Mở đầu, tổng quan vấn đề nghiên cứu, 3 chương (8 tiết), kết luận, danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. 11 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài 1. Các công trình nghiên cứu về văn minh, văn hóa, bản sắc văn hóa Văn hóa, bản sắc văn hóa được thể hiện một cách sinh động đời sống xã hội, đặc điểm tâm lý, giá trị truyền thống của mỗi dân tộc, có ý nghĩa quan trọng trong việc hoạch định sự phát triển của mỗi quốc gia.
Vì thế, vấn đề này luôn được tập trung nghiên cứu trên nhiều góc độ, phạm vi khác nhau. Tác giả Carmelle begin trong bài viết: “Bảo tồn các nền văn minh của Cananda và mối quan hệ của các nhà hoạt động văn hóa trong việc bảo tồn và phổ biến văn hóa” [27], đã khái quát quá trình hình thành chính sách “đa văn hóa” và công nhận những ảnh hưởng chính trị ngày càng tăng của các dân tộc thiểu số. Với chính sách về chủ nghĩa đa văn hóa, Bộ Di sản văn hóa Canada và Văn phòng chủ nghĩa “đa văn hóa” đã tổ chức nhiều hoạt động nghiên cứu về văn hóa truyền thống, đặc biệt là giải pháp bảo tồn nền văn hóa phi vật chất. Trong hệ thống các giải pháp, tác giả nhấn mạnh “cần đẩy mạnh nghiên cứu văn hóa truyền thống, chú trọng công tác đào tạo và sự hỗ trợ của các nhà khảo cổ học” là giải pháp quan trọng hàng đầu.
UNESCO, “Giá trị đặc trưng của di sản văn hóa nói chung và văn hóa phi vật chất nói riêng của các dân tộc thiểu số” [163], nhận định: Di sản văn hóa của các tộc người thiểu số ở Việt Nam được hình thành từ yếu tố địa lý, kinh tế, chính trị - xã hội, được người dân tiếp nhận từ tổ tiên, được hình thành trong lịch sử, được bồi đắp một cách liên tục, kế thừa, không đứt đoạn, lớp mới hòa vào lớp cũ, bổ sung, làm phong phú, chứ không có sự đối lập. Di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số bao gồm: Ngôn ngữ, nghề nghiệp, phương thức sản xuất, trang phục truyền thống… đang đối diện với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trước sự xâm nhập của văn hóa phương Tây. Để giữ gìn và phát huy các di sản văn hóa 12 của các dân tộc thiểu số cần phải có sự quan tâm của Đảng, Nhà nước với chính sách phù hợp, khoa học và đầu tư thích đáng, nhưng trước hết, công tác này phải do chính bản thân các dân tộc đó ý thức và thực hiện. Tác giả Scar salemink trong bài viết: “Sự bảo tồn văn hóa và biểu hiện văn hóa” [122], đã tập trung phân tích văn hóa truyền thống và văn hóa toàn cầu, khả năng bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa.
Dựa trên các công trình nghiên cứu của Eric Hobsbam và Terence Ranger (1983), sự “phát minh ra truyền thống” (invention oftradition), “tạo dựng nên truyền thống” (construction of tradition). Tác giả chỉ ra nguyên tắc, mối quan hệ giữa văn hoá và truyền thống. Vì thế, khi nghiên cứu xem xét, đánh giá nền văn hoá phải gắn với thời điểm lịch sử, cụ thể và điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, đồng thời cần đặc biệt quan tâm đến sự quá độ giữa các chính sách hiện tại và tương lai có thể ảnh hưởng đến sự phát triển văn hóa của các dân tộc thiểu số. Cuốn sách của Roland Breton, Geographie des civilisation.
