CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu về tác động của trải nghiệm du lịch đáng nhớ tới ý định quay lại điểm đến Nội dung nghiên cứu của luận án tập trung vào làm rõ tác động của trải nghiệm du lịch đáng nhớ đến ý định quay lại điểm đến của khách du lịch nội địa trong du lịch cộng đồng tại Việt Nam. Trên định hướng đó, tác giả đã tiến hành tổng hợp các nghiên cứu có liên quan trong khả năng cho phép để làm rõ hơn những kết quả đã đạt được và từ đó xác định những vấn đề cần tiếp tục khám phá, tìm hiểu. Các khái niệm có liên quan 1.
Trải nghiệm du lịch đáng nhớ (MTEs) a. Trải nghiệm, trải nghiệm du lịch và trải nghiệm du lịch đáng nhớ Trải nghiệm (Experience) Trải nghiệm vừa là một danh từ, vừa là một động từ và là một khái niệm khá khó nắm bắt (Jenning, 2006). Trải nghiệm có thể được định nghĩa là quá trình thu nhận kiến thức hoặc kỹ năng thông qua làm việc, quan sát hoặc cảm nhận mọi thứ xung quanh (từ điển Oxford, theo Sharpley và Stone, 2012). Nhà triết học, đồng thời là nhà phê bình văn học Đức Walter Benjamin (1923) đã phát triển hai từ vựng tiếng Đức mới nhằm diễn đạt hai trạng thái khác nhau của trải nghiệm: Erlebnis (the moment by moment lived experience), tạm hiểu là trải nghiệm tức thời; Erfahrung (the evaluated experience), tạm hiểu là trải nghiệm được đánh giá.
Trải nghiệm được đánh giá là trọng tâm của hầu hết các nghiên cứu về trải nghiệm du lịch (Quinlan Cutler, S. Từ thập kỷ 90 của thế kỷ trước, các nghiên cứu về trải nghiệm bắt đầu phát triển ra ngoài khuôn khổ từ điển. Holbrook và Hirsman (1982) đã xem xét trải nghiệm khách hàng trong các nghiên cứu về hành vi người tiêu dùng. Holbrook và Hirsman (1982) là những người đầu tiên cho rằng các yếu tố thuộc về trải nghiệm như niềm vui, ý nghĩa biểu tượng, sự sáng tạo… có thể làm phong phú thêm và mở rộng sự hiểu biết về hành vi của người tiêu dùng.
Theo Holbrook và Hirsman (1982), trải nghiệm được lập luận là hiện tượng tổng hòa cảm xúc (emotion) từ những sự tưởng tượng, các cảm nhận và niềm vui của một cá nhân. Tương tự, Pine và Gilmore (1998) cũng cho rằng các doanh nghiệp 10 cần thiết kế, dàn dựng các trải nghiệm để phục vụ khách hàng của mình. Có thể nói ở giai đoạn này, trải nghiệm được hiểu là kết quả về mặt cảm xúc được tạo ra trong quá trình tương tác giữa người tiêu dùng với cơ sở hạ tầng và dịch vụ của nhà cung cấp. Cách hiểu này đã bỏ qua bản chất tâm lý mang tính chủ quan cá nhân của trải nghiệm được các nhà nghiên cứu tiếp tục bổ sung ở giai đoạn sau.
Những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, trải nghiệm bắt đầu được hiểu như “một trạng thái của tâm trí” (Mannell, 1984). Trải nghiệm là một quá trình tương tác liên tục của việc thực hiện và trải qua, của sự hành động và sự phản ánh, từ nguyên nhân đến kết quả, nó mang ý nghĩa cá nhân khác nhau trong những bối cảnh khác nhau của cuộc đời mỗi người (Boswijk và cộng sự, 2005). O’Dell (2007) cũng lập luận rằng trải nghiệm là một hiện tượng chủ quan, vô hình, liên tục và mang tính cá nhân. Trải nghiệm du lịch (Tourism experience/tourist experience) Những khái niệm ban đầu về du lịch đã nhấn mạnh sự khác biệt giữa hoạt động này và cuộc sống hàng ngày.
