Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Lễ hội truyền thống là hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian phản chiếu đời sống tinh thần, phong tục tập quán và sự liên kết cộng đồng làng xã của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ. Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đặt ra nhiều thách thức, đặc biệt là nguy cơ mai một các giá trị cổ truyền hoặc sự xâm nhập của các hiện tượng tiêu cực, thương mại hóa trong hoạt động lễ hội. Tại tỉnh Thái Bình, lễ hội chùa Keo (xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư) tổ chức vào dịp rằm tháng 9 âm lịch hàng năm là một sinh hoạt văn hóa tâm linh có quy mô lớn, gắn liền với di tích kiến trúc nghệ thuật thời Lê. Việc nhận diện đúng đắn các giá trị đặc trưng và đánh giá khách quan thực trạng quản lý lễ hội tại địa phương là cơ sở thực tiễn để đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản bền vững.
Mục đích nghiên cứu:
Khóa luận tập trung tìm hiểu, hệ thống hóa cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của lễ hội chùa Keo tại xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa lễ hội truyền thống.
- Nhận diện các giá trị văn hóa đặc trưng của lễ hội chùa Keo, xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa lễ hội chùa Keo do chính quyền địa phương và cộng đồng thực hiện.
- Đề xuất các định hướng và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội chùa Keo trong giai đoạn tiếp theo.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Lễ hội chùa Keo tại xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, trọng tâm là các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa.
- Phạm vi không gian: Không gian di tích và khu vực tổ chức lễ hội tại xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
- Phạm vi thời gian: Tập trung khảo sát, thu thập dữ liệu và đánh giá thực trạng trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng:
- Giá trị và giá trị văn hóa: Dựa trên quan điểm của Trần Ngọc Thêm, phân tích khái niệm giá trị (từ gốc Latinh valere) và xác định giá trị văn hóa là yếu tố cốt lõi kết tinh trong quá trình lịch sử, hướng tới các chuẩn mực chân - thiện - mỹ nhằm điều tiết sự phát triển xã hội.
- Lễ hội và lễ hội truyền thống: Tiếp cận khái niệm lễ hội theo Từ điển bách khoa Việt Nam (sự kết hợp giữa hành vi tôn kính thần linh của phần "Lễ" và sinh hoạt cộng đồng của phần "Hội") và giáo trình Quản lý lễ hội và sự kiện. Tiếp cận khái niệm lễ hội truyền thống từ định nghĩa của UNESCO và công trình của GS. Trần Quốc Vượng về bản chất nông nghiệp, tín ngưỡng phồn thực lúa nước của lễ hội cổ truyền.
- Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa: Sử dụng định nghĩa của Liên minh Quốc tế bảo tồn thiên nhiên (IUCN), định nghĩa di sản phi vật thể của UNESCO và Từ điển tiếng Việt. Phân tích 3 quan điểm bảo tồn: bảo tồn nguyên trạng, bảo tồn trên cơ sở kế thừa, bảo tồn phát triển; kết hợp 3 nguyên tắc bảo tồn di sản của Đặng Văn Bài (2007).
- Hệ thống văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước: Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998), Chỉ thị số 45-CT/TW (2010), Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI (2014), Nghị quyết số 08-NQ/TW (2017) của Bộ Chính trị; Quyết định 39/2001/QĐ-BVHTT, Quyết định 308/2005/QĐ-TTg, Nghị định 103/2009/NĐ-CP, Nghị định 98/2010/NĐ-CP, Nghị định 92/2012/NĐ-CP, Thông tư 04/2011/TT-BVHTTDL và Quyết định 4162/QĐ-BVHTTDL.
- Văn bản quản lý của địa phương: Quyết định 143/QĐ-UBND (2012), Kế hoạch 31/KH-SVHTTDL (2012), Văn bản 125/SVHTTDL-TTr (2015), Văn bản 587/UBND-VX1 (2015), Văn bản 298/SVHTTDL-DSVH (2015) của UBND tỉnh và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình.
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp điền dã khảo sát thực tế: Thu thập tư liệu trực tiếp tại thực địa xã Duy Nhất trong các mùa lễ hội chùa Keo, quan sát các nghi lễ, trò diễn dân gian và hoạt động quản lý.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tập hợp các công trình nghiên cứu đi trước (Viện Văn hóa Dân gian, Phan Hữu Dật, Hà Tiến Hùng, Hồ Hoàng Hoa, Nguyễn Quang Lê, Dương Văn Sáu...), văn bản pháp quy, kỷ yếu hội thảo khoa học năm 2008 của UBND huyện Vũ Thư; tiến hành phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và so sánh, đối chiếu với số liệu điền dã.
