phần mở đầu của Luật sửa đổi bổ sung do Quốc hội ban hành ngày 23 tháng 07 năm 2013 đã nêu rõ: Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của đất nước, của dân tộc, là chất liệu gắn kết cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là cơ sở để sáng tạo những giá trị tinh thần mới và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta [60, tr. Như vậy chúng ta có thể thấy rõ DSVH Việt Nam là tài sản quý giá của các dân tộc sống trong nước Việt Nam được đúc kết từ hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, là cầu nối giữa 54 dân tộc anh em, giữa quá khứ và hiện tại với tương lai. Đồng thời góp phần trong việc giáo dục thế hệ trẻ. DSVH Việt Nam không những là một kho tàng khổng lồ của người dân với sự phong phú và đa dạng, mà còn góp phần to lớn trong việc phát triển kinh tế-xã hội.
Luật DSVH ban hành năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DSVH năm 2009, 2013 đã nêu rõ DSVH bao gồm DSVH vật thể và DSVH phi vật thể. Tại Điều 1 của Luật DSVH quy định: Di sản văn hóa quy định tại luật này bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam [60, tr. Bảo tồn Hiện nay, thuật ngữ bảo tồn và phát huy rất được quan tâm, trong công trình Di sản văn hóa Việt Nam-bản sắc và những vấn đề về quản lý và Luận văn thạc sỹ Quản lý văn hóa 14 bảo tồn, tác giả Nguyễn Thịnh cho rằng: “Bảo tồn là những nỗ lực nhằm tìm hiểu và nhận rõ được giá trị và ý nghĩa của di sản, đảm bảo gìn giữ các vật liệu gốc, có thể cải tạo và nâng cấp cần thiết” [51, tr. Tác giả Nguyễn Như Ý trong cuốn Ðại từ điển Tiếng Việt cũng cho rằng: Bảo tồn là “Giữ nguyên hiện trạng, không để mất đi: Bảo tồn di tích lịch sử; bảo tồn nền văn hóa các dân tộc” [66, tr.
Hay nói một cách ngắn gọn như tác giả Ðào Duy Anh trong quyển Từ điển Hán Việt thì bảo tồn là “giữ gìn lại” [1, tr. Nói về vấn đề này tác giả Tô Vũ đã nêu quan điểm của mình trong cuốn Âm nhạc Việt Nam truyền thống và hiện đại, do Viện Âm nhạc Hà Nội xuất bản năm 2002: Đối tượng bảo tồn cần thỏa mãn hai điều kiện tiên quyết: Một là nó phải được nhìn là tinh hoa, là một giá trị đích thực không có gì phải hồ nghi hay bàn cãi. Hai là, nó phải hàm chứa khả năng, chí ít là tiềm năng, đứng vững lâu dài trước những biến đổi tất yếu về đời sống vật chất và tinh thần của con người, nhất là trong giai đoạn đổi mới hiện nay với chính sách mở cửa và cơ chế thị trường [64, tr. Như vậy, bảo tồn chính là việc làm nhằm gìn giữ các DSVH truyền thống bằng nhiều biện pháp khác nhau, không để bị thay đổi hoặc mất đi bởi mỗi DSVH đều chứa đựng những giá trị riêng.
Bảo tồn di sản văn hóa Bảo tồn DSVH được hiểu một cách đơn giản chính là giữ gìn lại những DSVH của dân tộc và hiện nay công tác này đang được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, tùy thuộc vào mỗi loại hình DSVH cụ thể mà Nhà nước ta có những chính sách bảo tồn khác nhau như: Bảo tồn nguyên trạng, bảo tồn trên cơ sở kế thừa, bảo tồn phát triển. Đây là một công việc Luận văn thạc sỹ Quản lý văn hóa 15 khó đòi hỏi sự đầu tư nghiên cứu để đưa ra chiến lược đúng với từng DSVH cụ thể. Phát huy Theo các tác giả của cuốn Từ điển tiếng Việt: “Phát huy là làm cho cái hay, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm” [38, tr. Theo góc nghiên cứu của tác giả Nguyễn Như Ý trong cuốn Đại từ điển Tiếng Việt, xuất bản năm 2013 thì “Phát huy là làm cho cái hay, cái tốt nhân thêm tác dụng, thúc đẩy tiếp tục nảy nở nhiều hơn: Phát huy sức mạnh tập thể” [66, tr.
Như vậy phát huy chính là tìm cách giúp cho cộng đồng hiểu về giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng mình, để họ thấy tự hào về văn hóa truyền thống của mình và từ đó họ sẽ đưa nó lên cao hơn trong cuộc sống xã hội, nhất là đối với thế hệ trẻ ngày nay. Phát huy là làm cho những cái tốt đẹp được nâng lên và tác động tốt đối với cuộc sống của con người, từ đó tiếp tục nhân lên những giá trị hay trong xã hội. Như vậy, phát huy là làm cho các giá trị văn hóa của con người được nhiều người biết đến; sống được trong lòng xã hội của con người, được con người giữ gìn, bảo vệ. Phát huy giá trị di sản văn hóa Đối với DSVH, phát huy chính là thực hiện các biện pháp phù hợp để nâng cao những giá trị của di sản mang lại những lợi ích thiết thực cho con người và xã hội.