Presses Universitaire de France. Paris 1987 [193], với cách tiếp cận theo chuỗi giá trị, thuộc tính của văn hóa, tác giả đã chỉ ra công năng, tác dụng của văn hóa đối với cuộc sống con người và quá trình tiến hóa của nhân loại, khẳng định bản sắc văn hóa là một thuộc tính cơ bản, một bộ phận quan trọng, cốt lõi của văn hóa, đi sâu phân tích luận giải sự giống và khác nhau giữa văn minh, văn hóa, bản sắc văn hóa, đồng thời phê phán những quan điểm, quan niệm đồng nhất giữa các phạm trù trên. Tiếp cận dưới góc độ giá trị về văn hóa, bản sắc văn hóa, các tác giả: Echác Dôn, Giá trị cuộc sống và giá trị văn hóa [64]; V.Khajus Uolter, “Tự do - thị trường tự do về giá trị con người” [181]; Martin Wolf, Châu Á trong cơn lốc toàn cầu hóa: Vì một sự điều tiết ở cấp toàn cầu [101]; Samuen Hungtinhtơn, Sự va chạm của các nền văn minh [123]; Bjaznova, Toàn cầu hóa các giá trị dân tộc [26]. Điều đáng chú ý ở đây, các tác giả đã phân tích quá trình phát triển của xã hội phương Tây hiện đại dưới góc độ văn hoá, 13 bản sắc văn hoá, chỉ ra thực trạng chênh lệch quá xa không chỉ ở các nước nghèo, chậm và đang phát triển mà còn diễn ra ở các nước phát triển.
Đó là tình trạng áp bức bóc lột, bất công, phân hóa giàu nghèo, tàn phá và hủy hoại môi trường. và nhận định: “Cần tiến hành cuộc cách mạng tinh thần” trong quá trình toàn cầu hóa và “Sự va chạm của các nền văn minh” là tất yếu. Trên cơ sở đó, các học giả đề xuất một số giải pháp, trong đó nhấn mạnh: Cần xây dựng xã hội hài hòa hơn, rời khỏi “xã hội tiêu dùng” để chuyển sang “xã hội có ý nghĩa hơn”, nhưng vẫn giữ được cốt cách, bản sắc của dân tộc mình. Đó là nhu cầu văn hóa tinh thần sâu sắc, đích thực đang nảy sinh trong tâm lý xã hội của các nước phương Tây.
Các công trình nghiên cứu văn hóa truyền thống, đời sống văn hóa, văn hóa tín ngưỡng Tác giả Lesopold cadiere, Về văn hóa và tín ngưỡng truyền thống người Việt [91], đã dày công nghiên cứu nguồn gốc, tín ngưỡng của người Việt (tín ngưỡng tôn giáo, tín ngưỡng dân gian, phong tục tập quán của người Việt), khẳng định: Một dân tộc đã biết tiếp nhận vô vàn yếu tố Trung Hoa, bị áp đặt hoặc thu nạp một cách tự nguyện, để dựng lên một thế giới của riêng mình, và giữ gìn bản sắc độc đáo của mình. Theo tác giả, người Việt rất thông minh, đức hạnh, kiên trì, kiên nhẫn vượt qua những khó khăn, nhọc nhằn nhưng rất lạc quan. Những phẩm chất đó góp phần tạo nên những giá trị, bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Tác giả Chong Sun - mok, “The Image of Man in the Korean Tra ditional Culture” viết: “Trong tư duy truyền thống Hàn Quốc sự căng thẳng hoặc sự xung đột lợi ích được tạo ra bởi sự băng hoại của các quan hệ nhân văn” [187, tr.