Nguồn dữ liệu:
Dữ liệu thành văn từ các công trình khoa học, báo cáo quản lý văn hóa của UBND huyện Vũ Thư, UBND xã Duy Nhất và dữ liệu thực chứng thu thập qua quá trình quan sát, khảo sát thực tế tại địa phương.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội chùa Keo tại xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý thuyết, làm rõ các giá trị văn hóa đặc trưng cùng lịch sử hình thành di tích và tiến trình thực hành lễ hội chùa Keo.
1. Nhận diện các giá trị văn hóa tiêu biểu của lễ hội:
- Giá trị giáo dục truyền thống: Giáo dục tinh thần lao động, truyền thống chống ngoại xâm, lòng tự hào dân tộc và đạo lý "uống nước nhớ nguồn".
- Giá trị cố kết cộng đồng: Tăng cường sự gắn bó giữa các dòng họ, xóm làng qua việc chuẩn bị rước kiệu, tập luyện tế lễ và tham gia hội thi.
- Giá trị tâm linh: Thờ phụng Đức Thánh Tổ Không Lộ (sinh năm 1016, mất năm 1094, vị Quốc sư thời Lý có công chữa bệnh cho vua Lý Nhân Tông và đúc "Thiên nam tứ khí", được tôn xưng là ông tổ nghề đúc đồng và nghề chài lưới).
- Giá trị bảo tồn và trao truyền văn hóa: Lưu giữ nghệ thuật diễn xướng dân gian, các trò chơi dân gian và phong tục tập quán vùng châu thổ sông Hồng.
- Giá trị kinh tế du lịch: Tạo nguồn thu cho ngành du lịch địa phương, phát triển các dịch vụ lưu trú, ăn uống, trông giữ xe và đồ lưu niệm cho người dân.
2. Đặc điểm kiến trúc di tích chùa Keo:
Chùa Keo Thái Bình (Keo Trên) được xây dựng từ năm 1630 thời Lê, được công nhận di tích từ năm 1957. Theo văn bia, toàn bộ khuôn viên rộng 28 mẫu (bề ngang gần 500m, chiều sâu hơn 200m). Hiện di tích còn 17 công trình với 128 gian theo kết cấu "nội công ngoại quốc". Điểm nổi bật là công trình Gác chuông 3 tầng bằng gỗ cao 11,04m dựng trên 4 cột gỗ lớn (đường kính chân cột 0,55m, chiều cao cột 5m) với kết cấu chồng diêm và dàn mộng tinh xảo.
3. Tiến trình diễn ra lễ hội chùa Keo (từ ngày 13 đến 15 tháng 9 âm lịch):
- Phần Lễ:
- Ngày 13: Lễ mở cửa chùa nhập tịch; Lễ rước nước giữa dòng sông Hồng về tắm tượng; Lễ mộc dục (người thực hiện phải trai giới và bịt khăn điều); Lễ Phục miều y (dựng cột phướn có hình quạ đen ngậm lụa hồng đào).
- Đêm 13 rạng sáng 14 (giờ Tý): Lễ Thánh đản tại toà Thiêu Hương và Giá Roi, dâng bánh dầy, trâu bạc và tụng kinh Thánh ca diễn Nôm.
- Sáng 14: Lễ rước phụng nghinh quy mô lớn với kiệu rước Thánh, kiệu thuyền rồng, đoàn 8 mục đồng (12-14 tuổi) và màn biểu diễn 7 tượng gỗ múa rối Bà Chàng (bà Cả Rồi).
- Chiều 14: Điệu múa cổ "ếch vồ" tại toà Giá Roi do 12 người chân kiệu thực hiện; nghi thức "bơi trải cạn" do 12 người mỗi giáp thực hiện (gồm 1 "cái hò" đội mũ tì lư và 11 "nhà khăn" vác chèo).
- Phần Hội:
- Hội thi nấu cơm: 8 chàng trai đại diện 8 giáp lấy nước ao chùa, cọ cật tre già lấy lửa; giải nhất 100 quan tiền, giải nhì 3 quan tiền.
- Hội bơi trải: Tổ chức vào ngày 15 trên sông với đường bơi khoảng 30km, người tham gia cướp lá cây nêu đích lấy may.
- Các hoạt động khác: Múa rối cạn (tích diễn cô tiên và 6 đầu rối gỗ), thi giã bánh dầy (mỗi xóm làm 30 tấm bánh, mỗi tấm nặng 1,6kg), đêm thơ hội làng (thi đọc thơ Nôm trào phúng theo chủ đề hương, đăng, hoa, trà, quả, thực).
