Luận văn Đảng lãnh đạo Việt Nam hội nhập quốc tế giai đoạn 2011 - 2020

Nghiên cứu quá trình Đảng lãnh đạo hội nhập quốc tế của Việt Nam giai đoạn 2011-2020. Phân tích chủ trương, thành tựu và bài học kinh nghiệm sâu sắc.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2022

111
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan Đảng lãnh đạo hội nhập quốc tế Việt Nam giai đoạn 2011 2020

Giai đoạn 2011-2020 đánh dấu quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hội nhập quốc tế toàn diện với định hướng chủ động, tích cực. Đảng xác định hội nhập là nhiệm vụ chiến lược quan trọng, gắn liền với phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ lợi ích quốc gia. Quá trình này diễn ra trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng, cạnh tranh quốc tế gay gắt và biến động kinh tế thế giới. Đảng đã chủ động tham gia các tổ chức quốc tế như WTO, APEC, ASEM, đồng thời thúc đẩy đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) quan trọng như CPTPP, EVFTA. Chiến lược hội nhập được thể hiện rõ trong các nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, XII, XIII. Mục tiêu là nâng cao vị thế quốc tế, thu hút nguồn lực bên ngoài, đồng thời bảo vệ chủ quyền và lợi ích cốt lõi. Quá trình này đòi hỏi Đảng phải có tầm nhìn chiến lược, khả năng thích ứng linh hoạt với biến động quốc tế.

1.1. Bối cảnh lịch sử và quan điểm chỉ đạo của Đảng

Giai đoạn 2011-2020, Việt Nam hội nhập trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chậm sau khủng hoảng 2008, cạnh tranh giữa các trung tâm kinh tế gia tăng. Đảng xác định hội nhập quốc tế là xu thế tất yếu, vừa là cơ hội vừa là thách thức. Quan điểm chỉ đạo của Đảng thể hiện rõ trong Nghị quyết Đại hội XI (2011) nhấn mạnh hội nhập phải gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế. Đảng khẳng định hội nhập phải bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vững độc lập tự chủ. Quan điểm này tiếp tục được cụ thể hóa trong Nghị quyết Đại hội XII (2016) với yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế. Đảng cũng chú trọng xây dựng lực lượng cán bộ có trình độ, năng lực hội nhập, đảm bảo đủ nguồn lực thực hiện chiến lược.

1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ hội nhập quốc tế giai đoạn 2011 2020

Mục tiêu tổng quát là đưa Việt Nam trở thành quốc gia có trình độ phát triển cao, có vị thế xứng đáng trên trường quốc tế. Các mục tiêu cụ thể gồm: tham gia sâu rộng vào các thể chế kinh tế toàn cầu, tận dụng ưu đãi từ các FTA để thúc đẩy xuất khẩu, thu hút FDI chất lượng cao. Đảng đặt ra nhiệm vụ nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Nhiệm vụ quan trọng khác là bảo vệ chủ quyền biển đảo, giải quyết tranh chấp theo luật pháp quốc tế. Đảng cũng chú trọng bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập. Các nhiệm vụ này được triển khai đồng bộ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng.

II. Phân tích vai trò lãnh đạo Đảng trong hội nhập quốc tế giai đoạn 2011 2020

Đảng lãnh đạo hội nhập thông qua việc xây dựng đường lối, nghị quyết, chỉ thị và tổ chức triển khai thực hiện. Vai trò lãnh đạo thể hiện rõ trong việc ban hành Nghị quyết Đại hội XI (2011) xác định hội nhập là nhiệm vụ trọng tâm. Đảng chủ động tham gia các diễn đàn quốc tế, thúc đẩy quan hệ đối ngoại đa phương và song phương. Đảng lãnh đạo quá trình đàm phán, ký kết các FTA quan trọng như CPTPP, EVFTA, nâng cao vị thế quốc tế. Vai trò lãnh đạo còn thể hiện trong việc điều chỉnh chính sách kinh tế, cải cách thể chế để phù hợp với cam kết quốc tế. Đảng lãnh đạo công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức toàn xã hội về hội nhập. Đồng thời, Đảng chỉ đạo công tác đối ngoại, bảo vệ lợi ích quốc gia trong các tổ chức quốc tế. Quá trình lãnh đạo đòi hỏi Đảng phải có sự thống nhất giữa tư duy lý luận và thực tiễn triển khai.

