Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số 62 22 03 13) với đề tài "Lực lượng vũ trang giáo phái ở Nam Bộ (1945 – 1957)" do nghiên cứu sinh Phạm Văn Phương thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2021), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Hồ Sơn Đài.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Nam Bộ là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng trong các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc. Trong giai đoạn 1945 – 1954, nơi đây là trọng điểm bình định của thực dân Pháp; sau Hiệp định Genève năm 1954, Nam Bộ trở thành địa bàn đế quốc Mỹ triển khai các chiến lược quân sự nhằm ngăn chặn phong trào cách mạng. Do sự chi phối của các yếu tố tự nhiên, xã hội và địa lý quân sự, phong trào kháng chiến tại Nam Bộ mang nhiều sắc thái đặc thù, nổi bật là sự xuất hiện và can dự của các lực lượng vũ trang (LLVT) có thành phần, tổ chức và khuynh hướng chính trị phức tạp. Trong đó, LLVT giáo phái trở thành đối tượng tranh thủ, lôi kéo và phân hóa gắt gao giữa một bên là Đảng Cộng sản Đông Dương (sau là Đảng Lao động Việt Nam) với chính sách đoàn kết toàn dân tộc, và một bên là thực dân Pháp, chính quyền Quốc gia Việt Nam, đế quốc Mỹ cùng chính quyền Ngô Đình Diệm với âm mưu "dùng người Việt đánh người Việt".

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Các công trình lịch sử chiến tranh trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề ở góc độ khái quát toàn cục hoặc mang tính phản ánh cục bộ theo địa bàn, chưa đi sâu phục dựng một cách toàn diện, liên tục về nguồn gốc, cơ cấu tổ chức, quá trình hoạt động, phân hóa và tan rã của LLVT giáo phái. Một số công trình của tác giả nước ngoài hoặc xuất bản ở miền Nam trước năm 1975 còn tồn tại những nhận định chủ quan, chưa thỏa đáng về mối quan hệ giữa lực lượng kháng chiến với LLVT giáo phái cũng như động cơ hợp tác với Pháp. Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống đối tượng này là yêu cầu cấp thiết của khoa học lịch sử.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Phục dựng bức tranh toàn diện về LLVT giáo phái ở Nam Bộ (gồm Cao Đài Tây Ninh, Phật giáo Hòa Hảo, Thiên Chúa giáo và Bình Xuyên) trên các mặt tổ chức, hoạt động, tác động; qua đó làm rõ tính đặc thù trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm tại chiến trường Nam Bộ.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận án tập trung giải quyết 4 nhiệm vụ cụ thể được đánh số theo văn bản:
    1. Thứ nhất: Phân tích đặc điểm địa lý, bối cảnh lịch sử ở Nam Bộ dẫn đến sự ra đời và hoạt động của LLVT giáo phái trước và sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
    2. Thứ hai: Làm rõ cơ cấu tổ chức, hoạt động, tác động của LLVT giáo phái trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
    3. Thứ ba: Phân tích âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, chính quyền Ngô Đình Diệm trong việc lôi kéo các giáo phái chống lại kháng chiến; sự phân hóa của LLVT giáo phái trong tiến trình lịch sử.
    4. Thứ tư: Tìm hiểu chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Đông Dương (Đảng Lao động Việt Nam) về đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc, xây dựng LLVT giai đoạn đầu của hai cuộc kháng chiến và quá trình vận dụng, chuyển hóa một bộ phận LLVT giáo phái tham gia kháng chiến.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Bốn nhóm LLVT giáo phái tại Nam Bộ:
    • LLVT Cao Đài Tây Ninh: Gắn với chi phái Cao Đài Tây Ninh (chi phái duy nhất duy trì lực lượng quân sự quy củ, riêng biệt).
    • LLVT Hòa Hảo: Thành lập theo chỉ thị của Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ từ trước năm 1945, sau năm 1947 phân hóa thành nhiều nhóm quân phiệt cát cứ dưới quyền Trần Văn Soái, Lê Quang Vinh, Nguyễn Giác Ngộ, Lâm Thành Nguyên.
    • LLVT Thiên Chúa giáo (UMDC - Unités Mobiles de Défense des Chrétientés): Đơn vị tự vệ lưu động do sĩ quan Pháp gốc Việt Jean Leroy thành lập và chỉ huy tại Bến Tre (1947 – 1953).
    • LLVT Bình Xuyên: Lực lượng hình thành từ các nhóm giang hồ phía Nam Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định do Dương Văn Dương thống nhất năm 1945, sau đó bị Lê Văn Viễn (Bảy Viễn) chi phối và ly khai theo Pháp. Mặc dù Bình Xuyên không mang yếu tố tôn giáo, nhưng được đưa vào đối tượng nghiên cứu vì trong thực tế chiến tranh, các chính quyền Pháp, Mỹ, Quốc gia Việt Nam, Việt Nam Cộng hòa đều xếp Bình Xuyên vào nhóm LLVT giáo phái (thuộc lực lượng bổ túc/phụ lực quân), cùng liên kết trong Mặt trận Thống nhất Toàn lực Quốc gia (tháng 3-1955).
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1945 (thời điểm các nhóm vũ trang giáo phái chính thức hình thành tổ chức, biên chế, phiên hiệu quân sự) đến năm 1957 (thời điểm các tổ chức LLVT giáo phái cơ bản bị giải thể, sáp nhập vào Quân lực Việt Nam Cộng hòa hoặc chuyển hóa thành các đơn vị vũ trang cách mạng; Xứ ủy Nam Bộ chỉ đạo chấm dứt việc dùng danh nghĩa giáo phái).
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn Nam Bộ (kéo dài từ Tây Ninh, Đồng Nai đến mũi Cà Mau).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và điểm luận có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai nhóm chính:

