Luận văn Quản lý hoạt động bảo trợ xã hội ở quận Thanh Xuân, Hà Nội

Tìm hiểu thực trạng và giải pháp quản lý hoạt động bảo trợ xã hội ở quận Thanh Xuân, Hà Nội hiện nay nhằm nâng cao hiệu quả an sinh xã hội.

Chuyên ngành

Quản lý xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2022

109
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý hoạt động bảo trợ xã hội quận Thanh Xuân

Quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, là địa bàn có mật độ dân cư đông đúc, trong đó nhóm đối tượng yếu thế chiếm tỷ lệ đáng kể. Hoạt động bảo trợ xã hội (BTXH) tại đây nhằm hỗ trợ vật chất, tinh thần cho người nghèo, người khuyết tật, trẻ mồ côi, người già cô đơn và nạn nhân chiến tranh. Quản lý BTXH bao gồm xây dựng chính sách, tổ chức thực hiện, giám sát và đánh giá hiệu quả. Ủy ban nhân dân quận Thanh Xuân cùng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội là hai đơn vị chủ chốt triển khai hoạt động này. Các chế độ trợ giúp như trợ cấp hàng tháng, cứu trợ đột xuất được thực hiện theo quy định pháp luật. Công tác quản lý phải đảm bảo công bằng, minh bạch và hiệu quả. Năm 2020, quận Thanh Xuân đã hỗ trợ hơn 12.000 đối tượng với tổng kinh phí trên 200 tỷ đồng. Việc nâng cao năng lực cán bộ và ứng dụng công nghệ thông tin là xu hướng quan trọng trong quản lý BTXH.

1.1. Khái niệm và vai trò quản lý BTXH

Bảo trợ xã hội là hệ thống chính sách, chế độ nhằm trợ giúp người dân gặp khó khăn về kinh tế, sức khỏe hoặc xã hội. Tại quận Thanh Xuân, quản lý BTXH bao gồm lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát các chế độ trợ giúp. Vai trò của quản lý là đảm bảo nguồn lực được phân bổ hợp lý, đúng đối tượng. Đối tượng hưởng BTXH chủ yếu là người nghèo, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Chính sách BTXH góp phần giảm nghèo bền vững, ổn định xã hội. Quận Thanh Xuân đã triển khai nhiều chương trình như hỗ trợ học phí, cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí. Công tác quản lý cần dựa trên dữ liệu thực tế và phản hồi từ người dân.

1.2. Nguyên tắc quản lý hoạt động BTXH

Quản lý BTXH tại quận Thanh Xuân tuân thủ nguyên tắc công bằng, minh bạch và hiệu quả. Nguyên tắc công bằng đảm bảo mọi đối tượng đủ điều kiện đều được hưởng chế độ trợ giúp. Minh bạch trong quy trình xét duyệt hồ sơ, chi trả kinh phí là yêu cầu bắt buộc. Hiệu quả quản lý thể hiện qua tỷ lệ giảm nghèo, cải thiện đời sống người dân. Nguyên tắc phân cấp quản lý giúp nâng cao trách nhiệm của địa phương. Sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức xã hội là yếu tố quan trọng. Quận Thanh Xuân đã xây dựng quy trình xét duyệt hồ sơ khép kín, đảm bảo đúng đối tượng. Kiểm tra, giám sát định kỳ giúp phát hiện sai phạm kịp thời.

II. Phân tích thực trạng quản lý hoạt động BTXH quận Thanh Xuân

Quận Thanh Xuân có hệ thống quản lý BTXH tương đối hoàn thiện nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức. Năm 2020, tỷ lệ đối tượng hưởng BTXH chiếm 3,2% dân số toàn quận. Nguồn kinh phí chủ yếu từ ngân sách trung ương và địa phương, chiếm lần lượt 60% và 30%. Phần còn lại do huy động xã hội đóng góp. Việc triển khai chính sách BTXH gặp khó khăn do thiếu đồng bộ giữa các cấp. Thủ tục hành chính rườm rà khiến thời gian giải quyết hồ sơ kéo dài. Ý kiến phản hồi từ người dân cho thấy nhu cầu nâng cao chất lượng dịch vụ. Điểm sáng là quận đã ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ. Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ còn thiếu về số lượng và chuyên môn. Thực trạng này đòi hỏi cải cách mạnh mẽ để nâng cao hiệu quả quản lý.