2.1. Cơ chế lãnh đạo và tổ chức triển khai hội nhập

Đảng lãnh đạo hội nhập thông qua hệ thống tổ chức từ trung ương đến địa phương. Trung ương Đảng ban hành nghị quyết, chỉ thị định hướng chiến lược. Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ đạo trực tiếp các nhiệm vụ quan trọng. Chính phủ, các bộ ngành triển khai theo chức năng nhiệm vụ. Đảng ủy các cấp lãnh đạo, chỉ đạo hội nhập tại địa phương. Đảng lãnh đạo thông qua vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị-xã hội. Cơ chế phối hợp giữa Đảng, Nhà nước, doanh nghiệp và người dân được tăng cường. Đảng lãnh đạo công tác giám sát, đánh giá kết quả triển khai hội nhập. Cơ chế phản hồi, điều chỉnh chính sách kịp thời được thiết lập. Đảng chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại.

2.2. Những thành tựu và hạn chế trong lãnh đạo hội nhập

Thành tựu nổi bật là Việt Nam tham gia sâu rộng vào kinh tế toàn cầu, ký kết 16 FTA, trong đó có những hiệp định thế hệ mới. Kinh tế tăng trưởng ổn định, thu hút FDI đạt kỷ lục, xuất khẩu tăng trưởng mạnh. Vị thế quốc tế của Việt Nam được nâng cao, tham gia tích cực vào các thể chế đa phương. Hạn chế thể hiện ở năng lực cạnh tranh quốc tế còn thấp, hiệu quả sử dụng FDI hạn chế. Một số lĩnh vực hội nhập còn chậm, chưa tận dụng hết cơ hội từ các FTA. Việc bảo vệ lợi ích quốc gia trong các tranh chấp quốc tế còn chưa hiệu quả. Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức xã hội về hội nhập chưa đồng đều. Khả năng thích ứng với biến động quốc tế của Đảng và hệ thống chính trị còn hạn chế.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả lãnh đạo Đảng trong hội nhập quốc tế

Để nâng cao hiệu quả lãnh đạo, Đảng cần tăng cường năng lực lãnh đạo, nâng cao trình độ cán bộ đối ngoại. Đảng cần hoàn thiện cơ chế lãnh đạo hội nhập, tăng cường phối hợp giữa các cấp, ngành. Giải pháp quan trọng là nâng cao chất lượng dự báo chiến lược, dự báo tình hình quốc tế. Đảng cần chủ động tham gia xây dựng luật pháp quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia. Giải pháp tài chính là tăng cường nguồn lực đầu tư cho hội nhập, hỗ trợ doanh nghiệp. Đảng cần đẩy mạnh cải cách thể chế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Giải pháp quan trọng khác là nâng cao vai trò của khoa học-công nghệ trong hội nhập. Đảng cần tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo cán bộ, nâng cao trình độ ngoại ngữ. Giải pháp quan trọng là tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức toàn xã hội về hội nhập.

3.1. Nâng cao năng lực lãnh đạo và quản lý nhà nước

Đảng cần xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo có trình độ chuyên môn cao, năng lực ngoại ngữ tốt. Cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đối ngoại, cán bộ quản lý nhà nước. Đảng cần hoàn thiện cơ chế lãnh đạo hội nhập, tăng cường vai trò của các cấp ủy đảng. Cần xây dựng hệ thống thông tin, dự báo chiến lược về tình hình quốc tế. Đảng cần nâng cao năng lực quản trị nhà nước, cải thiện môi trường đầu tư. Giải pháp quan trọng là tăng cường vai trò giám sát, phản biện xã hội của Đảng. Đảng cần chủ động tham gia xây dựng luật pháp quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia. Cần tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo cán bộ, nâng cao trình độ quản lý.

3.2. Hoàn thiện cơ chế phối hợp và huy động nguồn lực

Đảng cần hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Đảng, Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Cần tăng cường vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể trong hội nhập. Đảng cần huy động nguồn lực tài chính, nhân lực cho hội nhập. Giải pháp quan trọng là nâng cao hiệu quả sử dụng FDI, thu hút đầu tư chất lượng cao. Đảng cần tăng cường hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ. Cần xây dựng cơ chế chia sẻ thông tin, kinh nghiệm hội nhập giữa các địa phương. Đảng cần tăng cường vai trò của khoa học-công nghệ trong hội nhập. Giải pháp quan trọng là nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực.

