Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo tồn và phát huy giá trị di tích Chùa Keo Thái Bình Chương 2: Thực trạng hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích Chùa Keo – Thái Bình Chương 3: Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di tích Chùa Keo – Thái Bình 14 Luan van CHƢƠNG 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH CHÙA KEO THÁI BÌNH 1. Các khái niệm cơ bản về bảo tồn và phát huy giá trị di tích 1. Khái niệm di tích Ngày 12-7, Chủ tịch nước Trần Ðức Lương ký Lệnh công bố Luật Di sản văn hóa, đã được kỳ họp thứ 9, QH khóa X thông qua. Trong đó đã quy định, Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
Khái niệm bảo tồn di tích “Bảo tồn là giữ lại không để mất đi”. Bảo tồn văn hóa có hai đối tượng để bảo tồn: giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể. Bảo tồn tức là các hành động nhằm bảo vệ, gìn giữ, bảo lưu lại sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng, gìn giữ chúng để tồn tại cùng với thời gian. Bảo tồn các sự vật, hiện tượng là lưu giữ, không làm cho chúng bị mai một, bị thay đổi và biến dạng.
[3,tr39] Bảo tồn di tích là một lĩnh vực khoa học chuyên ngành với những đặc điểm riêng khác với xây dựng cơ bản thông thường. Chính vì vậy, cần có một cơ chế phù hợp để tạo điều kiện thuận lợi và nâng cao hiệu quả cho công tác này. Khái niệm phát huy giá trị di tích Phát huy là “làm cho cái hay, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm”. Phát huy là hành động nhằm đưa văn hóa vào trong thực tiễn xã hội, coi đó như nguồn nội lực, các tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện mục tiêu của văn hóa đối với phát triển xã hội.
Phát huy giá trị di tích là khai thác những cái hay cái tốt từ các hệ giá trị của di tích, di sản văn hóa đó để nó trở nên phát triển có ý nghĩa cho cộng đồng xã hội. [3,tr768] 15 Luan van Giá trị đến nay vẫn là một khái niệm mang tính trừu tượng, là ý nghĩa của sự vật nào đó trên phương diện phù hợp với nhu cầu của con người. Là khái niệm dùng để chi giá trị trao đổi hay giá trị kinh tế của một tài sản hay sản phẩm. Trước đây các nhà kinh tế như Adam Smith và Ricardo nhấn mạnh rằng giá trị trao đổi của một tài sản hay sản phẩm được tính bằng lượng lao động cần thiết để sản xuất ra nó.
[9] Như vậy, phát huy giá trị di tích là tận dụng và kế thừa những tinh hoa giá trị mà các thế hệ trước tạo dựng và để lại, từ đó sử dụng các giá trị đó với mục đích lan tỏa văn hóa giúp cho các giá trị này thẩm thấu vào từng đời sống xã hội, từng cộng đồng dân cư. Tận dụng và phát huy các giá trị của di tích nhằm mục tiêu phát triển du lịch bền vững, xây dựng nền tảng văn hóa, tạo nên hệ thống các giá trị của di tích đó, là nguồn lực để phát triển kinh tế của địa phương. Kết luận lại rằng, bảo tồn di tích được hiểu là những nỗ lực nhằm bảo vệ và gìn giữ sự tồn tại của di tích theo dạng thức vốn có của nó. Phát huy được hiểu là những hành động với mục đích đưa các giá trị của di tích, di sản vào trong thực tiễn, coi đó là nguồn nội lực tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, tạo sức lan tỏa tích cực trong xã hội, mang lại những lợi ích về vật chất và tinh thần cho con người.
Bảo tồn và phát huy giá trị của di tích là sử dụng các biện pháp nhằm gìn giữ, tôn tạo các giá trị của di tích đó để chúng không bị mai một. Các giá trị văn hóa, giá trị kinh tế của di tích, di sản đó được lan tỏa và tạo nên ý nghĩa tích cực trong đời sống xã hội của nhân dân, đóng góp vào mục tiêu văn hóa trong phát triển kinh tế xã hội. Mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy giá trị di tích Chùa Keo vì sự phát triển bền vững Mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy giá trị của di tích lịch sử - di sản văn hóa vì sự phát triển bền vững luôn là vấn đề đặt ra ở nhiều thời kì. Không 16 Luan van phải ở thời gian nào, không gian nào người ta có thể giải quyết được hài hòa các vấn đề giữa bảo tồn di tích lịch sử với phát huy giá trị di tích vì sự phát triển bền vững của kinh tế - xã hội, nhất là ở trong môi trường đô thị.
Vấn đề này không chỉ xảy đến ở các nước đang phát triển mà ngay cả những nước phát triển trên thế giới cũng vô cùng đau đầu khi giải quyết những xung đột của mối quan hệ này. Với bối cảnh thế giới hiện tại, trong nhiều trường hợp sự “xung đột” này thường kết thúc với phần thắng nghiêng về phía phát triển kinh tế - xã hội. Hoạt động bảo tồn, phát huy các giá trị di tích lịch sử, di sản văn hóa đồng thời gắn với phát triển kinh tế - xã hội không phải là hai mặt đối lập mà là một thể thống nhất, tất cả đều hướng tới mục tiêu chung là sự phát triển bền vững. Ở Việt Nam, vấn đề giữa bảo tồn và phát triển như nêu trên không còn là điều hiếm gặp.