2.1. Thuận lợi và khó khăn trong quản lý

Thuận lợi chính là sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền địa phương đối với công tác BTXH. Quận Thanh Xuân có mạng lưới cộng tác viên rộng khắp, hỗ trợ đắc lực trong tuyên truyền chính sách. Kinh phí huy động từ xã hội ngày càng tăng, góp phần đa dạng hóa nguồn lực. Khó khăn nổi bật là sự chênh lệch giữa nhu cầu và nguồn lực. Thủ tục hành chính phức tạp khiến người dân gặp bất tiện. Đội ngũ cán bộ thiếu kinh nghiệm trong xử lý tình huống phức tạp. Sự phối hợp giữa các ngành, địa phương chưa đồng bộ. Thiếu cơ sở dữ liệu thống nhất dẫn đến tình trạng trùng lặp đối tượng. Người dân thiếu thông tin về chính sách BTXH do công tác tuyên truyền chưa hiệu quả.

2.2. Đánh giá hiệu quả quản lý BTXH

Hiệu quả quản lý BTXH tại quận Thanh Xuân được đánh giá qua tỷ lệ giảm nghèo, cải thiện đời sống người dân. Năm 2020, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 1,8%, thấp hơn mức trung bình thành phố. Chất lượng cuộc sống của người hưởng BTXH được nâng lên rõ rệt. Tuy nhiên, hiệu quả chưa đồng đều giữa các phường. Một số phường có tỷ lệ người hưởng BTXH cao hơn do điều kiện kinh tế khó khăn hơn. Việc chi trả chế độ BTXH kịp thời giúp người dân ổn định cuộc sống. Đánh giá từ phía người dân cho thấy sự hài lòng với thái độ phục vụ của cán bộ. Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng chậm trễ trong giải quyết hồ sơ. Cần tăng cường kiểm tra, giám sát để đảm bảo tính minh bạch.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động BTXH

Để nâng cao hiệu quả quản lý BTXH tại quận Thanh Xuân, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước tiên là cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa quy trình xét duyệt hồ sơ. Áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ giúp giảm thời gian giải quyết. Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ về chuyên môn và kỹ năng nghiệp vụ. Nâng cao chất lượng tuyên truyền chính sách BTXH đến người dân. Mở rộng nguồn kinh phí huy động từ xã hội, doanh nghiệp. Xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất giữa các cấp quản lý. Tăng cường kiểm tra, giám sát định kỳ để phát hiện sai phạm. Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong giám sát hoạt động BTXH. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế để học hỏi kinh nghiệm quản lý. Năm 2021, quận Thanh Xuân đã thí điểm mô hình quản lý BTXH theo hướng hiện đại, bước đầu đạt kết quả khả quan.

3.1. Cải cách thủ tục hành chính

Thủ tục hành chính trong quản lý BTXH tại quận Thanh Xuân cần được đơn giản hóa. Hiện nay, quy trình xét duyệt hồ sơ kéo dài do nhiều bước thủ tục. Đề xuất cắt giảm các bước không cần thiết, tập trung vào xác minh đối tượng. Ứng dụng công nghệ thông tin giúp lưu trữ hồ sơ điện tử, dễ dàng tra cứu. Thời gian giải quyết hồ sơ có thể rút ngắn xuống còn 15 ngày. Tăng cường sự phối hợp giữa các ngành liên quan để tránh tình trạng chồng chéo. Đào tạo cán bộ về kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin. Xây dựng quy trình xử lý hồ sơ khép kín, minh bạch. Người dân có thể theo dõi tiến độ giải quyết qua cổng thông tin điện tử.

3.2. Nâng cao năng lực cán bộ và huy động nguồn lực

Năng lực cán bộ là yếu tố quyết định hiệu quả quản lý BTXH. Cần tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về chính sách BTXH, kỹ năng nghiệp vụ. Đề xuất tăng cường tuyển dụng cán bộ có chuyên môn về xã hội học, quản lý. Chế độ đãi ngộ cần được cải thiện để thu hút nhân tài. Huy động nguồn lực từ xã hội là giải pháp quan trọng. Doanh nghiệp trên địa bàn có thể đóng góp thông qua các chương trình trách nhiệm xã hội. Tổ chức các hoạt động từ thiện, gây quỹ hỗ trợ đối tượng khó khăn. Quận Thanh Xuân đã triển khai mô hình “Doanh nghiệp đồng hành” với người nghèo. Nâng cao nhận thức cộng đồng về trách nhiệm xã hội là cần thiết.