IV. Kết luận và khuyến nghị từ Đảng lãnh đạo hội nhập giai đoạn 2011 2020

Giai đoạn 2011-2020, Đảng lãnh đạo hội nhập quốc tế đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam. Quá trình này khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng. Những kinh nghiệm rút ra là tầm quan trọng của chiến lược hội nhập, sự chủ động, linh hoạt trong lãnh đạo. Đảng cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo, nâng cao năng lực cán bộ đối ngoại. Kết luận quan trọng là hội nhập phải gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động. Đảng cần chủ động thích ứng với biến động quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia. Khuyến nghị quan trọng là tăng cường đầu tư vào giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đảng cần đẩy mạnh cải cách thể chế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Những bài học kinh nghiệm từ giai đoạn 2011-2020 cần được kế thừa, phát huy trong giai đoạn tiếp theo.

4.1. Những bài học kinh nghiệm quan trọng

Bài học đầu tiên là tầm quan trọng của chiến lược hội nhập toàn diện, gắn với phát triển kinh tế-xã hội. Bài học thứ hai là sự chủ động, linh hoạt trong lãnh đạo, thích ứng với biến động quốc tế. Bài học thứ ba là vai trò quan trọng của cải cách thể chế, nâng cao năng lực cạnh tranh. Bài học thứ tư là tầm quan trọng của hợp tác quốc tế, thu hút nguồn lực bên ngoài. Bài học thứ năm là vai trò quan trọng của khoa học-công nghệ trong hội nhập. Bài học thứ sáu là tầm quan trọng của công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức toàn xã hội về hội nhập. Những bài học này cần được kế thừa, phát huy trong giai đoạn tiếp theo.

4.2. Định hướng hội nhập quốc tế giai đoạn 2021 2030

Đảng xác định hội nhập quốc tế giai đoạn 2021-2030 phải gắn với mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Định hướng là nâng cao chất lượng hội nhập, tận dụng tối đa cơ hội từ các FTA. Đảng chú trọng hội nhập sâu rộng vào kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Định hướng quan trọng là nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, cải thiện môi trường đầu tư. Đảng chú trọng hội nhập trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, khoa học-công nghệ. Định hướng là tăng cường vai trò của Việt Nam trong các thể chế đa phương. Đảng chú trọng bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trong hội nhập. Định hướng là nâng cao vị thế quốc tế, góp phần xây dựng cộng đồng ASEAN vững mạnh.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/06/2026
Đảng lãnh đạo quá trình hội nhập quốc tế của việt nam từ năm 2011 đến năm 2020

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO VIỆT NAM HỘI NHẬP QUỐC TẾ, GIAI ĐOẠN 2011 - 2015 1. Hoàn cảnh lịch sử 1. Xu thế hội nhập quốc tế trên thế giới 1. Một số xu hướng phát triển của thời đại Bước sang thế kỷ XXI, xu thế hội nhập quốc tế đã trở nên phổ biến trên toàn thế giới, trở thành xu hướng chung của nhân loại trong thời đại ngày nay.

Hội nhập quốc tế là kết quả tất yếu khách quan của quá trình toàn cầu hóa, do sự phát triển của lực lượng sản xuất mang tính xã hội hóa ngày càng cao. Hội nhập là sự tham gia có tính tự giác của chủ thể vào quá trình toàn cầu hóa để đạt được mục đích nhất định của mình theo những nội dung và cấp độ khác nhau. Có nhiều mức độ khác nhau của hội nhập quốc tế, mức thấp nhất là mở rộng hợp tác với các bên ngoài, tức là tham gia vào hệ thống quan hệ hệ quốc tế. Mức cao nhất là trở thành một thành viên có trách nhiệm, có vị trí và vai trò xứng đáng trong cộng đồng quốc tế.

Có thể nói, hội nhập quốc tế chính là giai đoạn phát triển cao hơn về chất so với việc phát triển các quan hệ hợp tác quốc tế. Thực chất, hội nhập quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh để thực hiện lợi ích của mỗi quốc gia, dân tộc. Quá trình hội nhập quốc tế được đặt trong các mối quan hệ nhiều mặt, từ quan hệ đa dạng, song phương, đa phương với các chủ thể khác nhau trong cộng đồng quốc tế. Trong giai đoạn hiện nay, hội nhập quốc tế luôn có một vai trò hết sức to lớn, quan trọng đối với mỗi quốc gia, dân tộc.