Nhóm 1: Các công trình về lịch sử Nam Bộ kháng chiến có đề cập đến LLVT giáo phái

  • Công trình trong nước:
    • Lê Văn Dương và cộng sự (1972), "Quân lực Việt Nam cộng hòa trong giai đoạn hình thành (1946-1955)" do Phòng 5 Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Sài Gòn biên soạn, phản ánh cơ cấu tổ chức, quân số các đơn vị phụ lực quân giáo phái và các chiến dịch tiêu diệt Bình Xuyên, Hòa Hảo giai đoạn 1955 – 1956.
    • Trần Hải Phụng, Lưu Phương Thanh (chủ biên, 1994), "Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)" cung cấp dữ liệu về nguồn gốc LLVT Bình Xuyên thống nhất và công tác Cao Đài vận tại Quân khu 7.
    • Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 (1996), "Quân khu 9 – Ba mươi năm kháng chiến (1945 – 1975)" và "Quân khu 8 – Ba mươi năm kháng chiến (1945 – 1975)" phản ánh quá trình xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, công tác tôn giáo vận và chuyển biến lực lượng tại miền Tây và miền Trung Nam Bộ.
    • Ban Chỉ đạo và Ban Biên tập Truyền thống Tây Nam Bộ (2000), "Tây Nam Bộ 30 năm kháng chiến (1945-1975)" tập hợp nhiều bài nghiên cứu chuyên sâu về LLVT tập trung giai đoạn 1945 – 1946 và quá trình chuyển hóa LLVT Bình Xuyên sau năm 1954.
    • Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 (2011), "Lịch sử miền Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ kháng chiến (1945-1975)" và Hồ Sơn Đài (2015), "Chiến tranh nhân dân chống thực dân Pháp xâm lược ở miền Đông Nam Bộ" phân tích sâu về hoạt động của Cao Đài và công tác Cao Đài vận các năm 1947, 1952, 1953.
    • Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến (2012), "Lịch sử Nam Bộ kháng chiến" (4 tập) do đồng chí Võ Văn Kiệt làm Chủ tịch Hội đồng Chỉ đạo, Trần Bạch Đằng làm chủ biên, cung cấp tư liệu toàn diện về đường lối đoàn kết dân tộc, chính sách tôn giáo vận và binh vận qua từng thời kỳ.
    • Các công trình lịch sử Đảng bộ địa phương: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Long An (2005), Đảng ủy - Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đồng Tháp (1998), Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bến Tre (2003), Nguyễn Duy Quí (2010), Nguyễn Minh Đường (1997).
  • Công trình nước ngoài:
    • Phillippe Devillers (1952), "Histoire du Viêt Nam (de 1940 à 1952)" và (1993) "Pari – Sài Gòn – Hà Nội" khai thác kho lưu trữ của Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng Pháp, làm rõ chính sách "dùng người Việt đánh người Việt" và việc sử dụng con bài Bảo Đại.
    • A. Savani (Phòng Nhì Pháp), ghi chép khái quát về cơ cấu quân sự của Cao Đài, Hòa Hảo, UMDC và Bình Xuyên.
    • McCoy, khảo cứu về mối quan hệ giữa mạng lưới buôn bán thuốc phiện của Bình Xuyên ly khai với các tổ chức tình báo Pháp, CIA và giới chính trị Sài Gòn.
    • Edward Geary Lansdale (1991), "In the Midst of Wars" mô tả hoạt động của phái bộ tình báo Mỹ trong việc hỗ trợ Ngô Đình Diệm dẹp bỏ và mua chuộc các giáo phái năm 1955.
    • Kolotov (1999), "Nam Việt Nam 1945 – 1955, Vai trò các giáo phái trong hệ thống an ninh tập thể" phân tích vai trò của LLVT giáo phái nhưng có những nhận định chưa chuẩn xác khi xem sự ra đời của Cao Đài, Hòa Hảo là âm mưu của Pháp.
    • Elliott (2006), J. Chapman, Miller, và tài liệu Minority groups in the Republic of Vietnam của Bộ Lục quân Mỹ (1966).

Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu chuyên biệt về giáo phái và LLVT giáo phái

  • Về Cao Đài: Đào Trinh Nhất (1929) với "Cái án Cao Đài"; Lê Thành Dân (1962) với "Lược sử Quân đội Cao Đài tự vệ"; Đồng Tân (1968, 1972); Trần Văn Rạng (1970, 1974); Trần Văn Giàu (1993); Đặng Nghiêm Vạn (1995); Phan Trung Nghĩa (2013); Cơ quan Phổ thông Giáo lý Đại Đạo (2005, 2008); Nguyễn Thanh Xuân (2015); Gabriel Gobron; Nhị Lang (1985) viết về lực lượng Cao Đài Liên Minh của Trình Minh Thế; Werner (1981).
  • Về Hòa Hảo: Nguyễn Hoàng Sa (2000); Bùi Thị Thu Hà (2002); Lâm Quang Láng (2007) với luận án tiến sĩ hệ thống hóa toàn diện về Đội Bảo an và các tổ chức quân sự Hòa Hảo; Hue-Tam Ho Tai (1983); Nguyễn Long Thành Nam (1991); Nguyễn Hiếu Liêm (1995); Vương Kim.
  • Về Thiên Chúa giáo (UMDC): Quang Toản – Nguyễn Hoài (1965); Lê Tiền Giang (1980); Lịch sử Đảng bộ huyện Bình Đại (2015); Ủy ban Nhân dân huyện Bình Đại (1987) với "Bình Đại địa chí"; Lê Minh Đào (1998) "Trên thế trận đồng bằng"; Hồi ký của Jean Leroy (1977, bản dịch của Hồ Văn Ẩn năm 2016).
  • Về Bình Xuyên: Hồ Sơn Đài, Hồ Khang, Đỗ Tầm Chương (1991, 2005) với công trình "Bộ đội Bình Xuyên"; Nguyên Hùng với các tiểu thuyết tư liệu lịch sử; bài nghiên cứu của Hồ Sơn Đài (2015) trên Tạp chí Lịch sử Quân sự.
  • Về tổng thể LLVT giáo phái: Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Ánh Xuân (2007) "Lực lượng vũ trang giáo phái ở miền Nam Việt Nam thời kỳ (1954-1960)" (chỉ tập trung giai đoạn sau 1954).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án giải quyết khoảng trống về một công trình lịch sử chuyên khảo toàn diện, xuyên suốt tiến trình từ năm 1945 đến năm 1957 cho cả 4 lực lượng; đi sâu làm rõ những mảng tư liệu ít được khai thác như LLVT Thiên Chúa giáo (UMDC), quá trình ly khai của Trình Minh Thế, sự phân hóa nội bộ của các nhóm quân sự Hòa Hảo, Bình Xuyên và chủ trương giáo phái vận của Đảng.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Luận án xây dựng trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Đông Dương (Đảng Lao động Việt Nam). Nghiên cứu sinh vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích quá trình vận động (ra đời, phát triển, phân hóa, tan rã) của LLVT giáo phái đặt trong mối quan hệ đa chiều giữa các bên tham chiến tại Nam Bộ.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện trung thực, cụ thể quá trình hình thành, biến đổi tổ chức và hoạt động của các nhóm LLVT giáo phái theo trình tự thời gian và không gian lịch sử; làm rõ thái độ chính trị và sự chuyển biến của từng lực lượng qua từng thời kỳ (1945 – 1946, 1947 – 1954, 1954 – 1957).
  • Phương pháp logic: Khái quát hóa quy luật vận động, làm rõ bản chất, đặc điểm, vị trí và tác động của LLVT giáo phái đối với cục diện chiến trường; phân tích nguyên nhân dẫn đến sự tan rã và phân hóa tất yếu.
  • Phương pháp phê bình sử liệu: Phân tích, so sánh, đối chiếu nguồn tư liệu lưu trữ của cách mạng với tài liệu của Pháp, Mỹ, chính quyền Sài Gòn, các bản hồi ký nhân chứng và các công trình nghiên cứu đối lập nhằm thẩm định độ xác thực và khắc phục tính chủ quan.
  • Phương pháp hỗ trợ: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh lịch sử.