Chương 2: Thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội chùa Keo xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình
Chương 2 khảo sát toàn diện cơ cấu quản lý, việc triển khai các mặt công tác thực tế và đánh giá những mặt tích cực cũng như tồn tại trong giai đoạn 2010 - 2018.
1. Cơ cấu chủ thể quản lý:
- Chủ thể quản lý nhà nước: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình, UBND huyện Vũ Thư và UBND xã Duy Nhất. Ban Tổ chức lễ hội cấp huyện/xã phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng tiểu ban (an ninh, hậu cần, y tế, vệ sinh môi trường với 3 nhân sự chuyên trách thu gom rác).
- Chủ thể quản lý cộng đồng: Người dân xã Duy Nhất trực tiếp tham gia vào các ban khánh tiết, đội rước, đội tế, bảo đảm việc thực hành nghi lễ theo lề lối truyền thống.
2. Các kết quả đạt được trong công tác quản lý:
- Công tác chỉ đạo và ban hành văn bản: Triển khai nghiêm túc các quy định về nếp sống văn minh; thực hiện Quyết định 143/QĐ-UBND, Kế hoạch 31/KH-SVHTTDL và Văn bản 298/SVHTTDL-DSVH của tỉnh.
- Nghiên cứu khoa học và tư liệu hóa: Tổ chức hội thảo khoa học năm 2008 nhằm phục dựng lễ hội; tiếp tục tổ chức các hội thảo chuyên đề vào tháng 6/2011, tháng 2/2015 và tháng 7/2016 về bảo tồn di sản trên địa bàn huyện Vũ Thư.
- Tuyên truyền và giáo dục di sản: Tuyên truyền qua hệ thống loa truyền thanh; Phòng Giáo dục - Đào tạo huyện phối hợp đưa nội dung lễ hội chùa Keo vào chương trình ngoại khóa tại trường tiểu học và trường trung học trên địa bàn.
- Xã hội hóa và huy động nguồn lực: Kinh phí tổ chức do nhân dân đóng góp và quản lý; vận động tài trợ từ các doanh nghiệp trên địa bàn (như Công ty Xây dựng An Trường Hải, Công ty TNHH Tân Huyền Phát, Công ty TNHH Thiết kế và Xây lắp BP) với mức tài trợ đạt khoảng 2 - 3 tỷ đồng/năm cho việc bảo tồn di tích.
- Thanh tra và kiểm tra: Tổ chức kiểm tra liên ngành đột xuất. Năm 2017, đoàn thanh tra phát hiện và xử lý 8 vụ vi phạm hành chính trong kinh doanh dịch vụ lễ hội với mức phạt từ 500.000 đồng trở lên. Tình trạng ăn xin, trộm cắp và chen lấn trong hội thi nấu cơm cơ bản được kiểm soát.
| Lĩnh vực đánh giá |
Kết quả đạt được |
Tồn tại, hạn chế ghi nhận |
| Hệ thống văn bản |
Ban hành đầy đủ kế hoạch, quy chế tổ chức theo phân cấp |
Một số văn bản hướng dẫn còn trùng lặp, chồng chéo |
| Đội ngũ cán bộ |
Phân công nhiệm vụ rõ ràng theo từng tiểu ban chuyên trách |
Cán bộ văn hóa xã còn mỏng, trình độ chuyên môn chưa đồng đều |
| Xã hội hóa & Tài chính |
Thu hút 2 - 3 tỷ đồng/năm tài trợ; huy động tốt nguồn lực dân cư |
Công tác công khai tài chính sau lễ hội chưa được thực hiện triệt để |
| Trật tự & Vệ sinh |
Xóa bỏ nạn ăn xin; xử phạt 8 vụ vi phạm kinh doanh (2017) |
Còn hiện tượng bói bài, đổi tiền lẻ, vứt bao hương, rác thải |
| Cơ sở vật chất |
Đáp ứng cơ bản không gian nghi lễ trong khuôn viên di tích |
Chưa có quy hoạch tổng thể; khu vực dịch vụ bán hàng còn tự phát |
3. Những hạn chế, bất cập trong thực tiễn:
- Đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa cấp cơ sở còn thiếu và hạn chế về năng lực tổ chức không gian lễ hội khoa học.
- Hệ thống văn bản pháp quy từ các cấp còn hiện tượng chồng chéo, gây khó khăn cho việc áp dụng chế tài.