Sự thành công hay thất bại của nó đều có tác động, ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tới quá trình ổn định, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước của mỗi quốc gia. Việc hội nhập quốc tế có 11 chất lượng, hiệu quả sẽ giúp cho các quốc gia, dân tộc vừa có điều kiện để mở rộng quan hệ hợp tác làm ăn kinh tế với các nước, đồng thời lại vừa có điều kiện để giữ vững nền độc lập, tự chủ của quốc gia, dân tộc. Qua đó tạo tiền đề để thực hiện lợi ích quốc gia, xây dựng và phát triển đất nước. Ở Việt Nam, thuật ngữ hội nhập quốc tế được dùng khá phổ biến, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa hoàn chỉnh về khái niệm hội nhập quốc tế trong giới học thuật và giới thực hiện làm chính sách ở Việt Nam.

Bối cảnh thế giới trong những năm đầu thế kỷ XXI có những biến đổi to lớn và sâu sắc, điều này ảnh hưởng toàn diện và mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội của các quốc gia đặc biệt với các nước đang phát triển như Việt Nam. Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu trong năm 1991 đã làm cục diện thế giới và các quan hệ quốc tế thay đổi một cách cơ bản. Trật tự thế giới mới đã được thiết lập sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, do sự phát triển không đồng đều giữa các lực lượng, các chủ thể quốc tế cho nên vai trò và vị trí của mỗi quốc gia, mỗi chủ thể quốc tế đều được sắp xếp lại. Đặc biệt là cục diện kinh tế quốc tế đa trung tâm dần định hình rõ nét hơn.

Tương quan, tiềm lực sức mạnh của các quốc gia đang có những thay đổi điều này có thể sẽ ảnh hưởng đến cả những trung tâm kinh tế cũ và các nền kinh tế mới nổi. Ở một số nước Châu Âu trong đó có Đức đang ngày càng đẩy mạnh vào hội nhập quốc tế, liên minh, liên kết khu vực. Đức cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề trong nội khối. Theo “Bài thuyết trình của nhà đầu tư vào tháng 4 năm 2020” đăng trên tờ Cơ chế ổn định Châu Âu “Đức là quốc gia đóng góp nhiều nhất cho Quỹ Bình ổn Tài chính châu Âu (EFSF) và Cơ chế Bình ổn châu Âu (ESM) - các cơ chế được thành lập để cứu trợ các quốc gia chìm sâu trong khủng hoảng và đứng trước nguy cơ vỡ nợ.

Trong EFSF, Đức mở rộng khoản bảo lãnh của mình lên tới 211,045 tỷ euro, chiếm 29,13% trong tổng số khoản bảo lãnh 724,47 tỷ euro. Trong ESM, Đức đóng 12 góp 189,9 tỷ euro trong tổng số vốn huy động 704,79 tỷ euro, chiếm 26,94%”[47]. “Gần đây nhất, trong nỗ lực đối phó với đại dịch toàn cầu COVID-19, Đức đã tiếp nhận bệnh nhân từ Pháp và Italy để điều trị, nhằm giảm tải áp lực lên hệ thống y tế của các quốc gia này, góp phần kiềm chế sự lây lan của dịch bệnh, cũng như thể hiện tình đoàn kết giữa các nước thành viên EU”[47]. Qua những minh chứng này có thể thấy, Đức là một trong những quốc gia EU chủ chốt trong mối quan hệ giữa EU và các đối tác của khu vực nói riêng và trên thế giới nói chung.

Khi Mỹ vẫn là nền kinh tế lớn và là trung tâm Kinh tế - Tài chính lớn thì thế giới cũng nhắc nhiều đến sự trỗi dậy của Trung Quốc. Nước này đang được mệnh danh là “gã khổng lồ” kinh tế bởi tốc độ tăng trưởng nhanh chóng. Khi bắt đầu công cuộc cải cách mở cửa năm 1978 Trung Quốc đã đổi mới trong chính sách đối ngoại của mình. Những năm sau đó nước này tham gia tích cực vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, tận dụng tốt yếu tố thời cơ trong quan hệ quốc tế để thúc đẩy sự phát triển về kinh tế.

Đối với khu vực Đông Nam Á, nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Ðảng Nhân dân cách mạng Lào, công cuộc xây dựng và phát triển đất nước tại quốc gia này đã đạt được nhiều thành tựu to lớn đồng thời góp phần nâng cao vị thế của Lào trên trường quốc tế. Năm 1986, cùng với Việt Nam Đảng nhân dân cách mạng Lào đã thực hiện đường lối đổi mới đất nước. Từ khi tiến hành đổi mới đất nước, tình hình chính trị - xã hội đã dần đi vào ổn định, kinh tế tăng trưởng ở mức khá, địa vị quốc tế của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào không ngừng được nâng cao. Với việc thực hiện đường lối đối ngoại hòa bình, độc lập, hữu nghị, hợp tác và mở rộng quan hệ đối ngoại nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đã giữ vững độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia.