Nguồn tư liệu

  • Văn bản, nghị quyết, báo cáo, chỉ thị của Đảng, chính quyền và các cơ quan quân sự lưu trữ tại Phòng Khoa học Quân sự Quân khu 7, Quân khu 9, Phòng Lý luận Chính trị – Lịch sử Đảng các tỉnh Nam Bộ.
  • Tài liệu lưu trữ của Pháp, Mỹ và chính quyền Sài Gòn tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TP. Hồ Chí Minh), Thư viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ, Thư viện Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh.
  • Tài liệu giải mật của Chính phủ Mỹ khai thác qua cổng thông tin của Bộ Ngoại giao (Department of State), Cục Tình báo Trung ương (CIA), Trung tâm Lưu trữ Quốc gia (National Archives), Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân (JCS), Trung tâm Lịch sử Quân sự Lục quân Mỹ.
  • Các văn kiện Đảng, sách chuyên khảo, luận văn, luận án, tạp chí khoa học chuyên ngành.
  • Hồi ký của các nhân chứng lịch sử và tài liệu điền dã, khảo sát địa phương.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này phân tích thành tựu và hạn chế của các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến lịch sử kháng chiến Nam Bộ và LLVT giáo phái. Tác giả xác lập hệ thống tiêu chí phân loại tư liệu, chỉ ra những khoảng trống về mặt khoa học, từ đó xác định 4 vấn đề cốt lõi mà luận án cần tập trung giải quyết: nguồn gốc hình thành thực sự, cơ cấu tổ chức và quá trình phân hóa, bản chất tác động quân sự - chính trị, và đường lối chuyển hóa giáo phái vận của Đảng.

Chương 2: Bối cảnh và sự ra đời lực lượng vũ trang giáo phái ở Nam Bộ trước năm 1945

