Nghiên cứu về lực lượng vũ trang giáo phái ở Nam Bộ từ 1945 đến 1957

Luận án tiến sĩ nghiên cứu lực lượng vũ trang giáo phái ở nam bộ 1945 đến 1957, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất giải pháp khoa học cho vấn đề thực tiễn.

Chuyên ngành

Lịch Sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

285
19
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Nguồn gốc và bối cảnh ra đời của lực lượng vũ trang giáo phái ở Nam Bộ 1945

Luận án của Phạm Văn Phương đã nghiên cứu sâu về bối cảnh lịch sử, địa lý và xã hội dẫn đến sự hình thành lực lượng vũ trang giáo phái ở Nam Bộ trước và sau Cách mạng Tháng Tám. Nam Bộ, với vị trí địa lý đặc biệt và sự đa dạng về tôn giáo, đã tạo điều kiện cho sự phát triển của các giáo phái như Cao Đài, Hòa Hảo, Thiên Chúa giáo và Bình Xuyên. Tác giả đã phân tích tình hình chính trị, kinh tế, xã hội phức tạp thời kỳ này, làm nổi bật vai trò của các yếu tố như sự suy yếu của chính quyền thực dân, sự trỗi dậy của các phong trào dân tộc, và ảnh hưởng của các tư tưởng tôn giáo trong việc hình thành các lực lượng vũ trang này. Luận án chỉ ra rằng, bên cạnh yếu tố tôn giáo, bối cảnh bất ổn và nhu cầu tự vệ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc các giáo phái thành lập lực lượng vũ trang riêng. Ví dụ, sự xuất hiện của Nội ứng Nghĩa binh (Cao Đài), Bảo An quân (Hòa Hảo) và các nhóm tiền thân của Bình Xuyên đều gắn liền với bối cảnh rối ren trước và sau Cách mạng Tháng Tám. Điểm đáng chú ý là tác giả đã phân tích rõ sự khác biệt về nguồn gốc và động cơ thành lập lực lượng vũ trang của từng giáo phái. Ví dụ, Bình Xuyên, dù được xếp vào nhóm “lực lượng vũ trang giáo phái” nhưng không mang màu sắc tôn giáo rõ nét như Cao Đài hay Hòa Hảo, mà xuất phát từ các nhóm giang hồ với mục đích ban đầu là tự vệ và tranh giành ảnh hưởng.

II. Hoạt động và tác động của lực lượng vũ trang giáo phái trong kháng chiến chống Pháp 1945 1954

Luận án đã tập trung phân tích hoạt động của lực lượng vũ trang giáo phái trong hai giai đoạn chính của cuộc kháng chiến chống Pháp: 1945-1946 và 1947-1954. Tác giả đã làm rõ cơ cấu tổ chức, hoạt động quân sự và tác động của các lực lượng này đến cục diện chiến trường Nam Bộ. Trong giai đoạn đầu (1945-1946), một số lực lượng vũ trang giáo phái đã tham gia kháng chiến chống Pháp, thể hiện tinh thần yêu nước và đóng góp vào cuộc đấu tranh chung của dân tộc. Tuy nhiên, sự tham gia này còn mang tính tự phát, chưa có sự chỉ đạo thống nhất. Giai đoạn sau (1947-1954), trước chính sách lôi kéo, mua chuộc của Pháp, lực lượng vũ trang giáo phái đã có sự phân hóa rõ rệt. Một bộ phận hợp tác với Pháp, trở thành lực lượng chống lại kháng chiến, trong khi một bộ phận khác tiếp tục ủng hộ và tham gia kháng chiến. Luận án đánh giá tác động của lực lượng vũ trang giáo phái đến cuộc kháng chiến ở Nam Bộ là khá phức tạp, vừa tích cực vừa tiêu cực. Sự phân hóa về chính trị của các lực lượng này đã tạo ra những khó khăn cho việc thống nhất lực lượng kháng chiến, đồng thời làm phức tạp thêm cục diện chiến trường.

III. Sự tan rã của lực lượng vũ trang giáo phái sau Hiệp định Genève 1954 1957

Luận án đã phân tích bối cảnh lịch sử sau Hiệp định Genève, đặc biệt là chính sách của Mỹ, chính phủ Ngô Đình Diệm và Pháp đối với lực lượng vũ trang giáo phái. Tác giả chỉ ra rằng, Ngô Đình Diệm, với sự ủng hộ của Mỹ, đã thực hiện chính sách “bình định” miền Nam, tìm cách loại bỏ hoặc sáp nhập các lực lượng vũ trang giáo phái vào quân đội quốc gia. Kết quả là, hầu hết các lực lượng này đã bị tan rã, một số bị tiêu diệt trong các cuộc đàn áp quân sự, một số khác bị mua chuộc hoặc sáp nhập. Luận án làm rõ quá trình tan rã của từng lực lượng vũ trang (Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên), đồng thời nêu bật sự chuyển hóa một bộ phận nhỏ lực lượng vũ trang giáo phái thành các đơn vị vũ trang cách mạng. Ví dụ, luận án đã đề cập đến chủ trương của Đảng Lao động Việt Nam về công tác vận động, chuyển hóa lực lượng vũ trang giáo phái tham gia kháng chiến, thể hiện nỗ lực của Đảng trong việc đoàn kết các lực lượng yêu nước.