Đường lối đối ngoại của Lào trong tình hình mới là tiếp tục củng cố, tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác và phát triển mối quan hệ đoàn kết đặc biệt với Việt Nam, tiếp tục phát huy mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện và lâu dài 13 với Trung Quốc; củng cố quan hệ hợp tác với các nước láng giềng chung biên giới và tăng cường quan hệ với ASEAN; luôn coi trọng và tận dụng mối quan hệ với các nước lớn từ đó tranh thủ các nguồn viện trợ, đầu tư kết hợp với tích cực tham gia các tổ chức quốc tế. Nhờ tổ chức thành công nhiều hội nghị quốc tế lớn trong thời gian qua uy tín và vị thế của nước Lào ở khu vực và trên trường quốc tế đang ngày càng nâng cao. Theo quy định của Hiến pháp Campuchia, nước này thực hiện chính sách trung lập, không liên kết vĩnh viễn, không xâm lược hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Campuchia là thành viên thứ 10 của ASEAN (tháng 4/1999), thành viên chính thức thứ 148 của WTO (tháng 9/2003), gia nhập ASEM tại Hội nghị cấp cao ASEM 5 (tháng 10/2004) tại Hà Nội; và đang tích cực chuẩn bị tham gia APEC trong thời gian sớm nhất.

Campuchia cũng là thành viên tích cực trong hợp tác khu vực như: Uỷ hội Mê Công quốc tế (MRC); Tam giác phát triển Campuchia – Lào – Việt Nam (CLV); Hợp tác bốn nước Campuchia – Lào – Myanmar – Việt Nam (CLMV); Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng (GMS); Chiến lược hợp tác kinh tế ba dòng sông Ayeyawadi-Chao Praya-Mekong (ACMECS); Hành lang Đông Tây (WEC) [63]. Hiện nay, Campuchia có quan hệ thương mại với 150 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, chú trọng quan hệ với các nước lớn như Trung Quốc, Mỹ, Nhật, EU, các nước tài trợ, các nước láng giềng và đang đẩy mạnh hội nhập khu vực và quốc tế [63]. Qua một vài minh chứng trên có thể thấy các nước trên thế giới đều đã và đang đẩy mạnh xu thế hợp tác quốc tế về mọi mặt, mọi lĩnh vực. Hợp tác và hội nhập cũng sẽ là xu thế chủ đạo cơ bản trong các mối quan hệ quốc tế trong tương lai.

Hội nhập quốc tế chịu tác động sâu sắc từ cuộc cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ ba và đang trong quá trình chuyển mình mạnh mẽ sang giai đoạn đầu của cuộc cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đây được coi là xu 14 thế thế giới trong tương lai gần. Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt trên lĩnh vực công nghệ thông tin và công nghệ sinh học; khoa học công nghệ dần trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế, thay đổi cơ cấu kinh tế và tạo ra những biến đổi sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực. Hợp tác quốc tế trên lĩnh vực khoa học - công nghệ trở thành một yếu tố không thể thiếu trong xu thế toàn cầu. Có hai phương diện hợp tác về khoa học công nghệ đó là: hợp tác không mang tính thương mại mà chỉ trao đổi về kinh nghiệm, thông qua các chương trình liên kết khoa học; phương diện thứ hai là hợp tác trao đổi mang tính chất thương mại.

Hầu hết các quốc gia đều kết hợp hai phương diện này để tạo ra hiệu quả tốt nhất. Đối với xu thế hiện nay, tri thức và sở hữu trí tuệ có vai trò ngày càng quan trọng trong tất cả các lĩnh vực từ: kinh tế, văn hóa đến khoa học kĩ thuật. Yếu tố con người và kinh tế tri thức đang là một trong những nhân tố hàng đầu quyết định đến mức độ phát triển toàn diện của mỗi quốc gia. Điển hình điều này đã được người Nhật chú trọng phát triển từ ngay sau CTTG II và đạt được nhiều thành tựu.

Sau này, thế giới cũng dần nhận ra vai trò của tri thức trong sự phát triển của chính mỗi quốc gia.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