  • Đặc điểm địa lý, tự nhiên và dân cư: Nam Bộ là vùng đồng bằng phù sa màu mỡ xen lẫn địa hình rừng núi (Bà Đen, Chứa Chan, Bà Rá, Bảy Núi) thuận lợi lập căn cứ địa (Chiến khu D, Dương Minh Châu); hệ thống rừng ngập mặn và sông rạch chằng chịt tại Đồng Tháp Mười, Rừng Sác là nơi ẩn náu của các nhóm giang hồ. Dân số đầu kháng chiến khoảng 5 triệu người, gồm người Việt (chủ yếu từ di dân Ngũ Quảng), người Khmer (khoảng 270.000 người), người Hoa (khoảng 650.000 người) và các dân tộc bản địa (Stiêng, Châu Mạ, Chơ Ro khoảng 75.000 người).
  • Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội: Nam Bộ chịu quy chế trực trị thuộc địa của Pháp, chia thành 20 tỉnh và 3 thành phố. Nông nghiệp mang tính chất phát canh thu tô nặng nề; khoảng 80% đất canh tác nằm trong tay đại địa chủ, tá điền bị bóc lột địa tô từ 30% đến 80% sản lượng và chịu lãi suất vay nặng lãi lên đến 200%/năm. Sự phân hóa xã hội sâu sắc làm nảy sinh tầng lớp dân nghèo lang bạt, giang hồ thảo trảng ven đô thị Sài Gòn – Chợ Lớn.
  • Sự bế tắc tư tưởng và tiền đề xuất hiện tôn giáo mới: Sau thất bại của các phong trào yêu nước (Trương Định, Nguyễn Trung Trực, phong trào Hội kín, Duy Tân, Đông Du, các đảng phái tiểu tư sản), trong khi Nho giáo lỗi thời, Phật giáo truyền thống suy thoái và Thiên Chúa giáo bị nghi kỵ do gắn với chính quyền thực dân, xã hội Nam Bộ xuất hiện khoảng trống tâm linh lớn. Đạo Cao Đài (khai đạo năm 1926) và Phật giáo Hòa Hảo (ra đời năm 1939) nhanh chóng phát triển, thu hút hàng triệu tín đồ nông dân.
  • Sự hình thành các tổ chức bán vũ trang tiền thân:
    • Nội ứng Nghĩa binh (Cao Đài): Hình thành từ sự liên kết giữa Trần Quang Vinh với quân đội Nhật Bản sau khi Hộ pháp Phạm Công Tắc bị Pháp bắt lưu đày sang Madagascar (1941). Đến thời điểm kháng chiến bùng nổ, tín đồ Cao Đài có trên 1 triệu người (chiếm khoảng 20% dân số Nam Bộ).
    • Đội Bảo an (Hòa Hảo): Do Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ thành lập nhằm bảo vệ cơ sở đạo, sau phát triển thành Đệ tứ sư đoàn.
    • Lực lượng tiền thân Thiên Chúa giáo: Chuẩn bị các tiền đề tổ chức gắn liền với địa bàn tỉnh Bến Tre và vai trò của Jean Leroy.
    • Các nhóm vũ trang tiền thân Bình Xuyên: Tụ họp từ các băng nhóm giang hồ khu vực cù lao Chánh Hưng, Nhà Bè, Thủ Thiêm, Cần Giuộc dưới sự quy tụ của Dương Văn Dương.
+-------------------------------------------------------------------------------------------------------+
|                       BẢNG KHÁI QUÁT 4 NHÓM LỰC LƯỢNG VŨ TRANG GIÁO PHÁI                              |
+---------------------+-----------------------+-----------------------------+---------------------------+
| Tên lực lượng       | Tiền thân / Chỉ huy   | Địa bàn hoạt động chính     | Thời gian tồn tại và      |
|                     | tiêu biểu             |                             | tính chất quân sự         |
+---------------------+-----------------------+-----------------------------+---------------------------+
| Cao Đài Tây Ninh    | Nội ứng Nghĩa binh /  | Tây Ninh, Gia Định, Thủ Dầu | 1945 – 1956; tổ chức quy  |
|                     | Phạm Công Tắc,        | Một, Chợ Lớn, Tân An,       | củ, phân hóa thành nhóm   |
|                     | Trần Quang Vinh       | Bến Tre                     | hợp tác Pháp và Liên Minh |
+---------------------+-----------------------+-----------------------------+---------------------------+
| Phật giáo Hòa Hảo   | Đội Bảo an / Huỳnh    | An Giang, Châu Đốc, Cần Thơ,| 1945 – 1956; chia rẽ theo |
|                     | Phú Sổ, Trần Văn Soái,| Rạch Giá, Long Xuyên, Sa Đéc| dạng lãnh chúa quân phiệt,|
|                     | Lê Quang Vinh         |                             | lập chiến khu cát cứ      |
+---------------------+-----------------------+-----------------------------+---------------------------+
| Thiên Chúa giáo     | Đơn vị tự vệ giáo phái| Bến Tre (Bình Đại, Ba Tri,  | 1947 – 1953; đơn vị bổ túc|
| (UMDC)              | / Jean Leroy          | Mỏ Cày) và vùng phụ cận     | cơ động trực thuộc chỉ huy|
|                     |                       | Tiền Giang                  | của quân đội viễn chinh   |
+---------------------+-----------------------+-----------------------------+---------------------------+
| Bình Xuyên          | Giang hồ Sài Gòn ven  | Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, | 1945 – 1955; quân số đông,|
|                     | đô / Dương Văn Dương, | Rừng Sác, Bà Rịa            | kiểm soát sòng bạc, phân  |
|                     | Lê Văn Viễn (Bảy Viễn)|                             | hóa thành ly khai và CM   |
+---------------------+-----------------------+-----------------------------+---------------------------+

