Chương 1 Thủy quân Việt Nam từ thời dựng nước đến trước khởi nghĩa Tây Sơn 1. Những tiền đề cho sự ra đời của thủy quân Dấu ấn sông nước phủ đều tiến trình lập quốc. Trải qua khoảng 25 triệu năm (tân kiến tạo), dưới tác động của hoạt động kiến tạo lục địa, biển tiến biển thoái, bộ mặt căn bản của nước ta như ngày nay mới được định hình1. Song song với với tiến trình định hình cương vực lãnh thổ, bằng những luận cứ lịch sử, những nhà khoa học đã đưa đến nhận định, miền Bắc lãnh thổ nước ta là một trong những cái nôi phát tích lịch sử loài người.
Môi trường sinh sống ưa chuộng của cư dân lúc này là các hang động, mái đá2 và nhất thiết phải gần với nguồn nước, chính nước là cầu nối gắn kết con người với tự nhiên. Đồng thời, nước cũng chính là nguồn cung chủ yếu nhất về thực phẩm. Những đóng góp to lớn của khảo cổ học trong thời gian gần đây đã chứng minh cho lập luận này3. Sớm nhất phải kể đến là di tích hang Con Moong4 (Thanh Hóa), niên đại sớm nhất được dự đoán cách ngày nay 40.
1 Đầu kỷ đệ tam (Tertiaire), cách ngày nay khoảng 50 triệu năm, “ở vùng trũng sông Hồng” này các đứt gãy sâu lại hoạt động mạnh, tạo thành những mán trũng mới trên nền cũ miền võng xưa… Sang kỷ đệ tứ (Quaternaire), ở giai đoạn sớm – khoảng 1.000 năm cách ngày nay biển rút khỏi châu thổ. Trầm tích lục địa thay thế trầm tích biển…hệ thống sông Thao – Nhị, hệ sông Thái Bình vận chuyển phù xa bồi đắp lên trầm tích biển… Khoảng sau đó, biển lại rút dần, khoảng từ 40.000 năm cách ngày nay, bề mặt châu thổ Bắc Bộ trải rộng ra đến vùng đảo Bạch Long Vĩ ngày nay…Tới đầu thế Holocène, khoảng từ 17.000 năm cách ngày nay, biển lại tiến vào đất liền, tới quãng Thường Tín (Hà Tây), Phả Lại (Hà Bắc),… Cách đây 4.000 năm, theo cứ liệu giao động mực nước đại dương, nước biển thời đó cao hơn mực nước bây giờ khoảng 4m rồi rút dần. Trích theo Trần Quốc Vượng (2000), Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, tr.
2 Cách đây khoảng 20.000 năm trước, cổ khí hậu Việt Nam có sự biến đổi với các pha nóng, lạnh, mát xen kẻ lẫn nhau chứ không bất biến như nhiều người dự đoán. Trong thời kỳ ấy, ở miền Bắc Việt Nam có thời kỳ lạnh rõ rệt và cùng với nó là thời kỳ mưa nhiều. Đó là nguyên nhân chính khiến hầu hết cư dân Hòa Bình – Bắc Sơn, có tuổi từ 11.000 năm trước chuyển vào cư trú trong các hang động đá vôi ở Bắc Việt Nam.000 năm, một bộ phận lớn cư dân tiền sử Bắc Việt Nam mới bắt đầu vươn ra chiếm lĩnh đồng bằng ven biển, chủ động thích ứng với môi trường biển tiến Holocen trung, tạo ra những bước tiến nhảy vọt về kỹ thuật chế tạo công cụ đá, làm gốm, chuyển đổi phương thức canh tác tự nhiên sang trồng trọt, chăn nuôi và bắt đầu khai thác nguồn lợi biển cả [89; 11]. 3 Tại khu vực này đã thu được trong địa tầng rất dày toàn vỏ ốc với hàng trăm công cụ lao động bằng đá, xương, sừng, vỏ nhuyễn thể.