IV. Đóng góp và giá trị của luận án

Luận án của Phạm Văn Phương đã có những đóng góp đáng kể trong việc nghiên cứu về lực lượng vũ trang giáo phái ở Nam Bộ giai đoạn 1945-1957. Tác giả đã hệ thống hóa, phân tích và đánh giá một cách khách quan, khoa học về nguồn gốc, hoạt động, phân hóa và tan rã của các lực lượng vũ trang này. Luận án cung cấp cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về một lực lượng đặc thù trên chiến trường Nam Bộ, góp phần làm rõ thêm bức tranh lịch sử Việt Nam thời kỳ này. Giá trị thực tiễn của luận án nằm ở việc cung cấp những bài học kinh nghiệm quý báu về công tác vận động quần chúng, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong bối cảnh chiến tranh phức tạp. Nghiên cứu này cũng giúp hiểu rõ hơn về vai trò của tôn giáo và các lực lượng vũ trang tôn giáo trong lịch sử Việt Nam hiện đại. Một điểm mạnh của luận án là việc sử dụng đa dạng nguồn tư liệu, bao gồm cả tài liệu lưu trữ trong nước và quốc tế, giúp tăng tính khách quan và độ tin cậy của nghiên cứu. Tuy nhiên, luận án có thể được mở rộng bằng việc phân tích sâu hơn về tư tưởng, chiến lược và mâu thuẫn nội bộ của từng giáo phái, cũng như ảnh hưởng của các yếu tố quốc tế đến hoạt động của các lực lượng này.

20/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 chủ yếu đề cập đến các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài. Từ đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài để xác định những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và làm rõ. Chương 2: Bối cảnh và sự ra đời lực lượng vũ trang giáo phái ở Nam Bộ trước năm 1945. Phân tích bối cảnh lịch sử ở Nam Bộ những năm đầu thế kỷ XX, các đặc điểm về kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội.

Từ đó, dẫn đến sự ra đời của các giáo phái và một số nhóm bán vũ trang tiền thân của lực lượng vũ trang giáo phái. Chương 3: Lực lượng vũ trang giáo phái trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954). Phân tích bối cảnh lịch sử trong giai đoạn (1945 – 1946) và (1947 – 1954), sự tác động của các bên tham chiến trên chiến trường Nam Bộ; sự phân hóa, cơ cấu tổ chức, hoạt động của lực lượng vũ trang giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo, Thiên Chúa giáo và Bình Xuyên. Chương 4: Lượng vũ trang giáo phái sau Hiệp định Genève (1954 – 1957).

Phân tích bối cảnh lịch sử Nam Bộ sau Hiệp định Genève, chính sách của Mỹ thông qua chính quyền Ngô Đình Diệm với lực lượng vũ trang giáo phái; sự chuyển biến của lực lượng vũ trang giáo phái trong tình hình mới. Đồng thời, làm rõ quá trình phân hóa, tan rã của lực lượng vũ trang giáo phái, chủ trương và hoạt động vận động một bộ phận lực lượng vũ trang này tham gia kháng chiến. 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Nghiên cứu về cuộc kháng chiến ở Nam Bộ nói chung và vấn đề tôn giáo, giáo phái, LLVT giáo phái nói riêng từ lâu đã là đề tài thu hút giới nghiên cứu trong và ngoài nước.

Liên quan đến nội dung luận án có khá nhiều công trình đề cập đến ở các mức độ khác nhau. Dựa trên trên đối tượng nghiên cứu của các công trình này, chúng tôi xếp thành hai nhóm như sau: 1. Nhóm công trình nghiên cứu về lịch sử Nam Bộ kháng chiến có đề cập đến lực lƣợng vũ trang giáo phái 1. Công trình nghiên cứu ở trong nước Lê Văn Dương và nhiều tác giả (1972), “Quân lực Việt Nam cộng hòa trong giai đoạn hình thành (1946-1955)”, Phòng 5 Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Việt Nam cộng hòa thực hiện.

