiện tượng tổng hòa cảm xúc (emotion) từ những sự tưởng tượng, các cảm nhận và niềm vui của một cá nhân. Tương tự, Pine và Gilmore (1998) cũng cho rằng các doanh nghiệp 10 cần thiết kế, dàn dựng các trải nghiệm để phục vụ khách hàng của mình. Có thể nói ở giai đoạn này, trải nghiệm được hiểu là kết quả về mặt cảm xúc được tạo ra trong quá trình tương tác giữa người tiêu dùng với cơ sở hạ tầng và dịch vụ của nhà cung cấp. Cách hiểu này đã bỏ qua bản chất tâm lý mang tính chủ quan cá nhân của trải nghiệm được các nhà nghiên cứu tiếp tục bổ sung ở giai đoạn sau.

Những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, trải nghiệm bắt đầu được hiểu như “một trạng thái của tâm trí” (Mannell, 1984). Trải nghiệm là một quá trình tương tác liên tục của việc thực hiện và trải qua, của sự hành động và sự phản ánh, từ nguyên nhân đến kết quả, nó mang ý nghĩa cá nhân khác nhau trong những bối cảnh khác nhau của cuộc đời mỗi người (Boswijk và cộng sự, 2005). O’Dell (2007) cũng lập luận rằng trải nghiệm là một hiện tượng chủ quan, vô hình, liên tục và mang tính cá nhân. Trải nghiệm du lịch (Tourism experience/tourist experience) Những khái niệm ban đầu về du lịch đã nhấn mạnh sự khác biệt giữa hoạt động này và cuộc sống hàng ngày.

Cohen (1972, 1979) cho rằng “du lịch về cơ bản là một sự đảo ngược tạm thời của những hoạt động hàng ngày. Đó là một tình huống không làm việc (no-work), không có những mối quan tâm (no-care) và không cần lo lắng về tiết kiệm (no-thrift). Tương tự, Smith (1978) cũng định nghĩa khách du lịch là “một người tạm thời nhàn nhã đến thăm một nơi xa với mục đích trải nghiệm sự thay đổi”. Khái niệm trải nghiệm du lịch ngày càng trở nên phức tạp bởi tính chất đa dạng trong du lịch hiện đại: du lịch thuần túy, du lịch tôn giáo, du lịch bụi, kết hợp giữa công tác và du lịch, du lịch thực tế ảo… Tương đồng với mỗi giai đoạn phát triển của khái niệm trải nghiệm, trải nghiệm du lịch cũng có sự biến đổi, tuy nhiên do tiếp cận từ các hướng khác nhau nên vẫn chưa có khái niệm chung nhất về trải nghiệm du lịch.

Tiếp cận theo hướng khoa học xã hội, Otto và Richie (1996), định nghĩa trải nghiệm du lịch là trạng thái tinh thần chủ quan được cảm nhận bởi khách du lịch. Quan điểm này khá tương đồng với Larsen (2007), trải nghiệm du lịch là hiện tượng tâm lý dựa trên và bắt nguồn từ từng khách du lịch riêng lẻ. Oh và các cộng sự (2007) lại cho rằng trải nghiệm du lịch, là tất cả những gì mà khách du lịch trải qua tại một điểm đến, trải nghiệm tồn tại trong hành vi hoặc cảm nhận, nhận thức hoặc cảm xúc, có thể được biểu hiện hoặc bao hàm (bên trong). Một nhóm các nghiên cứu khác đã tiếp cận trải nghiệm du lịch theo hướng marketing/quản lý và coi đó như một trải nghiệm tiêu dùng/trải nghiệm khách hàng (Anderson, 2007; Beeho và Prentice, 1995; Gilmore và Pine, 2002; Mossberg, 2007; Pine và Gilmore, 1999; Sternberg, 1997).

