Chương 1:Một số vấn đề lý luận chung và khái quát về Làng nghề đúc đồng Thị Trấn Lâm - Yên Xá - Ý Yên - Nam Định. Chương 2: Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề đúc đồng - Thị Trấn Lâm - Yên Xá - Ý Yên - Nam Định. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Làng nghề đúc đồng - Thị Trấn Lâm - Yên Xá - Ý Yên - Nam Định. 6 Luan van CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ KHÁI QUÁT VỀ LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG THỊ TRẤN LÂM - YÊN XÁ - Ý YÊN - NAM ĐỊNH.1 Cơ sở lý luận về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề 1.Các khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm bảo tồn và phát huy Khái niệm bảo tồn Theo Từ điển Tiếng Việt, “Bảo tồn là giữ lại không để mất đi” [4].
Bảo tồn văn hóa có hai đối tượng để bảo tồn: giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể. Bảo tồn tức là các hành động nhằm bảo vệ, gìn giữ, bảo lưu lại sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng, gìn giữ chúng để tồn tại cùng với thời gian. Bảo tồn các sự vật, hiện tượng là lưu giữ, không làm cho chúng bị mai một, bị thay đổi và biến dạng. Đề tài sử dụng khái niệm này làm khái niệm công cụ để nghiên cứu Khái niệm phát huy Theo Từ điển tiếng Việt, Phát huy là “làm cho cái hay, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm” [4].
Phát huy là hành động nhằm đưa văn hóa vào trong thực tiễn xã hội, coi đó như nguồn nội lực, các tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện mục tiêu của văn hóa đối với phát triển xã hội. Phát huy văn hóa là làm cho những giá trị văn hóa, nghệ thuật truyền thống lan tỏa trong cộng đồng xã hội, có ý nghĩa xã hội tích cực. Phát huy văn hóa truyền thống của các dân tộc phải biết kế thừa có chọn lọc những tinh hoa văn hóa của thế hệ trước để lại, làm cho các giá trị của văn hóa thấm sâu, lan tỏa vào đời sống cộng đồng xã hội, biết mở rộng giao lưu văn hóa để làm giàu thêm bản sắc văn hóa và làm thăng hoa giá trị. Phát huy văn hóa truyền thống nhằm mục tiêu phát triển du lịch bền vững, phục vụ tích cực cho công tác bảo tồn các di sản văn hóa.
7 Luan van Như vậy, bảo tồn văn hóa được hiểu như là các nỗ lực nhằm bảo vệ và gìn giữ sự tồn tại của di sản theo dạng thức vốn có của nó. Phát huy có nghĩa là những hành động nhằm đưa các giá trị văn hóa vào trong thực tiễn, tạo sức lan tỏa tích cực trong xã hội, coi đó là nguồn nội lực tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề là là các biện pháp để gìn giữ, tôn tạo các giá trị văn hóa làng nghề để chúng không bị mai một, mờ nhạt. Và các giá trị văn hóa làng nghề đó được lan tỏa, tỏa sáng và có ý nghĩa tích cực trong đời sống xã hội của nhân dân, góp phần vào 1.
Khái niệm giá trị văn hóa Giá trị văn hóa là sự đánh giá mang tính cộng đồng đối với các hiện tượng, sản phẩm văn hóa do con người tạo ra trong bối cảnh xã hội nhất định. Những giá trị đó được coi là tốt đẹp, là có ích, đáp ứng nhu cầu của con người trong mọi thời đại. Một khi những giá trị đó được hình thành và được định hình thì nó có tác dụng chi phối những nhận thức, quan niệm, hành vi, tình cảm của con người trong mỗi cộng đồng ấy. Giá trị văn hóa về thực chất là sự khẳng định của con người đối với sự tồn tại vật chất và tinh thần trong đời sống xã hội, quan hệ, trật tự của mình, hành vi, thái độ của mình, khích lệ con người sống và phát triển theo thang giá trị mà cộng đồng xã hội tôn vinh.
Bên cạnh những giá trị tổng quát (yêu nước, cộng đồng, cần cù, hiếu học, gắn bó huyết thống và làng bản) còn tồn tại giá trị bộ phận. Giá trị này được thể hiện trong từng lĩnh vực hoạt động của con người như: khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong ăn uống, đi lại, phong tục tập quán, lễ hội. Những giá trị bộ phận không phải là những thực thể riêng biệt mà chúng góp phần chung đúc nên giá trị văn hóa tổng quát và ngược lại.Khái niệm về làng nghề và làng nghề truyền thống Khái niệm làng nghề: Đã có rất nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau về làng nghề, tuy nhiên hiện nay, định nghĩa, khái niệm về làng nghề vẫn chưa có sự thống nhất. Theo Trần Quốc Vượng, Đỗ Thị Hảo“làng nghề là một làng tuy vẫn còn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhưng cũng có một số nghề phụ 8 Luan van khác như đan lát, gốm, làm tương… xong đã nổi trội một nghề truyền thống, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công nghiệp, có phường ( cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông cả… cùng một số thợ và phó nhỏ, đã có chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định” [5,tr.