- Hiện tượng mê tín dị đoan (bói bài, bói tay sau hành lang), đổi tiền lẻ, bán hương bừa bãi tại bát nhang công đồng và tình trạng kinh doanh thực phẩm không rõ nguồn gốc (xúc xích, kẹo kéo) chưa được xử lý dứt điểm.
- Cơ sở vật chất phục vụ dịch vụ phát triển tự phát, diện tích sân bãi tổ chức trò chơi hạn hẹp, thiếu quy hoạch tổng thể không gian tương xứng với tầm vóc di tích quốc gia.
Chương 3: Định hướng và giải pháp bảo tồn phát huy giá trị văn hóa lễ hội chùa Keo xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình
Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, chương 3 đề xuất 5 nhóm giải pháp trọng tâm:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giá trị lễ hội: Đa dạng hóa hình thức truyền thông (phát thanh, truyền hình, xuất bản ấn phẩm chất lượng cao thay thế các đĩa VCD kém hiệu quả); tăng cường giáo dục di sản trong học đường nhằm nâng cao ý thức của thế hệ trẻ và du khách.
- Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý quản lý: Rà soát, chuẩn hóa các quy định của địa phương, loại bỏ các nội dung chồng chéo; ban hành quy chế phối hợp rõ ràng giữa các phòng, ban ngành cấp huyện và chính quyền xã Duy Nhất.
- Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước: Đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ văn hóa cơ sở; tăng cường thanh tra, kiểm tra liên ngành trước, trong và sau lễ hội; kiên quyết xử lý các hành vi mê tín dị đoan, đổi tiền lẻ và vi phạm an toàn thực phẩm.
- Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng: Đảm bảo quyền tự chủ của nhân dân trong việc thực hành và trao truyền các nghi lễ, trò diễn cổ truyền; thực hiện cơ chế công khai, minh bạch các khoản thu - chi từ nguồn công đức và tài trợ xã hội hóa.
- Gắn kết tổ chức lễ hội với phát triển du lịch và bảo vệ môi trường: Lập quy hoạch tổng thể không gian lễ hội; bố trí khu vực dịch vụ, bãi đỗ xe và khu ẩm thực tách biệt khỏi khu vực bảo vệ di tích; tăng cường thu gom rác thải và giữ gìn cảnh quan sinh thái tâm linh.
Kết quả và đóng góp của khóa luận
Kết quả nghiên cứu chính:
- Khóa luận đã hệ thống hóa đầy đủ lịch sử hình thành di tích chùa Keo (xây dựng năm 1630, diện tích theo văn bia 28 mẫu với 17 công trình còn lại) và nhân vật phụng thờ Thiền sư Không Lộ (1016 - 1094).
- Phục dựng chi tiết tiến trình nghi lễ độc bản của chùa Keo Thái Bình: Lễ Phục miều y, múa ếch vồ, bơi trải cạn, thi lấy lửa nấu cơm bằng cật tre già (8 giáp) và nghệ thuật múa rối cạn Bà Chàng.
- Đưa ra bức tranh thực tế về công tác quản lý lễ hội tại huyện Vũ Thư giai đoạn 2010 - 2018 với các số liệu cụ thể: nguồn vốn xã hội hóa bảo tồn di tích đạt 2 - 3 tỷ đồng/năm từ các doanh nghiệp (An Trường Hải, Tân Huyền Phát, BP...); xử lý 8 vụ vi phạm thương mại trong mùa lễ hội năm 2017.
Đóng góp của tác giả:
- Khóa luận làm sáng tỏ các giá trị văn hóa đặc thù của lễ hội chùa Keo dưới góc độ chuyên ngành Quản lý văn hóa.
- Đề xuất hệ thống giải pháp mang tính ứng dụng thực tiễn cao, hỗ trợ chính quyền xã Duy Nhất và Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Vũ Thư hoàn thiện phương thức quản lý, kết hợp giữa quản lý nhà nước và phát huy quyền tự quản cộng đồng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nguồn tư liệu xuất bản chính thức về lễ hội chùa Keo còn hạn chế (chủ yếu dựa trên kỷ yếu hội thảo năm 2008 của UBND huyện Vũ Thư); phạm vi khảo sát thực tế giới hạn trong mốc thời gian 2010 - 2018 tại một địa bàn xã Duy Nhất; chưa có điều kiện khảo sát định lượng diện rộng về mức chi tiêu và cơ cấu khách du lịch liên tỉnh.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Khóa luận mở ra hướng nghiên cứu so sánh đối sánh giữa lễ hội chùa Keo Thái Bình (Keo Trên) và lễ hội chùa Keo Hành Thiện Nam Định (Keo Dưới); đồng thời gợi mở việc nghiên cứu chuyên sâu mô hình liên kết phát triển tuyến du lịch văn hóa tâm linh dọc lưu vực sông Hồng.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên các ngành Quản lý văn hóa, Văn hóa học, Di sản văn hóa và Quản trị dịch vụ du lịch.