Các nghiên cứu này tập trung vào các sản 11 phẩm/dịch vụ được cung cấp cũng như các giải pháp quản lý nhằm nâng cao trải nghiệm du lịch (Moutinho, 1987; Swarbrooke và Horner, 1999; Woodside, 2000) và đi sâu vào vệc đánh giá các địa điểm, các hoạt động và kỹ thuật quản lý trải nghiệm du lịch hơn là tìm hiểu bản chất của trải nghiệm (Quinlan Cutler, S. Mặc dù hướng tiếp cận theo hai hướng khác nhau, nhưng các kết quả nghiên cứu gần đây có nhiều điểm chung trong nhận định về bản chất của trải nghiệm du lịch. Thứ nhất, trải nghiệm du lịch mang tính cá nhân với sự tham gia của chính cá nhân đó với tư cách người đồng sáng tạo trải nghiệm (Cohen, 1979; Larsen 2007; Oh và cộng sự, 2007; Sugathan, P. Thứ hai, trải nghiệm du lịch là một trạng thái tinh thần phức tạp, là kết quả của quá trình tương tác giữa khách du lịch với tất cả sự vật, hiện tượng trong quá trình du lịch, bao gồm cảm nhận, cảm xúc, suy nghĩ, giá trị, ý nghĩa… (Lee và Crompton, 1992; Oh, Fiore và Jeoung, 2007; Larsen, 2007; Gilmore và Pine, 2002, Woodside, 2000; Quinlan Cutler, S.

Trải nghiệm du lịch đáng nhớ (Memorable tourism experience) Liên kết giữa trí nhớ và trải nghiệm hoàn toàn không mới, chúng đã được đề cập trong nghiên cứu của Fridgen (1984), Arnord và Price (1993), Noy (2004), Culter và Carmichael (2010). Theo sự tổng hợp của Kim (2010) thì có 3 nhóm yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến khả năng ghi nhớ của con người đã được ghi nhận trong các nghiên cứu trước. Thứ nhất, những sự kiện gắn kết với cảm xúc càng nhiều thì càng đc ghi nhớ tốt hơn, mức độ cảm xúc càng cao thì sự ghi nhớ càng rõ ràng. Thứ hai, sự đánh giá nhận thức (được hiểu là sự tiến hành phân tích ngữ nghĩa của tình huống/sự kiện, một quá trình hậu kiểm làm phong phú hoặc chi tiết hơn các tác động ban đầu) làm tăng khả năng hồi tưởng các ký ức.

Thứ ba, những sự kiện bất thường, đặc biệt được ghi nhớ tốt hơn so với những sự kiện thông thường. Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu của Kim, Tung và Ritchie đã đi sâu vào tìm hiểu về MTEs và các vấn đề có liên quan. Họ cho rằng một MTEs được hình thành có chọn lọc từ những trải nghiệm du lịch phụ thuộc vào đánh giá của mỗi cá nhân đối với trải nghiệm đó. (Kim và cộng sự, 2012) đã đưa ra khái niệm về trải nghiệm du lịch đáng nhớ và một loạt các nghiên cứu về MTEs sau đó như của Kim và cộng sự (2013, 2017), Chandaral và cộng sự (2013, 2015), Tsai và cộng sự (2016), Coudounaris và Sthapit (2017), Bigne và cộng sự (2020), Rasoolimanesh và cộng sự (2021) …đều thừa nhận và đồng thuận với khái niệm trên.