4 Là một di tích được phát hiện trong vườn quốc gia Cúc Phương. Tuy phần lớn vườn quốc gia Cúc Phương thuộc tỉnh Ninh Bình nhưng hang Con Moong lại thuộc xã Thành Yên, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. 15 Theo kết quả nghiên cứu, vào giai đoạn từ 7.000 năm BP là thời điểm biển tiến đạt cực đại, vịnh Hạ Long được hình thành.000 năm TCN, mực biển hạ thấp, làm cho đầm lầy, sú vẹt ở vùng phía Tây Bắc đảo Cát Bà và vịnh Cửa Lục phát triển [89; 305]. Chính tiền đề này đã thôi thúc con người rời bỏ hang động để vươn ra chiếm lĩnh đồng bằng, ven biển, xác lập các nền văn hóa biển đầu tiên trong thời kỳ tiền sử.
Đại diện cho bước chuyển này là Soi Nhụ – Cái Bèo ở vùng Đông Bắc và Đa Bút – Quỳnh Văn ở khu vực Bắc Trung Bộ. Trong hầu hết các di chỉ trên, đặc trưng ẩm thực có nguồn gốc thủy sinh trở thành bội số chung. Điều này cũng dễ hiểu, bởi nguồn cung sẵn có ngày càng cạn kiệt, buộc con người phải chủ động tìm những nguồn cung mới. Việc tìm thấy các “ngư cụ” nguyên thủy như: chì lưới, lao ngạnh, lưỡi câu cùng với những mẩu xương cá trong những “đống rác bếp” được tìm thấy trong các di chỉ là câu giải đáp rõ rệt cho vấn đề đặt ra.
Sẽ thiếu sót khi nói đến dấu ấn sông nước lại không đề cập đến cây lúa nước. Sự ra đời của cây lúa1 đã trải qua một quá trình thuần chuẩn lâu dài, với sự tinh tế và cần mẫn con người đã biến một cây mọc dại trở thành nguồn cung lương thực chủ yếu cho mình. Không những vậy, cây lúa xuất hiện đã tạo nên một cuộc cách mạng đưa nhân loại bước vào nền văn minh đầu tiên của loài người – Văn minh nông nghiệp. Từ Đông Nam Á – quê hương đầu tiên của cây lúa, sau đó lúa được du nhập vào Trung Quốc, rồi lan sang Nhật Bản, Hàn Quốc.
Tại miền Bắc nước ta, sau khi chiếm lĩnh được đồng bằng màu mỡ phì nhiêu, cư dân đã gầy dựng nên một nền văn minh rực rỡ bậc nhất với tên gọi Văn minh sông Hồng. Trồng lúa nước dần trở thành một nghề mang tính phổ quát, lúc đầu (thời dựng nước) người Việt dùng phổ biến loại lúa nếp (như loại cơm lam của một số đồng bào Hang Con Moong có địa tầng dày trung bình từ 9,5m - gồm 10 lớp có cấu trúc khác nhau. Từ lớp 1 đến lớp 6 (có độ sâu từ 1 đến 6 m) tìm thấy nhiều công cụ lao động, xương cốt động vật, vỏ nhuyễn thể. Các lớp 7 đến 10 không gặp dấu tích động thực vật, nhưng có nhiều công cụ mảnh tước chế tác bằng đá quartz tập trung nhất là ở lớp 10 (ở độ sâu từ 8,5 - 9,5m).
1 Cây lúa trồng thuộc họ Poaceae (Graminea hay họ Hòa Thảo), phụ họ Pryzoideae, tộc Oryzae, dòng Oryza, loài Oryza sativa và Oryza glaberrima. Loài Oryza sativa là lúa trồng ở châu Á và Oryza glaberrima lúa trồng ở châu Phi. Ngoài ra, còn có hơn 20 loài lúa dại sống rải rác trên thế giới như Đông Nam Á, Nam Á, Úc Châu, New Guinea, Phi Châu, Trung và Nam Mỹ. 16 thiểu số ngày nay), sau đó dùng lúa tẻ của mùa vụ đông.