Quan niệm này đã dẫn đến khuynh hướng không phân biệt được “cái tôi” với những người khác, giá trị văn hóa truyền thống với giá trị xã hội nhân văn. Nghiên cứu sự ảnh hưởng của xã hội công nghiệp đối với văn hóa, tác giả Kin Kyong - dong, “The Social Impack of undus - trializafion and the 14 Task for the Future, Seoul 1979 và “Souack change and Societal Develop mennt in Korea since 1945” Seoul 1985 [189]. Dịch là “Ảnh hưởng xã hội của công nghiệp hóa và nhiệm vụ cho tương lai” và “Sự thay đổi xã hội và sự phát triển xã hội Hàn Quốc từ năm 1945”, trình bày quan điểm và những nguyên tắc quan trọng nhất của tổ chức xã hội văn hóa truyền thống Hàn Quốc. Với 7 nguyên tắc: Chủ nghĩa độc đoán cấp bậc; Chủ nghĩa tập thể; Chủ nghĩa cha truyền con nối; Chủ nghĩa nhân cách; Chủ nghĩa nghi thức đạo đức; Khung lưỡng phân của tư duy; Sự không tương xứng của lý tưởng hiện thực.
Trong đó, tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến lý tưởng đạo đức - nền tảng của sự phát triển văn hóa con người, gia đình và xã hội, yếu tố góp phần tạo dựng nên bản sắc văn hóa dân tộc. Tác giả Suriya ratanakul trong bài viết: “Các dân tộc thiểu số, giáo dục và bản sắc văn hóa” [126], đã khái quát sự hình thành văn hóa gia đình truyền thống ở Thái Lan. Là quốc gia - Bán đảo vàng (Golden Peninsula), nằm trong vùng Đông Nam Á, là láng giềng của Campuchia, Lào và Malaysia, với 58 triệu người nói tiếng Thái và khoảng 600.000 người thuộc các dân tộc thiểu số. Quá trình hội nhập, văn hóa truyền thống, sinh hoạt cộng đồng lâu đời, phong tục tập quán, tinh thần đoàn kết và lối sống tập thể không còn gắn chặt với những quy tắc xã hội.
Văn hoá của các dân tộc miền núi cũng bị tác động bởi những giá trị phát sinh từ các cơ cấu kinh tế mới do các chương trình phát triển tạo ra, sự giao lưu tiếp biến cũng làm mất dần đi những giá trị văn hoá cộng đồng, phá vỡ những giá trị truyền thống gia đình. Vì thế, tác giả đưa ra những giải pháp, trong đó: Cần đẩy mạnh giáo dục truyền thống, giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa, bản sắc văn hóa, nhất là văn hóa dân tộc thiểu số, đồng thời mở rộng giao lưu, tiếp biến có chọn lọc những tinh hóa văn hóa thế giới. Bàn về giá trị văn hóa truyền thống, tác giả Estebant Tagannon trong bài viết: “Các cộng đồng văn hóa bản địa ở Philippin: Một cái nhìn lịch sử 15 về việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của các cộng đồng người này” [65], phân tích sự cần thiết phải giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống, nhất là giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số và di sản văn hóa tại nước Cộng hòa Philippin. Là một quốc gia đa dân tộc, trong đó dân tộc thiểu số chiếm khoảng 2,5 triệu người theo đạo Hồi, chủ yếu cư trú ở những đảo: Mindanao, Jolo, Sulu, Palawan và khoảng 5 triệu người không theo đạo Hồi, phân bố khắp các nơi, đông nhất là người Igorot ở miền Bắc Luzon.
Để bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, các di sản văn hóa thì chính sách và luật pháp có vai trò quyết định. Vì thế, cần đặt dưới sự bảo hộ của Nhà nước, tăng cường giáo dục khoa học kỹ thuật, văn hoá nghệ thuật, là giải pháp quan trọng hàng đầu mà tác giả đề xuất. Luận bàn về giải pháp bảo tồn giá trị văn hóa phi vật thể, tác giả Jing Fang Shen trong bài viết: “Những bảo đảm về phương diện pháp lý và tổ chức đối với việc bảo tồn các nền văn hóa dân tộc thiểu số ở Trung Quốc” [83], khái quát những định chế tự trị được quy định trong luật pháp, bảo đảm cho sự bình đẳng của các dân tộc là vấn đề có tính nguyên tắc. Theo tác giả, những định chế đó có thể tạo ra một bối cảnh xã hội cần thiết để thể hiện những nền văn hoá khác nhau.