Các thành phần trải nghiệm du lịch đáng nhớ Khách du lịch có rất nhiều trải nghiệm khác nhau trong chuyến đi. Tuy nhiên không phải trải nghiệm du lịch nào cũng được ghi nhớ. Khá nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để xem xét những thành phần trải nghiệm du lịch nào được ghi nhớ. Tác giả đã tổng hợp một số kết quả nghiên cứu trong bảng dưới đây.1: Các khía cạnh của trải nghiệm du lịch đáng nhớ đã được khám phá trong các nghiên cứu trước TT Thành phần Khái niệm Các nghiên cứu có liên quan Dunman và Mattila (2005) Sự tận hưởng Cảm giác dễ chịu làm Mannell và Kleiber (1997) 1 (Hedonism) bản thân phấn khích Otto và Ritchie (1996) Kim và cộng sự (2010, 2014) Một cảm giác thoải mái và dễ chịu (mà không Cảm giác thư giãn Howard và cộng sự (1993) 2 liên quan đến các nguyên (Relaxation) Mannell, Zuzanek và Larson (1988) nhân xuất phát từ hoạt động thể chất) Arnould và Price (1993) Cảm xúc được/bị khơi Bolla, Dawson và Harrington (1991) Sự kích thích gợi nâng cao và có cảm 3 Howard và đồng sự (1993) (Stimulation) giác được tiếp thêm sinh Obenour và đồng sự (2006) lực cho bản thân Samdahl (1991) Howard và đồng sự (1993) Cảm giác tươi mới Cảm giác được làm mới Hull và Michael (1995) 4 (Refreshment) bản thân Samdahl (1991) Kim và cộng sự (2010, 2014) Cảm xúc tiêu cực Cảm xúc tâm lý tiêu cực, Aziz (1995) 5 (Adverse feelings) ví dụ: tức giận và thất vọng Ryan (1991, 1993) Ap và Wong (2001) Cảm giác có sự kết nối và Arnould và Price (1993) được thừa nhận vào Tương tác xã hội Bolla, Dawson và Harrington (1991) 6 nhóm với khách du lịch (Social interaction) Howard và đồng sự (1993) khác và/hoặc người dân Obenour và đồng sự (2006) địa phương Samdahl (1991) 13 TT Thành phần Khái niệm Các nghiên cứu có liên quan Kim và cộng sự (2010, 2014) Cảm giác hạnh Một cảm giác vui sướng Bolla, Dawson và Harrington 7 phúc (Happiness) nảy sinh từ trái tim (1991) Bruner (1991) Nhận thấy/nhận được một Jamal và Hollinshead (2001) Ý nghĩa 8 ý nghĩa hoặc một giá trị Noy (2004) (Meaningfulness) lớn từ những gì đã trải qua Wilson và Harris (2006) Kim và cộng sự (2010, 2014) Thông tin, sự thật hoặc Blackshaw (2003) Kiến thức 9 kinh nghiệm được biết Otto và Ritchie (1996) (Knowledge) đến bởi cá nhân Kim và Ritchie (2014).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tên "Nghiên cứu tác động của trải nghiệm du lịch đáng nhớ tới ý định quay lại của khách du lịch nội địa tại Việt Nam" của tác giả Trần Thị Thu Huyền, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Thị Hoài Dung, khám phá mối liên hệ giữa trải nghiệm du lịch và ý định quay lại của du khách. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về yếu tố nào tạo nên những trải nghiệm du lịch đáng nhớ mà còn chỉ ra tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng dịch vụ trong ngành du lịch, từ đó khuyến khích sự quay lại của khách du lịch nội địa. Những thông tin và phân tích trong bài viết sẽ mang lại cái nhìn sâu sắc cho những ai quan tâm đến lĩnh vực quản trị kinh doanh và phát triển du lịch tại Việt Nam.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như Khai thác văn hóa ẩm thực phục vụ phát triển du lịch tại quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, trong đó bàn về việc phát triển du lịch thông qua văn hóa ẩm thực, hay Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch xanh ở Việt Nam, một nghiên cứu về những yếu tố cần thiết để thúc đẩy du lịch bền vững. Cuối cùng, bài viết Vai trò của Nhà nước đối với phát triển du lịch Việt Nam trong bối cảnh Cộng đồng Kinh tế ASEAN sẽ cung cấp cái nhìn về ảnh hưởng của chính sách nhà nước đối với ngành du lịch, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về bối cảnh phát triển du lịch tại Việt Nam.