Nội dung của cuốn sách này đề cập đến cuộc chiến tranh Việt – Pháp; sự chỉ đạo chiến tranh của các tướng lĩnh Pháp tại Đông Dương từ năm 1945 – 1954; tóm lược các sự kiện lịch sử và tình hình chiến sự từ năm 1945 đến 1954. Như tên gọi, cuốn sách này đã trình bày một cách có hệ thống về quá trình thành lập, cơ cấu tổ chức, quân số của các đơn vị quân đội Quốc gia Việt Nam. Do lực lượng vũ trang giáo phái từ năm 1949 bắt đầu có kế hoạch “quốc gia hóa” nên các tác giả cùng đề cập đến sự ra đời, tổ chức của lực lượng vũ trang Cao Đài, Hòa Hảo, các cuộc hành quân tiêu diệt LLVT Bình Xuyên, Hòa Hảo trong giai đoạn 1955 – 1956. Trần Hải Phụng, Lưu Phương Thanh (chủ biên), 1994, “Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)”, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.

Nội dung của cuốn sách đề cập đến cuộc kháng chiến của nhân dân và LLVT trên địa bàn các tỉnh, thành phố: Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Công trình này cung cấp một số thông tin về LLVT Bình Xuyên trong thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp. Những chi tiết như LLVT Bình Xuyên thống nhất bao gồm những lực lượng nào, thành phần nào, vũ khí bao nhiêu.v… đều được đề cập. Công trình cũng đề cập đến một số nội dung về hoạt động của LLVT Cao Đài trên địa bàn Quân khu 7 và công tác Cao Đài vận trong quá trình kháng chiến chống Pháp.

Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 (1996), “Quân khu 9 – Ba mươi năm kháng 10 chiến 1945 – 1975” và “Quân khu 8 - Ba mươi năm kháng chiến (1945 – 1975)”, (Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội). Quân khu 9 trong kháng chiến bao gồm các tỉnh miền Tây Nam Bộ như: Cần Thơ, Long Xuyên, Châu Đốc, Bạc Liêu, Rạch Giá, Hà Tiên. Quân khu 8 gồm các tỉnh miền Trung Nam Bộ như: Tân An, Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre, Sa Đéc, Vĩnh Long, Trà Vinh. Hai công trình này phản ánh các mặt về điều kiện địa lý, tự nhiên, xã hội; các các sự kiện liên quan đến cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ của nhân dân các tỉnh Trung Nam Bộ, Tây Nam Bộ trên tất cả các mặt trong giai đoạn từ năm 1945 – 1975; cung cấp nhiều sự kiện liên quan đến công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền cách mạng, đoàn thể, xây dựng và phát triển LLVT, công tác binh địch vận, các chuyển biến thay đổi về thế và lực trên chiến trường Khu 8, Khu 9.

Ban Chỉ đạo và Ban Biên tập Truyền thống Tây Nam Bộ (2000), “Tây Nam Bộ 30 năm kháng chiến (1945-1975)”, lưu hành nội bộ. Nội dung của cuốn sách này tập trung thể hiện bức tranh kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ của nhân dân các tỉnh thuộc Tây Nam Bộ. Trong phần lớn nội dung, đã phản ánh chiến trường Tây Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Trong đó, có thông tin đề cập đến hoạt động của LLVT giáo phái Hòa Hảo và công tác Hòa Hảo vận của các cấp Đảng, chính quyền cách mạng địa phương, để lôi kéo lực lượng này đi theo kháng chiến.

Tuy nhiên, các nội dung liên quan đến lực lượng giáo phái trong công trình này chủ yếu được trình bày ở một số thời điểm nhất định, không có tính hệ thống và liên tục. Công trình là tập hợp một số bài nghiên cứu công phu, chủ yếu về hoạt động xây dựng tiềm lực kháng chiến và đấu tranh vũ trang với tất cả những nét đặc thù của quân dân Nam Bộ trong giai đoạn 1945 – 1975. Những bài viết này phần lớn đã được đăng trên các tạp chí chuyên ngành về lịch sử. Trong đó, có những bài liên quan trực tiếp đến giai đoạn chống Pháp và thời kỳ đầu kháng chiến chống Mỹ như: LLVT tập trung ở Nam Bộ trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1946); Quá trình thống nhất LLVT ở Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định trong kháng chiến chống thực dân Pháp; Quá trình chuyển hóa một bộ phận LLVT Bình Xuyên thành lực lượng cách mạng sau năm 1954.v… Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 (2011), “Lịch sử miền Đông Nam Bộ và cực 11 Nam Trung Bộ kháng chiến (1945-1975)”, Nxb Chính trị Quốc gia.

Đây là một công trình nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về cuộc chiến tranh giải phóng trên vùng đất miền Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ. Nội dung cuốn sách đề cập khá chi tiết đến những diễn biến chính trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Phần kháng chiến chống Pháp được chia làm 3 chương, thể hiện khá rõ các mặt của cuộc kháng chiến như: quân sự, chính trị qua các giai đoạn. Hoạt động của lực lượng vũ trang Cao Đài, công tác Cao Đài vận được đề cập trong các năm 1947, 1952, 1953.

Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến (2012), “Lịch sử Nam Bộ kháng chiến”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Công trình này do cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt là Chủ tịch Hội đồng Chỉ đạo, nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng làm chủ biên, gồm 4 tập, trong đó 2 tập chính sử. Đây là công trình khoa học lịch sử có quy mô lớn, một đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, có số người tham gia đông đảo. Với nhiều tư liệu mới, bộ sách Lịch sử Nam Bộ kháng chiến phản ánh đầy đủ, toàn diện về lịch sử đấu tranh cách mạng, lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ của quân dân Nam Bộ suốt 30 năm (1945-1975).

Trong các tập sách này, những mặt của cuộc kháng chiến như: tổ chức và xây dựng LLVT, xây dựng chính quyền cách mạng, tổ chức Đảng, đoàn kết toàn dân, chính sách tôn giáo vận, binh vận. đều được thể hiện qua mỗi giai đoạn lịch sử. Hồ Sơn Đài (2015), “Chiến tranh nhân dân chống thực dân Pháp xâm lược ở miền Đông Nam Bộ”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Công trình này đi sâu phân tích một số vấn đề về chiến tranh nhân dân trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp; phản ánh đầy đủ và toàn diện hơn về các nội dung xây dựng lực lượng vũ trang, căn cứ địa địa kháng chiến; kiện toàn và phát triển các tổ chức Đảng.

Công trình dành một phần quan trọng để phân tích, phản ánh thực tế cuộc kháng chiến ở các địa bàn cụ thể của các tỉnh miền Đông Nam Bộ như Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định, Tân An, Biên Hòa. Một số vấn đề liên quan đến hoạt động của LLVT Cao Đài đã được tác giả đề cập và phân tích. Ngoài các công trình ở trên, còn có các sách lịch sử của các tỉnh ở Nam Bộ như: lịch sử Đảng bộ, lịch sử LLVT, lịch sử Mặt trận Tổ quốc được địa phương hoặc các cơ quan nghiên cứu chủ trì biên soạn: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Long An (2005) “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Long An (1930 – 2000)”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; 12 Đảng ủy – Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Đồng Tháp (1998), “Lịch sử Sa Đéc – Long Châu Tiền – Long Châu Sa trong kháng chiến chống thực dân Pháp (9-1945 – 7-1954)”, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội; Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bến Tre (2003), “Lịch sử Đảng bộ Tỉnh Bến Tre (1930-2000)”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Duy Quí (2010), “Lịch sử Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954 – 1975)”, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Minh Đường – Ban Chỉ đạo công trình lịch sử kháng chiến chống Mỹ (1997), “Đồng bằng khu Trung Nam Bộ chống Mỹ cứu nước (1954 – 1964)”. Các nghiên cứu này cung cấp nhiều tư liệu liên đến đề tài như: xây dựng các tổ chức Đảng, cơ sở, chính quyền cách mạng, LLVT, công tác vận động tôn giáo, binh vận.

trong phạm vi của tỉnh hoặc quân khu. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến trên địa bàn Nam Bộ đã tái hiện lại quá trình tổ chức lực lượng vũ trang, xây dựng chính quyền cách mạng, củng cố đoàn kết dân tộc. trong cuộc đấu tranh chống Pháp, chống Mỹ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận tiến sĩ Nghiên cứu về lực lượng vũ trang giáo phái ở Nam Bộ từ 1945 đến 1957 của tác giả Phạm Văn Phương, dưới sự hướng dẫn của PGS. Hồ Sơn Đài, là một công trình nghiên cứu sâu sắc về vai trò và ảnh hưởng của các lực lượng vũ trang giáo phái trong bối cảnh lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1957. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn tổng quát về các lực lượng này mà còn phân tích những tác động của chúng đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin giá trị giúp họ hiểu rõ hơn về bối cảnh lịch sử phức tạp của Nam Bộ trong thời kỳ này.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo bài viết Phân tích nội dung toàn dân toàn diện lâu dài và dựa vào sức mình là chính trong đường lối kháng chiến chống thực dân pháp của đảng, nơi mà các khái niệm về kháng chiến và vai trò của toàn dân trong cuộc chiến cũng được thảo luận. Ngoài ra, bài viết Đề tài 6 vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản việt nam đối với sự nghiệp đổi mới đất nước công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập quốc tế cũng sẽ mang đến cho bạn cái nhìn sâu sắc về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình cách mạng và đổi mới đất nước, liên quan đến các sự kiện lịch sử mà bài luận này đề cập. Những tài liệu này không chỉ làm phong phú thêm kiến thức của bạn mà còn giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề lịch sử quan trọng của Việt Nam.