Xét theo góc độ kinh, trong cuốn[11] của Dương Bá Phượng cho rằng: “ Làng nghề là làng ở nông thôn có một số hoặc một số nghề thủ công tách hẳn ra thủ công nghiệp và kinh doanh độc lập. Thu nhập từ các làng nghề đó chiếm tỉ trọng cao trong tổng giá trị toàn làng.3] Khái niệm làng nghề truyền thống Hiện nay chưa có khái niệm chính xác và thống nhất nhất về làng nghề truyền thống cho nên nhóm tác giả sử dụng một số quan niệm về các làng nghề truyền thống như sau: Quan niệm 1: Làng nghề truyền thống là một đơn vị hành chính cổ xưa mà cũng có nghĩa là một nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, có kỷ cương tập quán riêng theo nghĩa rộng. Làng nghề không những là một làng sống chuyên nghề mà cũng có hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần thể để phát triển công ăn việc làm. Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cá biệt của địa phương Quan niệm 2: Làng nghề truyền thống là những làng nghề làm nghề thủ công có truyền thống lâu năm thường là qua nhiều thế hệ.
Quan niệm này cũng chưa đầy đủ bởi vì khi nói đến làng nghề truyền thống ta không thể chú ý đến các mặt đơn lẻ, mà phải chú trọng đến nhiều mặt trong cả không gian và thời gian, nghĩa là quan tâm đến tính hệ thống, toàn diện của làng nghe đó. trong đó yếu tố quyết định là nghệ nhân, sản phẩm, kĩ thuật sản xuất và thủ pháp nghè thuật. Quan niệm 3: Làng nghề truyền thống là những làng có tuyệt đại đa số bộ phận dân số làm nghề cổ truyền. Nó được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử được nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác kiểu cha 9 Luan van truyền con nối hoặc ít nhất cũng tồn lại hàng chục năm.
Trong làng sản xuất mang tính tập trung, có nhiều nghệ nhân tài hoa và một nhóm người có tay nghề giỏi làm hạt nhân để phát triển nghề. Đồng thời sản phẩm làm ra mang tính tiêu biểu độc đáo, tinh xảo, nổi tiếng vả đậm nét văn hóa dân tộc.2 Vai trò của làng nghề truyền thống 1.1 Vai trò làng nghề truyền thống trong sự phát triển kinh tế - xã hội Làng nghề đóng vai trò tích cực trong việc gia tăng sản xuất các ngành phi nông nghiệp (các ngành tiểu thủ công nghiệp, các ngành dịch vụ) cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng CNH-HĐH đất nước. Góp phần chuyển lao động từ sản xuất có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn. Chuyển đổi tập quán sản xuất từ sản xuất nhỏ mang tính độc canh, tự túc sang sản xuất hàng hóa với qui mô lớn đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp nhận công nghệ sản xuất có trình độ ngày càng cao.
Xét về góc độ phân công lao động thì làng nghề không những cung cấp tư liệu sản xuất mà còn dịch chuyển cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp như các ngành nghề chế biến. Tạo điều kiện cho một đội ngũ lao động có điều kiện trình độ tay nghề cao hơn. Giờ đây khi chuyển dịch sang công nghệ cao tạo ra khối lượng hàng hóa lớn, chất lượng ngày một cao. Sự đa dạng hóa các hình thức kinh doanh trong quá trình phát triển làng nghề (sự ra đời các doanh nghiệp vừa và nhỏ) và sự liên kết giữa các loại hình sản xuất để thành những cơ sở doanh nghiệp mạnh ngay trên địa bàn.Tăng thu nhập, thu hẹp mức sống giữa thành thị và nông thôn.
Phát triển làng nghề góp phần tăng thu nhập của người dân đồng thời tạo ra nguồn tích lũy khá lớn và ổn định cho ngân sách địa phương cũng như các hộ gia đình. Phát triển làng nghề là cơ hội cho người nông dân tăng thu nhập của nguồn thu hai cách: Hoặc là tham gia vào làng nghề và nhận thu nhập do ngành nghề đem lại hoặc tham gia hoạt động dịch vụ phục vụ cho làng nghề và nhận thu nhập từ hoạt động đó. Các dịch vụ phát sinh phục vụ cho sản xuất làng nghề cũng rất phong phú, có thể là dịch vụ cung ứng nguyên vật liệu, 10 Luan van công cụ sản xuất, dịch vụ chuyên khâu hỗ trợ sản xuất, dịch vụ tiêu thụ. Với các làng nghề thu nhập từ phi nông nghiệp đặc biệt là lao động từ làng nghề ngày càng trở nên quan trọng.
Bởi thu nhập tăng lao động sản xuất cơ sở cho các đơn vị sản xuất đầu tư nâng cấp các loại máy móc, nâng cấp yếu tố đầu vào, năng suất, sản lượng sản xuất kéo gần khoảng cách giữa nông thôn và thành thị. Đây là mục tiêu của công cuộc CNH-HĐH ở nông nghiệp nông thôn mà nước ta đã đề ra. Khai thác được tiềm năng cũng như phát huy được lợi thế nhờ quy mô ở từng vùng, từng địa phương góp phần thực hiện thành công sự nghiệp CNH-HĐH đất nước nói chung và CNH-HĐH nông thôn nói riêng.