Cohen (1972, 1979) cho rằng “du lịch về cơ bản là một sự đảo ngược tạm thời của những hoạt động hàng ngày. Đó là một tình huống không làm việc (no-work), không có những mối quan tâm (no-care) và không cần lo lắng về tiết kiệm (no-thrift). Tương tự, Smith (1978) cũng định nghĩa khách du lịch là “một người tạm thời nhàn nhã đến thăm một nơi xa với mục đích trải nghiệm sự thay đổi”. Khái niệm trải nghiệm du lịch ngày càng trở nên phức tạp bởi tính chất đa dạng trong du lịch hiện đại: du lịch thuần túy, du lịch tôn giáo, du lịch bụi, kết hợp giữa công tác và du lịch, du lịch thực tế ảo… Tương đồng với mỗi giai đoạn phát triển của khái niệm trải nghiệm, trải nghiệm du lịch cũng có sự biến đổi, tuy nhiên do tiếp cận từ các hướng khác nhau nên vẫn chưa có khái niệm chung nhất về trải nghiệm du lịch.
Tiếp cận theo hướng khoa học xã hội, Otto và Richie (1996), định nghĩa trải nghiệm du lịch là trạng thái tinh thần chủ quan được cảm nhận bởi khách du lịch. Quan điểm này khá tương đồng với Larsen (2007), trải nghiệm du lịch là hiện tượng tâm lý dựa trên và bắt nguồn từ từng khách du lịch riêng lẻ. Oh và các cộng sự (2007) lại cho rằng trải nghiệm du lịch, là tất cả những gì mà khách du lịch trải qua tại một điểm đến, trải nghiệm tồn tại trong hành vi hoặc cảm nhận, nhận thức hoặc cảm xúc, có thể được biểu hiện hoặc bao hàm (bên trong). Một nhóm các nghiên cứu khác đã tiếp cận trải nghiệm du lịch theo hướng marketing/quản lý và coi đó như một trải nghiệm tiêu dùng/trải nghiệm khách hàng (Anderson, 2007; Beeho và Prentice, 1995; Gilmore và Pine, 2002; Mossberg, 2007; Pine và Gilmore, 1999; Sternberg, 1997).
Các nghiên cứu này tập trung vào các sản 11 phẩm/dịch vụ được cung cấp cũng như các giải pháp quản lý nhằm nâng cao trải nghiệm du lịch (Moutinho, 1987; Swarbrooke và Horner, 1999; Woodside, 2000) và đi sâu vào vệc đánh giá các địa điểm, các hoạt động và kỹ thuật quản lý trải nghiệm du lịch hơn là tìm hiểu bản chất của trải nghiệm (Quinlan Cutler, S. Mặc dù hướng tiếp cận theo hai hướng khác nhau, nhưng các kết quả nghiên cứu gần đây có nhiều điểm chung trong nhận định về bản chất của trải nghiệm du lịch. Thứ nhất, trải nghiệm du lịch mang tính cá nhân với sự tham gia của chính cá nhân đó với tư cách người đồng sáng tạo trải nghiệm (Cohen, 1979; Larsen 2007; Oh và cộng sự, 2007; Sugathan, P. Thứ hai, trải nghiệm du lịch là một trạng thái tinh thần phức tạp, là kết quả của quá trình tương tác giữa khách du lịch với tất cả sự vật, hiện tượng trong quá trình du lịch, bao gồm cảm nhận, cảm xúc, suy nghĩ, giá trị, ý nghĩa… (Lee và Crompton, 1992; Oh, Fiore và Jeoung, 2007; Larsen, 2007; Gilmore và Pine, 2002, Woodside, 2000; Quinlan Cutler, S.
Trải nghiệm du lịch đáng nhớ (Memorable tourism experience) Liên kết giữa trí nhớ và trải nghiệm hoàn toàn không mới, chúng đã được đề cập trong nghiên cứu của Fridgen (1984), Arnord và Price (1993), Noy (2004), Culter và Carmichael (2010). Theo sự tổng hợp của Kim (2010) thì có 3 nhóm yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến khả năng ghi nhớ của con người đã được ghi nhận trong các nghiên cứu trước. Thứ nhất, những sự kiện gắn kết với cảm xúc càng nhiều thì càng đc ghi nhớ tốt hơn, mức độ cảm xúc càng cao thì sự ghi nhớ càng rõ ràng. Thứ hai, sự đánh giá nhận thức (được hiểu là sự tiến hành phân tích ngữ nghĩa của tình huống/sự kiện, một quá trình hậu kiểm làm phong phú hoặc chi tiết hơn các tác động ban đầu) làm tăng khả năng hồi tưởng các ký ức.