Chương 3: Lực lượng vũ trang giáo phái trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954)

  • Giai đoạn 1945 – 1946: Sau ngày 23-9-1945, các nhóm LLVT giáo phái cùng tham gia mặt trận chống Pháp xâm lược bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ. Tuy nhiên, tính chất phức tạp về lập trường chính trị và sự tranh chấp quyền lực bắt đầu bộc lộ.
  • Giai đoạn 1947 – 1954: Thực dân Pháp đẩy mạnh chiến lược bình định, triệt để khai thác mâu thuẫn nội bộ và mua chuộc các chỉ huy quân sự giáo phái:
    • Pháp ký các hiệp ước quân sự riêng rẽ, công nhận quy chế phụ lực quân (Forces supplétives), cấp vũ khí, trả lương và giao vùng kiểm soát cho các đơn vị quân sự Cao Đài Tây Ninh, các phe phái Hòa Hảo, UMDC của Jean Leroy và Bình Xuyên ly khai của Bảy Viễn.
    • LLVT giáo phái trở thành công cụ kìm kẹp phong trào cách mạng, đóng đồn bốt, lập "vùng trắng", kiểm soát dân cư và bảo vệ các trục lộ giao thông.
    • Phân hóa nội bộ sâu sắc: Một bộ phận chức sắc, chỉ huy tiến bộ và binh lính yêu nước kiên định đi theo Việt Minh (như Cao Triều Phát thuộc Cao Đài 12 phái hiệp nhất, các nhóm bộ đội Bình Xuyên trung kiên); xuất hiện các lực lượng thứ ba chống cả Pháp lẫn Việt Minh như nhóm Cao Đài Liên Minh của Trình Minh Thế (tách ra từ tháng 6-1951).

Chương 4: Lực lượng vũ trang giáo phái ở Nam Bộ sau Hiệp định Genève (1954 – 1957)

  • Bối cảnh sau tháng 7-1954: Quân đội cách mạng tập kết ra Bắc theo Hiệp định Genève. Đế quốc Mỹ nhảy vào thay chân Pháp, dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm. Nhằm thiết lập chế độ độc tài gia đình trị, Ngô Đình Diệm ráo riết thi hành chính sách tiêu diệt và sáp nhập các LLVT giáo phái.
  • Sự thành lập Mặt trận Thống nhất Toàn lực Quốc gia (3-1955): Các thủ lĩnh Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên liên kết thành lập mặt trận chung nhằm gây sức ép chính trị và quân sự với Ngô Đình Diệm nhưng nhanh chóng bị phân hóa do chia rẽ quyền lợi và các đòn hối lộ, chia rẽ của mật vụ Mỹ (Lansdale).
  • Quá trình tan rã của LLVT giáo phái: Chính quyền Diệm mở các chiến dịch quân sự quy mô lớn (chiến dịch Đinh Tiên Hoàng, Hoàng Diệu, Trương Tấn Bửu...) đè bẹp Bình Xuyên tại Rừng Sác, bắt sống và hành quyết Lê Quang Vinh (Ba Cụt), truy quét tàn quân Hòa Hảo và ép buộc tướng lĩnh Cao Đài giải giáp hoặc quy phục.
  • Chủ trương giáo phái vận và sự chuyển hóa thành lực lượng cách mạng: Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam thực hiện chủ trương tranh thủ, vận động tàn quân giáo phái bị Diệm truy bức. Cách mạng đã khéo léo cảm hóa, đưa các nhóm vũ trang giáo phái ly khai trở lại liên minh, thành lập các đơn vị mang danh nghĩa giáo phái yêu nước bám trụ căn cứ miền Đông và Tây Nam Bộ, tạo tiền đề xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng trong giai đoạn đầu kháng chiến chống Mỹ cho đến khi chính thức giải thể phiên hiệu giáo phái vào năm 1957.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác lập 4 đóng góp khoa học mới cơ bản được trình bày cụ thể trong công trình:

