Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỄ HỘI CHÙA KEO TẠI XÃ DUY NHẤT, HUYỆN VŨ THƯ, TỈNH THÁI BÌNH 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm giá trị và giá trị văn hóa Trần Ngọc Thêm cho rằng thuật ngữ “giá trị” xuất phát từ chữ “valere” trong tiếng Latinh, mang hàm nghĩa là đáng giá, tức nó dùng để chỉ “giá trị kinh tế” [13, tr. Trong giá trị bao gồm giá trị cá nhân và giá trị xã hội.
Ở khía cạnh khác, giá trị cá nhân là sự biểu hiện của giá trị xã hội, thông qua các giá trị cá nhân, ta có thể nhận biết được các giá trị xã hội. Từ đó, các tác giả đưa ra khái niệm giá trị văn hóa là yếu tố cốt lõi của văn hóa, nó được sáng tạo và kết tinh trong quá trình lịch sử của mỗi cộng đồng, tương ứng với môi trường tự nhiên và xã hội nhất định. Giá trị văn hóa hướng đến thỏa mãn những nhu cầu và khát vọng của cộng đồng về những điều tốt đẹp (chân, thiện, mỹ). Giá trị văn hóa luôn ẩn tàng trong bản sắc văn hóa, di sản văn hóa, biểu tượng, chuẩn mực văn hóa.
Chính vì vậy mà văn hóa thông qua hệ giá trị của nó góp phần điều tiết sự phát triển xã hội. Khái niệm lễ hội Theo Từ điển bách khoa Việt Nam:“Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện. Hội là sinh hoạt văn hoá, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của mùa màng, mà từ bao đời nay quy tụ niềm mơ ước chung vào bốn chữ "nhân khang, vật thịnh”[8, tr. Theo cuốn Quản lý lễ hội và sự kiện nhóm tác giả đã cho rằng: “Lễ hội là tổ hợp các yếu tố và hoạt động văn hóa đặc trưng của cộng đồng, xoay xung quanh một trục ý nghĩa nào đó, nhằm tôn vinh và quảng bá cho những giá trị nhất định”[6, tr.
Từ những định nghĩa quan niệm trên, tôi cho rằng: Lễ hội là một thể thống 6 Luan van nhất không thể tách rời, lễ hội là một trong những hoạt động: “Văn hóa cao”, “hoạt động văn hóa nổi trội” trong đời sống con người, hoạt động lễ hội là hoạt động của cộng đồng hướng tới xử lý các mối quan hệ của chính cộng đồng đó. Hoạt động này diễn ra với những hình thức và cấp độ khác nhau, nhằm thỏa mãn và phục vụ lợi ích đa dạng trước mắt và lâu dài của các tầng lớp người, thỏa mãn những nhu cầu của các cá nhân và tập thể trong môi trường mà họ sinh sống. Khái niệm lễ hội truyền thống Theo định nghĩa của UNESCO: “Văn hóa truyền thống là các tập quán và biểu tượng xã hội mà theo quan niệm của một nhóm xã hội thì được lưu giữ từ quá khứ đến hiện tại thông qua việc lưu truyền giữa các thế hệ và có một tầm quan trọng đặc biệt”[15, tr. 5] Lễ hội truyền thống Việt Nam xuất phát từ nền văn minh lúa nước với nhiều hình thức phong phú, đa dạng và độc đáo.
Lễ hội là một sản phẩm và biểu hiện của một nền văn hóa mà nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa nông nghiệp, vì vậy lễ hội truyền thống Việt Nam chủ yếu là lễ hội nông nghiệp. Cội nguồn sâu xa nhất là tín ngưỡng phồn thực trong nông nghiệp. Trần Quốc Vượng thì lễ hội nông nghiệp không chỉ bao hàm những lễ hội gắn một cách trực tiếp với nghề nông mà ta có thể gọi là nghi thức hay nghi lễ nông nghiệp như lễ hội “Lồng Tồng” của người Tày, lễ tế Thần Nông, lễ Hạ Điền (Lễ xuống đồng của người Mường) mà bao gồm cả những lễ hội như săn chim, bắt cáo, đuổi hổ, hội đánh bắt cá, hội hái măng, hái nấm… Tất cả chúng đều được gọi là lễ hội nông nghiệp vì chúng diễn ra trong không gian và thời gian thôn dã (tính chất chu kì). Chủ thể của lễ hội này chủ yếu là nông dân, ngư dân, thợ thủ công sống ở vùng nông thôn.
Lễ hội cổ truyền là sinh hoạt văn hóa điển hình của văn hóa làng, là điển hình của sinh hoạt văn hóa dân gian truyền thống, là thành tố quan trọng tạo nên bản sắc. Như vậy, có rất nhiều quan niệm khác nhau về lễ hội truyền thống tùy theo cách tiếp cận theo khía cạnh nào, phương thức nào. Tuy nhiên, có thể hiểu: lễ hội truyền thống là lễ hội được sáng tạo và lưu truyền theo phương thức dân gian, có từ lâu đời, tồn tại cho đến ngày nay hoặc được phục dựng lại, được hình thành trong 7 Luan van hình thái văn hóa lịch sử riêng biệt, được truyền lại trong các cộng đồng dân cư với tư cách là phong tục, tập quán. Khái niệm bảo tồn Theo định nghĩa của Liên minh Quốc tế bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên: “Bảo tồn là sự quản lý, sử dụng của con người về sinh quyển nhằm thu được lợi nhuận bền vững cho thế hệ hiện tại trong khi vẫn duy trì tiềm năng để đáp ứng những yêu cầu và nguyện vọng của thế hệ tương lai” [11, tr.