Thứ ba, những sự kiện bất thường, đặc biệt được ghi nhớ tốt hơn so với những sự kiện thông thường. Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu của Kim, Tung và Ritchie đã đi sâu vào tìm hiểu về MTEs và các vấn đề có liên quan. Họ cho rằng một MTEs được hình thành có chọn lọc từ những trải nghiệm du lịch phụ thuộc vào đánh giá của mỗi cá nhân đối với trải nghiệm đó. (Kim và cộng sự, 2012) đã đưa ra khái niệm về trải nghiệm du lịch đáng nhớ và một loạt các nghiên cứu về MTEs sau đó như của Kim và cộng sự (2013, 2017), Chandaral và cộng sự (2013, 2015), Tsai và cộng sự (2016), Coudounaris và Sthapit (2017), Bigne và cộng sự (2020), Rasoolimanesh và cộng sự (2021) …đều thừa nhận và đồng thuận với khái niệm trên.
Các thành phần trải nghiệm du lịch đáng nhớ Khách du lịch có rất nhiều trải nghiệm khác nhau trong chuyến đi. Tuy nhiên không phải trải nghiệm du lịch nào cũng được ghi nhớ. Khá nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để xem xét những thành phần trải nghiệm du lịch nào được ghi nhớ. Tác giả đã tổng hợp một số kết quả nghiên cứu trong bảng dưới đây.1: Các khía cạnh của trải nghiệm du lịch đáng nhớ đã được khám phá trong các nghiên cứu trước TT Thành phần Khái niệm Các nghiên cứu có liên quan Dunman và Mattila (2005) Sự tận hưởng Cảm giác dễ chịu làm Mannell và Kleiber (1997) 1 (Hedonism) bản thân phấn khích Otto và Ritchie (1996) Kim và cộng sự (2010, 2014) Một cảm giác thoải mái và dễ chịu (mà không Cảm giác thư giãn Howard và cộng sự (1993) 2 liên quan đến các nguyên (Relaxation) Mannell, Zuzanek và Larson (1988) nhân xuất phát từ hoạt động thể chất) Arnould và Price (1993) Cảm xúc được/bị khơi Bolla, Dawson và Harrington (1991) Sự kích thích gợi nâng cao và có cảm 3 Howard và đồng sự (1993) (Stimulation) giác được tiếp thêm sinh Obenour và đồng sự (2006) lực cho bản thân Samdahl (1991) Howard và đồng sự (1993) Cảm giác tươi mới Cảm giác được làm mới Hull và Michael (1995) 4 (Refreshment) bản thân Samdahl (1991) Kim và cộng sự (2010, 2014) Cảm xúc tiêu cực Cảm xúc tâm lý tiêu cực, Aziz (1995) 5 (Adverse feelings) ví dụ: tức giận và thất vọng Ryan (1991, 1993) Ap và Wong (2001) Cảm giác có sự kết nối và Arnould và Price (1993) được thừa nhận vào Tương tác xã hội Bolla, Dawson và Harrington (1991) 6 nhóm với khách du lịch (Social interaction) Howard và đồng sự (1993) khác và/hoặc người dân Obenour và đồng sự (2006) địa phương Samdahl (1991) 13 TT Thành phần Khái niệm Các nghiên cứu có liên quan Kim và cộng sự (2010, 2014) Cảm giác hạnh Một cảm giác vui sướng Bolla, Dawson và Harrington 7 phúc (Happiness) nảy sinh từ trái tim (1991) Bruner (1991) Nhận thấy/nhận được một Jamal và Hollinshead (2001) Ý nghĩa 8 ý nghĩa hoặc một giá trị Noy (2004) (Meaningfulness) lớn từ những gì đã trải qua Wilson và Harris (2006) Kim và cộng sự (2010, 2014) Thông tin, sự thật hoặc Blackshaw (2003) Kiến thức 9 kinh nghiệm được biết Otto và Ritchie (1996) (Knowledge) đến bởi cá nhân Kim và Ritchie (2014).