Trong tập bài giảng Quản lý DSVH của PGS.TS Nguyễn Hữu Thức và ThS. Vũ Công Hội có nói về quan điểm phát huy như sau: “Đối với di sản văn hóa, phát huy nghĩa là tiến hành các biện pháp, cách thức thích hợp để làm tỏa sáng tối ưu những giá trị hàm chứa trong di sản đem lại những lợi ích thiết thực cho từng đối tượng cụ thể” [48, tr. Luận văn thạc sỹ Quản lý văn hóa 16 Phát huy giá trị di sản văn hóa có thể được hiểu là dựa trên nền tảng giá trị của di sản để làm cho di sản văn hóa đó được cộng đồng biết đến, chấp nhận và lưu giữ. Đối với dân ca Ba-na ở huyện Kbang nói riêng, ở tỉnh Gia Lai nói chung, việc phát huy giá trị là cần thiết, nhưng phải phù hợp với những đặc thù của âm nhạc dân gian tây nguyên, phải chú ý đến những khả năng biến đổi, biến mất của các giá trị này và giá trị đó chính là yếu tố giúp cho dân ca Ba-na không bị lu mờ, thờ ơ.
Ban hành văn bản liên quan đến bảo tồn, phát huy dân ca Ba-na Là một quốc gia đa dân tộc, có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống đã tạo cho Việt Nam một nền văn hóa đa dạng, đa sắc thái văn hóa tộc người với những phong tục tập quán, lễ hội, tín ngưỡng rất phong phú. Chính vì vậy, đòi hỏi Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương của tỉnh Gia Lai phải có những chính sách phù hợp đối với văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số.1 Đảng và Nhà nước Năm 1951, tại buổi triển lãm Hội họa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em nghệ sĩ cũng là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Từ câu nói trên chúng ta có thể thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao và coi trọng nền văn hóa, đặc biệt là những người hoạt động về văn hóa, xác định văn hóa chính là một bộ phận của cách mạng Việt Nam. Từ khi thành lập đến nay, Đảng và nhà nước ta luôn xem vấn đề dân tộc, công tác dân tộc, đoàn kết các dân tộc là một nhiệm vụ quan trọng của cách mạng nước ta, đồng thời rất coi trọng công tác văn hóa.
Từ đó đề ra các chủ trương, chính sách văn hóa với nội dung khác nhau. Luận văn thạc sỹ Quản lý văn hóa 17 Tại Chỉ thị số: 39/1998/CT-TTg, ngày 3/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ Về việc đẩy mạnh công tác văn hóa-thông tin ở miền núi và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số đã nhận định rõ những khó khăn, hạn chế của công tác văn hóa-thông tin ở miền núi và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, đặc biệt là vùng cao, biên giới, vùng sâu. Đời sống văn hóa ở miền núi và vùng các dân tộc thiểu số có điều kiện mới để phát triển, nhưng vẫn tồn tại nguy cơ tụt hậu và mất dần bản sắc VHDT ở một số dân tộc. Từ đó, Chỉ thị đã nêu ra 8 mục tiêu và giải pháp nhằm khai thác tiềm năng, phát triển kinh tế-xã hội, giảm dần sự chênh lệch về mức sống và hưởng thụ văn hóa giữa các vùng.
Với những mục tiêu và giải pháp được đưa ra tại Chỉ thị, việc quan tâm đến đời sống của đồng bào DTTS, trong đó có đồng bào Ba-na là rất quan trọng, bởi chính điều này sẽ giúp cho việc vận động bà con nhân dân sẽ dễ dàng hơn trong việc bảo tồn dân ca. Quyết định số: 124/2003/QĐ-TTg, ngày 17/6/2003, của Thủ tướng Chính phủ Về việc phê duyệt đề án bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam. Trong Đề án đã nêu rõ thời gian thực hiện Đề án từ năm 2003 đến năm 2010 và địa bàn thực hiện đó là những vùng đồng bào dân tộc có dân trí thấp, có nguy cơ thất thoát các sản phẩm VHTT, có những điều kiện khó khăn, ít người… Như vậy việc dân trí thấp cũng là mối lo ngại của các cấp chính quyền trong việc tuyên truyền vận động nhân dân hiểu rõ được việc phải bảo tồn các giá trị VHTT dân tộc trong cộng đồng, muốn bà con người Ba-na bảo tồn và phát huy dân ca Ba-na thì trước tiên đòi hỏi chúng ta phải giải quyết vấn đề về dân trí, về nhận thức của họ. Ngày 27/7/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số: 1270/QĐ-TTg về việc phê duyệt đề án Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020.
Đối tượng của đề án muốn hướng tới chính là các dân tộc thiểu số. Đặc biệt là các dân tộc ít người, vùng sâu, Luận văn thạc sỹ Quản lý văn hóa 18 vùng xa. Mục tiêu của đề án là muốn phát triển văn hóa các dân tộc. Như vậy, muốn phát triển văn hóa dân tộc, đòi hỏi phải bảo tồn và phát huy VHTT của đồng bào các DTTS, trong đó có đồng bào Ba-na ở huyện Kbang-tỉnh Gia Lai, đây là một Quyết định rất quan trọng để các ban ngành liên quan đưa ra các biện pháp cho việc bảo tồn và phát huy dân ca Ba-na ở huyện Kbang.