IV. Kết luận và đề xuất ứng dụng thực tiễn

Quản lý hoạt động BTXH tại quận Thanh Xuân đã đạt được nhiều kết quả tích cực nhưng vẫn còn hạn chế. Các giải pháp cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, nâng cao năng lực cán bộ cần được triển khai đồng bộ. Việc huy động nguồn lực từ xã hội và tăng cường giám sát là yếu tố then chốt. Quận Thanh Xuân cần tiếp tục đổi mới phương thức quản lý, hướng tới sự minh bạch và hiệu quả. Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng cho các địa phương khác có điều kiện tương tự. Đề xuất xây dựng mô hình quản lý BTXH chuẩn quốc gia dựa trên kinh nghiệm quận Thanh Xuân. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền, ngành chức năng. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ là xu hướng tất yếu. Quận Thanh Xuân có tiềm năng trở thành mô hình điểm trong quản lý BTXH.

4.1. Tóm lược kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu đã phân tích thực trạng quản lý BTXH tại quận Thanh Xuân thông qua dữ liệu thực tế. Kết quả cho thấy hệ thống quản lý tương đối hoàn thiện nhưng còn tồn tại nhiều hạn chế. Thuận lợi chính là sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền địa phương. Khó khăn nổi bật là thủ tục hành chính rườm rà, thiếu nguồn lực. Đánh giá hiệu quả quản lý thông qua tỷ lệ giảm nghèo, cải thiện đời sống người dân. Giải pháp đề xuất tập trung vào cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin. Nâng cao năng lực cán bộ và huy động nguồn lực từ xã hội là giải pháp quan trọng. Kết quả nghiên cứu có thể tham khảo cho các địa phương khác.

4.2. Khuyến nghị triển khai thực tiễn

Đề xuất quận Thanh Xuân ưu tiên triển khai cải cách thủ tục hành chính ngay trong năm 2023. Áp dụng mô hình quản lý hồ sơ điện tử trên toàn quận. Tăng cường đào tạo cán bộ về chuyên môn và kỹ năng nghiệp vụ. Xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất giữa các cấp quản lý. Mở rộng chương trình huy động nguồn lực từ doanh nghiệp và cộng đồng. Tăng cường kiểm tra, giám sát định kỳ để đảm bảo tính minh bạch. Đẩy mạnh tuyên truyền chính sách BTXH đến người dân. Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong giám sát hoạt động BTXH. Xây dựng mô hình quản lý BTXH chuẩn quốc gia dựa trên kinh nghiệm quận Thanh Xuân.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/06/2026
Quản lý hoạt động bảo trợ xã hội ở quận thanh xuân thành phố hà nội hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương, 6 tiết. 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BẢO TRỢ XÃ HỘI Ở QUẬN 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò quản lý hoạt động bảo trợ xã hội ở quận 1. Các khái niệm  Khái niệm quản lý Quản lý là một khái niệm rộng được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực.

Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người. Theo nghĩa hẹp, quản lý là hoạt động có sự sắp đặt, trông nom công việc.Taylor, quản lý “là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó biết được rằng họ đã hoàn thành công việc đó một cách tốt nhất và rẻ nhất”. Theo Henry Fayol định nghĩa quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nỗ lực của mỗi thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác nhau của tổ chức nhằm đạt mục tiêu đã định trước. Theo quan niệm của các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý hiện nay, quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng với ý chí của người quản lý.

Theo cách hiểu này thì quản lý là việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của xã hội nhằm đạt được một mục đích của người quản lý. Theo cách tiếp cận này, quản lý đã nói lên cách thức quản lý và mục đích quản lý. Như vậy, có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên các khách thể nhằm đạt được mục tiêu định trước.  Khái niệm “Bảo trợ xã hội” Thuật ngữ “bảo trợ xã hội” còn khá mới mẻ và chỉ xuất hiện gần đây 10 qua những tài liệu nghiên cứu và các thảo luận chính sách trên thế giới.