- Nội dung giá trị: Khóa luận cung cấp nguồn tư liệu miêu tả chi tiết các nghi lễ diễn xướng cổ truyền vùng đồng bằng Bắc Bộ (múa ếch vồ, bơi trải cạn, múa rối cạn) và là tài liệu thực tế cho cán bộ văn hóa cơ sở tham khảo trong việc xây dựng kế hoạch quản lý, tổ chức lễ hội truyền thống cấp huyện, xã.
Câu hỏi thường gặp
1. Lễ hội chùa Keo xã Duy Nhất diễn ra vào thời gian nào và suy tôn nhân vật lịch sử nào?
Lễ hội diễn ra hàng năm vào dịp rằm tháng 9 âm lịch (trọng tâm từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 9 âm lịch, kỷ niệm ngày sinh và 100 ngày mất của vị thần chủ). Lễ hội suy tôn Đức Thiền sư Dương Không Lộ (1016 - 1094), Quốc sư thời Lý, được dân gian suy tôn là Thánh Tổ, ông tổ nghề đúc đồng và nghề chài lưới.
2. Điểm độc đáo của nghi lễ "bơi trải cạn" và "múa ếch vồ" tại chùa Keo là gì?
"Múa ếch vồ" là điệu múa chầu Thánh cổ truyền do 12 người trong đội chân kiệu thực hiện tại toà Giá Roi vào chiều ngày 14 tháng 9. "Bơi trải cạn" diễn ra trước cửa đền Thánh do 12 người mỗi giáp thực hiện, gồm 1 người đóng vai "cái hò" đội mũ tì lư gõ mõ và 11 "nhà khăn" vác chèo trên vai trình diễn các động tác chèo thuyền cách điệu trên cạn.
3. Thể lệ và cơ cấu giải thưởng của hội thi nấu cơm chùa Keo được quy định như thế nào?
Hội thi gồm 8 chàng trai đại diện cho 8 giáp trong làng. Thí sinh phải tự múc nước ao chùa, lấy lửa thủ công bằng cách cọ hai thanh cật tre già, vo gạo, giã bột và nấu chín thức ăn trong thời gian một tuần hương. Sản phẩm hoàn thành phải gồm đủ 2 đĩa xôi, 2 bát cơm, 4 bát chè và 2 đĩa bánh. Giải thưởng theo truyền thống gồm giải nhất 100 quan tiền và giải nhì 3 quan tiền.
4. Nguồn kinh phí xã hội hóa phục vụ bảo tồn di tích và lễ hội chùa Keo giai đoạn 2010 - 2018 đạt mức bao nhiêu?
Hàng năm, nguồn kinh phí tài trợ từ các doanh nghiệp trên địa bàn phục vụ công tác bảo tồn di tích chùa Keo đạt khoảng 2 đến 3 tỷ đồng. Các đơn vị tài trợ thường xuyên gồm có Công ty Xây dựng An Trường Hải, Công ty TNHH Tân Huyền Phát và Công ty TNHH Thiết kế và Xây lắp BP.
5. Những bất cập chính trong công tác quản lý lễ hội chùa Keo được tác giả chỉ ra là gì?
Các bất cập chính gồm: Đội ngũ cán bộ văn hóa xã còn mỏng và thiếu chuyên môn; văn bản quản lý địa phương có sự chồng chéo; hiện tượng bói bài, đổi tiền lẻ, vứt vỏ bao hương bừa bãi và bán hàng rong chưa chấm dứt; cơ sở vật chất, dịch vụ hàng quán phát triển tự phát và khuôn viên tổ chức chưa có quy hoạch tổng thể đồng bộ.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Đào Văn Việt đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và khảo sát sâu sắc thực trạng bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa lễ hội chùa Keo tại xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình giai đoạn 2010 - 2018. Nghiên cứu khẳng định giá trị lịch sử, kiến trúc nghệ thuật thời Lê và bản sắc văn hóa tâm linh độc đáo của lễ hội trong đời sống cộng đồng cư dân châu thổ sông Hồng. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính thực tiễn, đóng góp thiết thực cho công tác quản lý di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương theo hướng bền vững.