Di tích lịch sử - văn hoá là một loại tài nguyên không thể tái sinh, không thể thay thế, nên về mặt nguyên tắc, không được huỷ hoại, không được làm ảnh hưởng đến giá trị, tính xác thực, yếu tố gốc cấu thành di tích, tính toàn vẹn của di sản; cần thực hiện nghiêm túc quy định của Luật Di sản văn hoá về các khu vực bảo vệ của di tích. Đối với di tích còn nằm trong lòng đất (di tích khảo cổ học) được phát hiện khi xây dựng các công trình kinh tế - xã hội thì phải báo cho cơ quan quản lý di sản để phối hợp tìm các giải pháp giải quyết hài hòa giữa bảo tồn và phát triển. [4] Đối với một di tích đặc biệt như Chùa Keo – Thái Bình, để đảm bảo sự cân bằng giữa 2 yếu tố bảo tồn và phát huy giá trị là điều hết sức quan trọng. Thứ nhất, do tuổi đời của chùa khá lâu đời với tuổi thọ hơn 400 năm, lại trải qua khá nhiều lần tu bổ cộng thêm việc từng đi qua những cuộc chiến tranh thực dân dẫn đến nhiều di vật cổ xưa cũng bị mai một đi khá nhiều.
Thứ hai, do tốc độ đô thị hóa từ những năm 2000 trở về đây khá phát triển dẫn đến một thời kì khuôn viên di tích đã bị cư dân trên địa bàn xâm lấn, sau các nhà chức 17 Luan van trách đã phải vào cuộc để can thiệp lấy lại khuôn viên cho chùa. Thứ ba, hoạt động quản lý du lịch lễ hội những năm trở về trước tồn tại nhiều điểm bất cập khiến một thời gian, không gian chùa bị hư hại do tình trạng người dân lạm dụng lễ hội kinh doanh tràn lan, trục lợi từ khách du lịch. Chính vì những yếu tố trên mà mối quan hệ giữa việc bảo tồn và phát huy những giá trị, tinh hoa, văn hóa di tích, di sản văn hóa xảy ra những “xung đột” hai bên luôn có những vấn đề kìm hãm nhau không cùng phát triển. Đây chính là vấn đề đặt ra tầm quan trọng của ban quản lý và các cơ quan phụ trách các di tích lịch sử, di sản văn hóa trên cả nước nói chung và ban quản lý di sản Chùa Keo nói riêng.
Văn bản của Đảng, Nhà nƣớc về bảo tồn và phát huy giá trị di tích, di sản văn hóa 1. Văn bản của Đảng Một đất nước được xem là phát triển, là một đất nước luôn luôn cân bằng được hai yếu tố là kinh tế và văn hóa. Việt Nam là một đất nước có nền văn hóa đa sắc màu với 54 dân tộc anh em, cùng với lịch sử trải qua nhiều nền văn minh với nhân loại. Những tư tưởng về hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, di sản văn hóa đã được khẳng định trong cuộc họp Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (1998), hội nghị lần thứ 5, đã ban hành Nghị quyết số 03/NQ-TW ngày 16/7/1998 về xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Đây là nghị quyết đầu tiên mang tính đường lối, chủ trương, chính sách của 16 Đảng trên lĩnh vực văn hóa, mà còn là tư duy lý luận văn hóa toàn diện và sâu sắc. Nghị quyết nêu rõ: - Di sản văn hoá là tài sản vô giá, là sợi dây gắn kết cộng đồng dân tộc, là hồn cốt của bản sắc dân tộc, là tiền đề để khơi dậy sáng tạo ra những giá trị mới và giao lưu văn hoá. Hết sức coi trọng công tác bảo tồn, kế thừa và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống (bác học và dân gian), văn hoá cách mạng, bao gồm cả văn hoá vật thể và phi vật thể. Đây là tiền đề cho hoạt động 18 Luan van nghiên cứu và giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc tốt đẹp của cha ông ta.
- Bên cạnh nhiệm vụ đặt ra trước mắt, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã xây dựng lên các chính sách liên quan đến hoạt động bảo tồn, và phát huy giá trị di tích lịch sử, di sản văn hóa như sau: “Chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc hướng cả vào văn hóa vật thể và phi vật thể. Tiến hành sớm hoạt động kiểm kê, sưu tầm, chỉnh lí vốn văn hóa truyền thống (bao gồm văn hóa bác học và văn hóa dân gian) của người việt và các dân tộc thiểu số; biên phiên dịch, quảng bá kho tàng văn hóa Hán Nôm, bảo tồn các di tích lịch sử, di sản văn hóa và các danh lam thắng cảnh, các làng nghề thủ công, các nghề truyền thống… Trọng đãi các nghệ nhân bậc thầy trong các ngành, nghề truyền thống.