Phần lớn các tài liệu này chưa lý giải một cách toàn diện và đầy đủ khái niệm bảo trợ xã hội mà chỉ phân tích những khía cạnh cơ bản của khái niệm bảo trợ xã hội. Đặc biệt với các nước đang phát triển, thuật ngữ này mới chỉ được nhắc đến rộng rãi gần đây. Khái niệm này vẫn còn khá mơ hồ, chủ yếu là do có nhiều cách định nghĩa và cách giải thích khác nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam do tác giả Hoàng Phê làm chủ biên [50, tr.44], “bảo trợ” có nghĩa là “đỡ đầu”, “nâng đỡ”.

Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), “Bảo trợ xã hội là quyền tiếp nhận lợi ích từ chính phủ của cá nhân, hộ gia đình nhằm bảo vệ họ trước tình trạng mức sống thấp hay đang bị suy giảm, đặc biệt khi phải hứng chịu những rủi ro, nhờ đó đáp ứng được các nhu cầu cơ bản” [29, tr. Tổ chức này muốn nhấn mạnh về khía cạnh bảo hiểm và mở rộng tạo việc làm cho những đối tượng ở khu vực kinh tế không chính thức. Định nghĩa này có xu hướng nghiên cứu về mức sống và quyền con người. Cơ quan này thiên về những giả thuyết gắn với điều kiện lao động.

Theo Quỹ Nhi đồng của Liên hợp quốc (UNICEF), “bảo trợ xã hội là một tập hợp các hành động và chính sách nhằm giúp đỡ các cá nhân hay hộ gia đình giảm bớt tác động của rủi ro hay các cú sốc, đặc biệt là để bảo vệ quyền của những đối tượng dễ gặp rủi ro, dễ bị tổn thương và nghèo đói kinh niên nhất” [29, tr. Các hiểu này thể hiện hành động che chở, bảo vệ quyền của những người nghèo đói, dễ bị tổn thương, cần được giúp đỡ để giảm bớt các tác động của rủi ro. Theo Ngân hàng Thế giới (WB), “bảo trợ xã hội là một tập hợp các biện pháp nhằm cải thiện và bảo vệ vốn con người, bao gồm sự can thiệp vào thị trường lao động, chương trình bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc. Sự can thiệp của bảo vệ xã hội giúp các cá nhân, hộ gia đình, hay cộng 11 đồng quản lý một cách tốt hơn những rủi ro thu nhập khiến những đối tượng này bị tổn thương” [29, tr.

Định nghĩa này nhấn mạnh sự kiềm chế nguy cơ là cơ sở của bảo trợ xã hội. Bảo trợ xã hội vừa là mạng lưới an toàn, vừa là bàn đạp thông qua sự phát triển nguồn vốn con người. Tính dễ bị tổn thương được nhìn nhận theo những nguy cơ liên quan đến sự mất ổn định thu nhập và tiêu dùng. Theo Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), “bảo trợ xã hội là tập hợp các chính sách và các chương trình được thiết kế để giảm nghèo và sự tổn thương bằng cách thúc đẩy thị trường lao động hiệu quả, giảm sự phơi nhiễm của người dân trước các rủi ro, và nâng cao năng lực để họ có thể chống lại các mối nguy hiểm và sự gián đoạn/mất thu nhập” [29, tr.

Định nghĩa này nhấn mạnh tính dễ tổn thương nếu người dân không có bảo trợ xã hội và tác hại của thiếu bảo trợ xã hội đối với người đang gặp rủi ro về thu nhập, tập trung vào khía cạnh cải thiện thu nhập, hoàn thiện thể chế thị trường lao động và nâng cao năng lực của người dân. Viện Nghiên cứu phát triển hải ngoại (ODI) cho rằng “bảo trợ xã hội là những hành động công ích, nhằm giảm thiểu tính dễ tổn thương, nguy cơ gây sốc và sự bần cùng hoá, là những điều không thể chấp nhận được về mặt xã hội” [29, tr. Định nghĩa này nhấn mạnh tính dễ tổn thương và bần cùng hoá, do vậy bảo trợ xã hội hướng vào người nghèo hoặc những người khó khăn nhất thuộc tầng lớp không ai mong muốn nhất trong xã hội. Ở Việt Nam, thuật ngữ này cũng mới chỉ được dùng trong những năm gần đây, khi đất nước ta dần mở cửa hội nhập với thế giới.

Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội định nghĩa bảo trợ xã hội là “(i) sự hỗ trợ trực tiếp cho các hộ gia đình nghèo và dễ tổn thương, (ii) bảo hiểm xã hội và (iii) các hoạt động khác nhằm giảm tính dễ bị tổn thương gây ra bởi những nguy cơ như thất nghiệp tuổi già và khuyết tật” [26, tr.19] Định nghĩa trên chú trọng vào các cá nhân, nhóm người nghèo và bị đẩy ra ngoài lề của xã hội, ủng hộ sự định 12 hướng như một hình thức bảo trợ xã hội thích hợp và không bao gồm những nhóm khá giả trong dân chúng. Định nghĩa này cần thiết cho việc đẩy mạnh hỗ trợ xã hội cho các cải cách kinh tế hiện nay, mục tiêu hướng đến là đảm bảo cuộc sống công bằng trong xã hội đối với mọi đối tượng bảo trợ xã hội. Theo nghĩa hẹp, bảo trợ xã hội là một chính sách xã hội của nhà nước nhằm cung cấp tài chính cho cuộc sống và sinh hoạt của những người hưu trí, mất sức lao động, ốm đau, những người không có khả năng lao động, thất nghiệp, cơ nhỡ và những người hoặc hộ gia đình có công đặc biệt đối với đất nước. Bảo trợ xã hội bao gồm bảo hiểm xã hội (hưu trí, mất sức, tai nạn lao động, thất nghiệp), trợ cấp xã hội (thương binh, gia đình thương binh liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng) và cứu trợ xã hội (cơ nhỡ, thiên tai, tệ nạn xã hội) trong đó bảo hiểm xã hội là bộ phận quan trọng nhất.

Khái niệm trên chỉ nêu khía cạnh cung cấp tài chính cho một số đối tượng, nó thiên về bảo hiểm xã hội, đóng góp để được hưởng trợ cấp lúc khó khăn. Trong tất cả các định nghĩa về bảo trợ xã hội nói trên, trong định nghĩa nào cũng thể hiện tính dễ bị tổn thương và bần cùng hoá. Tuy nhiên tính dễ bị tổn thương lại được diễn đạt theo nhiều cách khác nhau. Xét về một khía cạnh nào đó, bảo trợ xã hội tương đồng với trợ giúp xã hội hay cứu trợ xã hội, là một bộ phận của an sinh xã hội.

Một số tài liệu nghiên cứu cũng cho rằng các thuật ngữ này tương tự nhau. Ở Việt Nam, trước đây tại một số văn bản pháp luật cũng như nghiên cứu thường sử dụng thuật ngữ “cứu trợ xã hội”, song những năm gần đây đã có sự thay đổi sang thuật ngữ “bảo trợ xã hội”. Nhưng thực chất, nếu hiểu theo cách đơn giản thì bảo trợ xã hội được ghép từ bảo hiểm xã hội và trợ giúp xã hội. Song do đề tài chỉ giới hạn ở hoạt động bảo trợ xã hội đối với các đối tượng bảo trợ xã hội thuộc các văn bản pháp luật như Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội và các văn bản pháp luật có liên quan nên luận văn chỉ 13 đề cập đến vấn đề trợ giúp mà không có bảo hiểm xã hội.

Luận văn sẽ nhìn nhận hoạt động bảo trợ xã hội ở góc độ là đồng nghĩa với cứu trợ xã hội hay trợ giúp xã hội. Như vậy, hiểu một cách tổng quát nhất, bảo trợ xã hội là sự đỡ đầu, giúp đỡ của Nhà nước và cộng đồng bằng các hình thức và biện pháp khác nhau dành cho các thành viên của cộng đồng khi họ gặp phải những khó khăn hay bất hạnh trong cuộc sống do những nguyên nhân khác nhau (như thiên tai, bệnh tật, rủi ro, bất hạnh.) để họ có thể vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống và có cơ hội hoà nhập tốt hơn vào cộng đồng.  Khái niệm “quản lý hoạt động bảo trợ xã hội ở quận” Theo quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, cấp quận là cấp hành chính cấp 3 của Việt Nam, là vùng nội thành của thành phố trực thuộc trung ương, có dân số và mật độ dân số cao, tính chất quản lý nhà nước về đô thị phức tạp và khó khăn, đạt tỉ lệ thu chi cân đối ngân sách hàng năm cao, là đơn vị hành chính cấp quận hoặc đô thị loại đặc biệt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