HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯ NGUYỄN HỮU XUÂN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN NƯỚC NGỌT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2021 PHẦN 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có đường bờ biển kéo dài hơn 3200 km; và có hệ thống sông ngòi dày đặc, rất có tiềm năng cho nuôi trồng thủy sản (NTTS) nước ngọt. Gần 20 năm qua ngành thủy sản Việt Nam những phát triển một cách vượt bậc, có những đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội. Năm 2018 sản lượng NTTS cả nước đạt gần 4162 nghìn tấn tăng gần 6 lần năm 2001 chiếm 53,4% giá trị sản lượng toàn ngành thủy sản.
Giá trị sản lượng NTTS tăng bình quân gần 11%/năm (giai đoạn 2001-2018) (Tổng cục Thống kê, 2019). Ngoài việc cung cấp thực phẩm cho nhu cầu tiêu dùng trong nước, NTTS đã xuất khẩu khối lượng hàng hóa lớn, mang lại nhiều giá trị kim ngạch xuất khẩu cho đất nước. Các sản phẩm NTTS đã đáp ứng tốt nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng thế giới, đặc biệt ở các thị trường lớn có yêu cầu cao về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm như EU, Nhật Bản, Hàn Quốc (Nguyễn Kim Phúc, 2011). Những năm qua, ngành thủy sản của Hải Phòng đã có đóng góp không nhỏ cho việc thúc đẩy vào sự phát triển kinh tế xã hội nói chung, chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp nói riêng, đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và đảm bảo an ninh quốc phòng của thành phố.
Các mặt hàng thủy hải sản của Hải Phòng đã bắt đầu vươn ra chiếm lĩnh thị trường ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của thành phố Hải Phòng đạt khoảng 58 triệu USD. Tốc độ tăng trưởng trong giai đoạn 2005 - 2018 đạt khoảng 2%/năm. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra hiện nay là ngành thủy sản còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu kinh tế của thành phố.
Kết quả đóng góp trên chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của Hải Phòng (Cục Thống kê Hải Phòng, 2019). Hải Phòng có diện tích mặt nước mặt nước ao hồ nhỏ là trên 5 nghìn ha, diện tích mặt nước lớn trên 2 nghìn ha; diện tích ruộng trũng có khả năng chuyển đổi sang phát triển nuôi thủy sản nước ngọt khoảng 4 nghìn ha. Các vùng có điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nuôi thủy sản nước ngọt như: huyện Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Kiến Thụy, Thủy Nguyên, An Lão, An Dương… (Sở NN&PTNT Hải Phòng, 2019). Tuy nhiên, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhanh như hiện nay thì vai trò của quản lý nhà nước trong việc quy hoạch và quản lý quy hoạch vùng NTTS nước ngọt từ đó có các biện pháp quản lý môi trường, chất lượng sản phẩm NTTS, tránh phát triển tự phát là hết sức cần thiết.
1 Đến nay, Luật Thủy sản (2017) đã có hiệu lực, các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Thủy sản đã được triển khai. Đây là văn bản pháp luật cao nhất có liên quan đến quản lý nhà nước đối với NTTS nói chung và NTTS nước ngọt nói riêng. Tuy nhiên, việc thực hiện Luật Thủy sản ở nhiều địa phương vẫn còn một số tồn tại như vấn đề quy hoạch và quản lý quy hoạch NTTS đã được luật định hóa nhưng nhiều địa phương triển khai còn chậm, thiếu tính khả thi và quản lý quy hoạch NTTS để phát triển theo định hướng và quản lý của nhà nước còn rất nhiều hạn chế; quản lý về môi trường NTTS gần như chưa được quan tâm đúng mức; các hoạt động đầu tư công cho NTTS, hỗ trợ phát triển NTTS tập trung còn chưa được quan tâm đúng mức (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2019). Tính đến hết năm 2019, Hải Phòng có hơn 1000ha đất mặt nước được người dân chuyển đổi sang NTTS nước ngọt ngoài quy hoạch; nhiều hộ NTTS chưa tự giác chấp hành lịch thời vụ, chưa thực hiện nghiêm túc quy hoạch NTTS; một số cơ sở hạ tầng vùng nuôi chưa đảm bảo; một số cơ sở kinh doanh thức ăn, thuốc thú y trong thủy sản chưa đạt chất lượng như công bố (Sở Nông nghiệp và PTNT Hải Phòng, 2019).