Dần dần có thêm lúa khác trong đó có lúa chiêm của vụ xuân hè và lúa 3 giăng (3 tháng) trồng giữa các vụ chính [35; 33]. Bản chất của cây lúa là sống dựa vào nước, cho nên ông cha ta hay truyền tụng: “nhất nước, nhìn phân, tam cần, tứ giống”. Nước đối với cây lúa và sinh hoạt của cư dân hết sức quan trọng. Dẫu vậy, từ rất sớm cư dân đã nhận thức rất rõ tác hại mà nước gây ra: “Nước mưa là cưa trời”, “Nước chảy đá mòn”, cho nên quá trình trùng tu, tôn tạo đê điều1, quai đê lấn biển2, tạo quỹ đất mới thường được tiến hành thường xuyên, thậm chí sau này dưới các triều đại phong kiến Việt Nam còn cắt cử một chức quan Hà đê sứ để trông coi việc đê điều.
Giao thông đường thủy luôn giữ vai trò chủ đạo. Khi đề cập đến lịch sử ra đời của con thuyền, tác giả E. B Tylor cho rằng: “Kẻ khởi đầu ra nghề hàng hải là kẻ đã bám lấy được một cành củi trôi và thấy rằng cành củi này có thể đỡ được mình trên mặt nước” [26; 266]. Cũng theo tác giả “việc hoàn thiện những vật dụng để đi trên mặt nước trước hết ở chỗ người ta bắt đầu khoét sâu những vật này để bơi một cách thuận lợi hơn.
Những thứ đó biến thành con thuyền như vậy đó. Một trong những cách đóng thuyền là khoét sâu một khúc gỗ” [26; 267]. Khoét thân cây để có một phương tiện di chuyển chính là cách thức mà con người phát minh ra con thuyền – phương thức đầu tiên. Nếu căn cứ vào những mô tả của tác giả, tôi cho rằng kỹ thuật tạo tác này không khác mấy kỹ thuật mà người Việt ngay từ rất sớm đã cho ra đời con thuyền độc mộc – phương tiện di chuyển đặc thù của người Việt.
Như vậy, phải chăng người Việt xưa lại 1 Theo sử sách, ít nhất từ đầu công nguyên dân ta đã biết đắp đê phòng lụt. Sách Giao châu ký viết rằng: huyện Phong Khê quân Giao Chỉ có đê phòng nước lụt. Huyện Phong Khê với trung tâm là Cổ Loa là miền đất giữa sông Hồng, sông Đuống và sông Cà Lồ và chắc chắn hệ thống đê được hình thành dọc theo các con sông lớn đó. Đặc biệt các triều đại nhà Lý cho đắp đê ở cảng Cơ Xá.
Năm 1248, nhà Trần đắp đê Quai Vạc từ đầu nguồn đến biển. Cho đến thế kỷ XV, các công trình đê ở Bắc Bộ đã căn bản hoàn thành [76; 47]. 2 Quá trình quai đê lấn biển đã tác động vào sự phát triển tự nhiên của đường bờ, đặc biệt đối với các vùng cửa sông giàu phù sa. Theo ghi nhận, hệ thống sông Hồng vận tải phù sa ra Biển Đông mỗi năm trung bình 120.106 tấn bùn cát với hàm lượng phù sa đạt tới 1.
Lượng phù sa này hằng năm bồi đắp các bãi bồi cửa sông ven biển và tạo ra các cồn cát, bãi cát ven sông kế tiếp nhau, thuận lợi cho công việc quai đê lấn biển, mở rộng diện tích. Phân tích các hệ thống quai đê lấn biển từ thời Hồng Đức (1471) đến quai đê lấn biển của Nguyễn Công Trứ (1828 - 1830) và cho đến ngày nay, diện tích đất bờ sông hằng năm lấn ra biển từ 50m đến 100m [34; 242]. 17 là “kiến trúc sư” có công đầu trong việc tạo tác ra con thuyền – một trong những phương tiện di chuyển phổ biến nhất hiện nay! Có thể khẳng định, ban đầu con thuyền ra đời chỉ dừng lại ở chức năng di chuyển. Về sau, khi gắn bó với con thuyền, cư dân đã sớm thấy được con thuyền còn hằng hà chức năng mà con người chưa tận dụng hết.
Để đánh bắt được nhiều cá hơn, con người phải di chuyển xa bờ, đến với những “ngư trường” xa, thuyền lại góp thêm một chức năng mới – chức năng kinh tế. Trước kẻ thù xâm lăng, thuyền lại được khai phá thêm một chức năng khác – chức năng quân sự.