  1. Khai thác và công bố hệ thống tư liệu mới: Tác giả đã sưu tầm, tập hợp một khối lượng lớn tư liệu phong phú từ các trung tâm lưu trữ trong nước (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, các kho lưu trữ quân sự Quân khu 7, Quân khu 9), kết hợp nguồn tài liệu giải mật của Bộ Ngoại giao, CIA, Bộ Quốc phòng Mỹ và các tài liệu tiếng Pháp, cung cấp căn cứ sử liệu xác thực để tái hiện toàn diện diện mạo LLVT giáo phái.
  2. Làm rõ lịch sử hình thành, phân hóa và tác động quân sự: Phân tích một cách khách quan, hệ thống về nguồn gốc, quy mô, cơ cấu tổ chức và quá trình phân hóa chính trị phức tạp của các tổ chức vũ trang giáo phái trong mối tương quan với các chiến lược chiến tranh của Pháp, Mỹ và chính quyền Sài Gòn.
  3. Bổ sung những khoảng trống lịch sử chuyên biệt: Trình bày chi tiết, hệ thống về những lực lượng và sự kiện ít được đề cập trong các nghiên cứu trước đây: tổ chức và hoạt động của LLVT Thiên Chúa giáo (UMDC) tại Bến Tre; phong trào Cao Đài Liên Minh của Trình Minh Thế; sự phân rã của các nhóm chỉ huy quân phiệt Hòa Hảo; đặc biệt là đường lối, phương châm và kết quả của công tác "giáo phái vận" do Đảng lãnh đạo.
  4. Cung cấp cơ sở khoa học và bài học lịch sử: Đóng góp nguồn tư liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy lịch sử quân sự, lịch sử kháng chiến Nam Bộ; đồng thời đúc kết các bài học lịch sử về công tác vận động quần chúng tín đồ tôn giáo, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi không gian trong địa bàn Nam Bộ, không đi sâu khảo sát lực lượng tự vệ Thiên Chúa giáo ở miền Bắc (Phát Diệm, Bùi Chu) hay các chi phái Cao Đài tại miền Trung; khung thời gian nghiên cứu kết thúc ở mốc năm 1957 khi LLVT giáo phái chấm dứt vai trò tổ chức chính thức. Một số nguồn tư liệu hồi ký cá nhân còn tản mát và chứa đựng yếu tố thiên lệch cần tiếp tục được đối chứng khi tiếp cận các phông lưu trữ quốc tế mới.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh về phong trào vũ trang mang màu sắc tôn giáo tại các vùng miền khác nhau trên lãnh thổ Việt Nam; khảo sát sâu hơn về tâm lý xã hội và biến đổi đời sống của tầng lớp tín đồ nông dân Nam Bộ sau khi các LLVT giáo phái tan rã trong giai đoạn 1957 – 1975.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên các chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Nghệ thuật Quân sự, Tôn giáo học và Xã hội học lịch sử. Đồng thời, luận án cung cấp luận cứ thực tiễn cho các nhà hoạch định chính sách thuộc cơ quan dân vận, mặt trận và quản lý nhà nước về công tác tôn giáo, dân tộc.
  • Các nội dung nổi bật phục vụ tra cứu: Phần tổng quan tình hình nghiên cứu với danh mục tư liệu giải mật đa dạng; hệ thống phân tích cơ cấu tổ chức, phiên hiệu phụ lực quân của 4 nhóm vũ trang giáo phái; phân tích kinh nghiệm và phương thức triển khai công tác giáo phái vận của Đảng bộ miền Nam giai đoạn 1945 – 1957.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao lực lượng vũ trang Bình Xuyên không mang yếu tố tôn giáo nhưng vẫn được xếp vào nhóm "lực lượng vũ trang giáo phái" trong luận án?

Theo luận giải của tác giả, trong thực tế chiến tranh tại Nam Bộ giai đoạn 1945 – 1957, thuật ngữ "lực lượng vũ trang giáo phái" được chính quyền thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, chính phủ Quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa sử dụng chung để chỉ cả 4 nhóm vũ trang (Cao Đài, Hòa Hảo, Thiên Chúa giáo và Bình Xuyên). Khi thi hành chính sách bình định, Pháp xếp cả 4 nhóm vào lực lượng bổ túc, được trang bị vũ khí, trả lương theo quy chế phụ lực quân. Trong các diễn biến chính trị sau năm 1954, các chỉ huy Bình Xuyên đã cùng Cao Đài, Hòa Hảo thành lập Mặt trận Thống nhất Toàn lực Quốc gia (3-1955) để thương lượng và đối đầu với Ngô Đình Diệm, do đó chính quyền Sài Gòn và Mỹ luôn xử lý vấn đề Bình Xuyên gắn liền với vấn đề giáo phái.