Cùng với đó, việc triển khai thực hiện Luật Thủy sản trên địa bàn thành phố còn chậm; các hoạt động quản lý nhà nước về con giống mới chỉ tập trung vào các cơ sở sản xuất, kinh doanh giống thủy sản có đăng ký; việc quản lý vật tư đầu vào cho NTTS nước ngọt chưa được quan tâm đúng mức (tỷ lệ các cơ sở kinh doanh thức ăn, thuốc thủy sản được thanh tra, kiểm tra còn rất ít (khoảng 15%)), tỷ lệ các cơ sở vi phạm còn khá cao; quản lý môi trường NTTS còn chưa được quan tâm đúng mức; việc thực hiện xây dựng các vùng NTTS chuyên canh tập trung quy mô lớn, NTTS theo các quy trình an toàn thực phẩm, an toàn dịch bệnh; xây dựng các kênh tiêu thụ, chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản nước ngọt còn hạn chế; chưa có quy định về chính sách hỗ trợ rủi ro trong NTTS; việc phân cấp quản lý nhà nước về NTTS nước ngọt chưa được thực hiện đồng bộ và chồng chéo,… Câu hỏi đặt ra là hoạt động quản lý nhà nước đối với NTTS nước ngọt ở Hải Phòng đang diễn ra như thế nào? Có những tồn tại, khó khăn, vướng mắc trong quản lý nhà nước đối với NTTS nước ngọt? Yếu tố nào ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về NTTS ở Hải Phòng? Cần có những giải pháp nào để tăng cường quản lý nhà nước đối với NTTS nước ngọt ở Hải Phòng trong thời gian tới? Từ trước tới nay chưa có nhiều nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với NTTS nước ngọt. Các nghiên cứu mới chỉ tập trung và một số vấn đề như “Nâng cao chất lượng tăng trưởng ngành thủy sản Việt Nam” của Nguyễn Kim Phúc (2011); hay như Trần Quốc Toản (2018) với đề tài “Phát triển nuôi trồng thủy sản 2 theo tiêu chuẩn VIETGAP vùng ven biển tỉnh Nam Định”; Nguyễn Văn Hiếu (2014) với đề tài “Phát triển bền vững ngành chế biến thủy sản tỉnh Bến Tre”; Phạm Thị Ngọc (2017) với đề tài “Phát triển nuôi trồng thủy sản vùng ven biển tỉnh Thanh Hóa”; Đoàn Thị Nhiệm (2018) với nghiên cứu “Phát triển nuôi trồng thủy sản tỉnh Phú Yên”; Nguyễn Hữu Thọ (2016) với đề tài “Nghiên cứu hoàn thiện chính sách khuyến ngư nhằm phát triển nuôi trồng thủy sản vùng ven biển Bắc Bộ”; Nguyễn Xuân Trịnh (2018) với nghiên cứu “Nghiên cứu phân vùng sinh thái nuôi trồng thủy sản đồng bằng sông Cửu Long trong điều kiện biến đổi khí hậu”; Nguyễn Thành Long (2012) với nghiên cứu “Nghiên cứu các giải pháp quản lý hoạt động nuôi trồng và khai thác ven biển tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, đa phần các nghiên cứu chỉ tập trung vào nghiên cứu về phát triển NTTS, hoặc một số khía cạnh của NTTS như (khuyến ngư, hỗ trợ chế biến, xuất khẩu, hoặc là quản lý môi trường, dịch bệnh, rủi ro,… chưa thấy có tác giả nào nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với NTTS nước ngọt trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Để ngành NTTS nước ngọt của Hải Phòng phát triển bền vững trong thời gian tới như chủ trương, chính sách và quy hoạch phát triển ngành thủy sản của thành phố thì Hải Phòng cần có những giải pháp đột phá để tăng cường quản lý nhà nước về NTTS.
Nghiên cứu quản lý nhà nước về NTTS nước ngọt là rất cần thiết, từ đó có thể đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về NTTS nước ngọt trên địa bàn thành phố Hải Phòng để làm tiền đề cho phát triển bền vững NTTS nước ngọt trong thời gian tới. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mục tiêu chung Trên cơ sở đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về NTTS nước ngọt tại thành phố Hải Phòng, từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về NTTS nước ngọt trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với nuôi trồng thủy sản nước ngọt.
- Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về nuôi trồng thủy sản nước ngọt tại Hải Phòng. - Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về nuôi trồng thủy sản nước ngọt tại Hải Phòng. 3 - Đề xuất định hướng và các giải pháp chủ yếu để tăng cường quản lý nhà nước về NTTS nước ngọt trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong thời gian tới. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1.
Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý nhà nước về NTTS nước ngọt với các đối tượng khảo sát gồm: (i) Chủ thể quản lý là hệ thống các cơ quan tham gia quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương gồm (UBND thành phố, cấp quận, huyện, cấp xã, phường); Cơ quan chuyên môn (Sở NN&PTNT, Phòng Kỹ thuật, Chi cục Thủy sản, Chi cục Thú ý, Phòng NN&PTNT hoặc Phòng Kinh tế); (ii) Đối tượng quản lý là các Trung tâm, các Trại sản xuất giống thủy sản nước ngọt, các thương lái và các hộ, người NTTS nước ngọt trên địa bàn thành phố, các đại lý kinh doanh thức ăn thủy sản và thuốc thủy sản; (iii) Các cơ chế, chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác quản lý nhà nước về NTTS nước ngọt. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động về nuôi trồng thủy sản nước ngọt (chỉ tập trung vào hoạt động nuôi cá nước ngọt) trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Quản lý nhà nước về các nuôi trồng thủy sản trên địa bàn thành phố Hải Phòng đối với tác nhân từ nhà cung cấp thức ăn, con giống, thuốc thú y, hộ nông dân nuôi trồng và các tác nhân thương lái, đại lý tiêu thụ sản phẩm. - Phạm vi về không gian: Đề tài được thực hiện trên địa bàn thành phố Hải Phòng - Phạm vi về thời gian: Số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2010 – 2019; đặc biệt tập trung nhiều vào giai đoạn 2015 – 2019.
Số liệu sơ cấp dựa trên kết quả khảo sát các đối tượng thực hiện quản lý và đối tượng chịu sự quản lý được thu thập trong năm 2018 và 2019. Các kết quả giải pháp đóng góp cho công tác quản lý nhà nước về nuôi trồng thủy sản nước ngọt trong giai đoạn 2020 - 2025 và tầm nhìn 2030.