Còn theo quan niệm của UNESCO trong phần giải thích thuật ngữ đã đưa ra giải thích về bảo tồn: “Bảo tồn là bao gồm các biện pháp nhằm đảm bảo tính trường tồn của các di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm cả các biện pháp nhận dạng, lưu trữ, nghiên cứu bảo tồn, bảo vệ, thúc đẩy, củng cố, chuyển hóa, đặc biệt là thông qua hình thức giáo dục chính thức và không chính thức, cũng như là việc làm sống lại các giá trị khác nhau của di sản đó”[15, tr. Với quan điểm này của UNESCO ta thấy khái niệm bảo tồn là một khái niệm rất rộng, nó bao gồm nhiều các phương diện khác nhau, các biện pháp khác nhau để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của di sản văn hóa. Bảo tồn không chỉ đơn thuần theo cách hiểu đơn giản là bảo vệ cho nó tồn tại, bởi nếu chỉ bảo vệ thôi thì với di sản văn hóa nó sẽ là một di sản chết, một di sản không có sức sống, không có giá trị ảnh hưởng thì không thể gọi là di sản. Di sản văn hóa cũng như văn hóa, nó có không gian sống riêng biệt, nó có thể chuyển hóa nhưng bản chất, nội dung của nó không thay đổi, nếu có chỉ là sự tích lũy bổ sung, chọn lọc để làm tăng giá trị của di sản văn hóa.
Mối quan tâm lớn nhất của việc bảo tồn đó là bảo vệ các yếu tố văn hóa gốc, bảo vệ văn hóa phát hiện được chống lại sự thoái hóa hay cả sự xâm hại khác. Như vậy, ta có thể hiểu bảo tồn chính là sự gìn giữ những giá trị văn hóa do con người sáng tạo ra để làm cho nó không những không bị mai một mà còn phát triển nó và lưu truyền lại cho thế hệ sau. Khái niệm phát huy và phát huy giá trị văn hóa Theo Từ điển tiếng Việt: “Phát huy là làm cho cái hay, cái tốt tỏa sáng và có tác dụng tốt đối với đời sống của con người, từ đó tiếp tục làm nảy nở những giá trị cái hay, cái tốt trong xã hội” [16, tr. 428] 8 Luan van Quan điểm của UNESCO về phát huy được hiểu là những tác động làm cho cái hay, cái đẹp, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ đơn giản đến phức tạp.
Có thể nói, phát huy chính là việc khai thác, sử dụng sản phẩm một cách có hiệu quả. Công việc này xuất phát từ nhu cầu thực tế, con người mong muốn sản phẩm của họ tạo ra phải được nhiều người cùng biết đến hoặc đem về những lợi ích kinh tế. Phát huy giá trị di sản văn hóa là một hoạt động có tính liên ngành, có tiêu chí chung, mục đích là phục vụ cho sự tiến bộ của xã hội, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời là nhịp cầu nối với bạn bè năm châu. Nguyên tắc cao nhất của phát huy di sản văn hóa là phải dựa vào những giá trị hiện có của di sản văn hóa, tôn vinh giá trị và phát triển những tinh hoa của giá trị di sản văn hóa vì lợi ích cộng đồng cũng như sự phát triển văn hóa.
Mục đích quan trọng nhất của hoạt động phát huy giá trị di sản văn hóa là làm cho các ý nghĩa văn hóa, tinh hoa các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp lan tỏa vào cộng đồng, tiếp tục duy trì sức sống của nó trong đời sống tinh thần cộng đồng, góp phần quan trọng vào hoạt động giáo dục truyền thống và đặc biệt là giữ gìn bản sắc dân tộc trong thế giới tôn trọng đa dạng văn hóa hôm nay, tạo cơ sở, bản lĩnh cho giao lưu, tiếp biến, phát triển văn hóa, phục vụ cho sự tiến bộ xã hội. Xung quanh hoạt động phát huy di sản văn hoá phi vật thể cũng đặt ra nhiều vấn đề. Song điều quan trọng hơn cả đối với việc phát huy những di sản văn hoá phi vật thể nói chung và lễ hội cổ truyền nói riêng là làm sao khơi dậy ý thức của cộng đồng, niềm tự hào của cộng đồng về di sản văn hoá phi vật thể, để di sản ấy sống trong cộng đồng như bản chất của nó. Trong công tác phát huy, vấn đề đặt ra là tuyên truyền, giáo dục trong cộng đồng, nhất là thế hệ trẻ những hiểu biết về lễ hội cổ truyền với những giá trị văn hoá của nó.
Chính đây là cây cầu để chúng ta đưa lễ hội cổ truyền về với cộng đồng. Cộng đồng chính là môi trường không chỉ sản sinh ra lễ hội, mà còn là nơi tốt nhất bảo tồn, làm giàu thêm, phát huy nó trong đời sống xã hội.