2. Căn cứ khoa học nào xác định khung thời gian nghiên cứu từ năm 1945 đến năm 1957?

Mốc năm 1945 được chọn vì trước năm 1945, các nhóm vũ trang mới chỉ tồn tại ở dạng bán vũ trang tự phát, nhưng từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các nhóm vũ trang giáo phái mới chính thức có cơ cấu tổ chức, biên chế, phiên hiệu và bộ máy chỉ huy hoàn chỉnh. Mốc năm 1957 được chọn kết thúc vì đến thời điểm này, các LLVT giáo phái về cơ bản đã tan rã, bị sáp nhập vào quân đội Sài Gòn hoặc được cách mạng chuyển hóa hoàn toàn; đồng thời Xứ ủy Nam Bộ chỉ đạo các đơn vị vũ trang cách mạng không còn sử dụng danh nghĩa giáo phái để hoạt động.

3. Lực lượng vũ trang Thiên Chúa giáo (UMDC) có đặc điểm và vai trò gì tại chiến trường Nam Bộ?

UMDC (Unités Mobiles de Défense des Chrétientés) là lực lượng có thời gian tồn tại ngắn nhất (1947 – 1953), do sĩ quan Pháp gốc Việt Jean Leroy thành lập và chỉ huy, đặt căn cứ chính tại huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Lực lượng này được trang bị vũ khí hiện đại, hoạt động cơ động, giữ vai trò xung kích trong kế hoạch bình định Bến Tre và vùng lân cận của quân viễn chinh Pháp, thực hiện kìm kẹp phong trào cách mạng địa phương trước khi bị giải thể vào năm 1953.

4. Quá trình phân hóa của lực lượng vũ trang Hòa Hảo diễn ra như thế nào sau năm 1947?

Sau khi Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ mất tích (tháng 4-1947), LLVT Hòa Hảo mất đi trung tâm chỉ huy thống nhất, nhanh chóng phân hóa thành nhiều sứ quân cát cứ độc lập mang tính chất quân phiệt do các nhân vật Trần Văn Soái (Năm Lửa), Lê Quang Vinh (Ba Cụt), Nguyễn Giác Ngộ, Lâm Thành Nguyên (Hai Ngoán) nắm giữ. Hoạt động của các nhóm này phụ thuộc vào mưu đồ quyền lực cá nhân, khi liên kết với Pháp, khi chống chính quyền Ngô Đình Diệm, gây ra nhiều xáo trộn quân sự phức tạp tại miền Tây Nam Bộ.

5. Phương pháp phê bình sử liệu được tác giả vận dụng nhằm mục đích gì?

Do nguồn sử liệu về LLVT giáo phái tồn tại sự khác biệt lớn về quan điểm giữa các nguồn tư liệu lưu trữ của cách mạng, tài liệu tuyên truyền của Pháp, Mỹ, chính quyền Sài Gòn và hồi ký cá nhân của các nhân chứng, phương pháp phê bình sử liệu giúp tác giả so sánh, đối chiếu đa chiều, xác minh tính chân thực của từng sự kiện, khắc phục các nhận định chủ quan để phục dựng bức tranh lịch sử trung thực, khoa học.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Phạm Văn Phương là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên khảo có hệ thống về lực lượng vũ trang giáo phái tại Nam Bộ trong giai đoạn 1945 – 1957. Dựa trên nguồn tư liệu phong phú và phương pháp nghiên cứu lịch sử kết hợp phê bình sử liệu, công trình đã làm sáng tỏ nguồn gốc, cơ cấu tổ chức, quá trình phân hóa và tác động nhiều mặt của bốn nhóm vũ trang Cao Đài, Hòa Hảo, UMDC và Bình Xuyên đối với cục diện chiến trường. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần khỏa lấp khoảng trống trong nghiên cứu lịch sử quân sự Nam Bộ thời kỳ hiện đại mà còn đúc kết những giá trị thực tiễn sâu sắc về chính sách đại đoàn kết dân tộc và công tác vận động tôn giáo của Đảng.