Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Trường Sơn - Tây Nguyên là vùng văn hóa đa dạng, phong phú, trong đó văn hóa M’Nông là một trong những chủ thể nền văn hóa đã cuốn hút nhiều nhà nghiên cứu. Trước năm 1954, những công trình nghiên cứu liên quan đến người M’Nông phần lớn là của một số học giả người Pháp. Trước hết phải nói đến H.
Bernard với tác phẩm: Những cư dân mọi ở Đắk Lắk; Henri Maitre với khảo cứu đồ sộ Rừng người Thượng: Vùng rừng núi cao nguyên miền Trung Việt Nam. Có thể nhận thấy các công trình này chủ yếu phác thảo và giới thiệu khái quát về người M’Nông trong cộng đồng các dân tộc thiểu số cao nguyên miền Trung Việt Nam; chủ thể văn hóa của những vùng cao nguyên rộng lớn này. Sau năm 1954, có một số công trình nổi bật như Minority group in the Republic of Viet Nam (Các nhóm thiểu số ở Việt Nam cộng hòa) (Shrock II and others) hay Son of the mountains; Ethnohistory of the Vietnamese Central Highlands to 1954 (Những người con của núi rừng: lịch sử tộc người ở Cao Nguyên Việt Nam đến năm 1954). Đáng chú ý là công trình của G.
Hickey Free in the forest: Ethnohistory of the Vietnamese Central Highlands 1954 - 1976 (Tự do trong rừng: lịch sử tộc người ở Cao Nguyên Việt Nam 1954- 1976). Đặc biệt là công trình nghiên cứu về người M’Nông Gar của Georges Condominas Nous avons mangé la forêt xuất bản năm 1974 lần đầu tiên ở Pháp. Vào năm 2003 và năm 2008 Ở Việt Nam, công trình được Nhà xuất bản Thế giới ấn hành với tựa đề Chúng tôi ăn rừng đá - Thần Gôo và tiểu tựa (Hii saa Brii Mau-Yaang Gôo), Biên niên sử về làng Sar Luk của người M’Nông Gar (Bộ tộc tiền Đông Dương trên cao nguyên miền Trung Việt Nam). Bên cạnh đó, với cách tiếp cận liên ngành xã hội học, dân tộc học và ngôn ngữ học Luận án tiến sĩ văn hóa 12 Georges Condominas đã rất thành công trong các bài biên khảo ở Việt Nam và Đông Nam Á từ năm 1953 đến năm 1976 được ấn hành năm 1978 với tên gọi L’Espace social.
A propos de l’Asie du Sud-Est, cho đến năm 1997 công trình này được dịch ra bản tiếng Việt với tựa đề Không gian xã hội vùng Đông Nam Á được đánh giá khá cao, là tư liệu khảo cứu có giá trị. Trước năm 1975, những học giả, nhà khoa học ở miền Nam Việt Nam cũng có một số công trình nghiên cứu về người M’Nông như Đồng bào các sắc tộc thiểu số Việt Nam; nguồn gốc và phong tục (1970) của Nguyễn Trắc Dĩ; một số bài báo của Nghiêm Thẩm in trên Nguyệt san Quê Hương năm 1961 như: “Tìm hiểu đồng bào Thượng”,“Nền kinh tế của đồng bào Thượng Trung nguyên Trung phần”; hay một số bài “Phong quang tỉnh Đắk Lắk” (Hồ Xuân Đàm, 1969); “Đồng bào sơn cước tại Việt Nam cộng hòa” (Lê Đình Chi, 1972); “Việt Nam chí lược: Cao nguyên miền Thượng” (1974) của Cửu Long Giang- Toan Ánh… Những công trình nghiên cứu văn hóa tộc người M’Nông vào thời điểm trước năm 1975 đã có sự chú ý đầu tư, nhưng người M’Nông được đề cập chỉ mang tính khái lược và giới thiệu chưa có tính chuyên sâu và hàm lượng khoa học còn hạn chế. Sau năm 1975, với sự quan tâm và tập trung của các nhà khoa học, cơ quan nghiên cứu, đặc biệt là Viện Dân tộc học, người M’Nông đã được đề cập chuyên sâu trong các công trình khoa học. Tiêu biểu là công trình: Các dân tộc ít người ở Việt Nam - các tỉnh phía Nam (1984) của Viện Dân tộc học; Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam (1999) của nhóm tác giả Hoàng Văn Trụ, Đặng Văn Lung, Sông Thao; Lưu Hùng với Văn hóa cổ truyền Tây Nguyên (1996); Văn hóa các dân tộc Tây Nguyên, thực trạng và những vấn đề đặt ra (2004) do Trần Văn Bính chủ biên; Công trình Những khía cạnh của văn hóa dân gian M’Nông Noong (2001) của Đỗ Hồng Kỳ; Văn hóa, xã hội và con người Tây Nguyên (2007) Nguyễn Tấn Đắc; Những mảng màu văn Luận án tiến sĩ văn hóa 13 hóa Tây Nguyên (2007) của Ngô Đức Thịnh… Đây là những công trình nghiên cứu có đầu tư với hàm lượng khoa học cao về người M’Nông, khái quát về tộc người với những đặc điểm chung về dân số, địa bàn cư trú, đời sống vật chất, tinh thần; trong đó đã khảo tả tương đối cụ thể về văn hóa của tộc người M’Nông đề cập đến lễ hội của cư dân bản địa.
Ngoài ra còn có nhiều bài báo trên các tạp chí chuyên ngành nghiên cứu một vài khía cạnh cụ thể trong đời sống văn hóa xã hội và lễ hội của cộng đồng M’Nông. Với những nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa dân gian M’Nông và có nội dung liên quan đến luận án, chúng tôi phân thành hai nhóm vấn đề sau: * Những công trình nghiên cứu về văn hóa M’Nông Việc nghiên cứu lễ hội truyền thống người M’Nông Preh tỉnh Đắk Nông, kể cả những công trình nghiên cứu chuyên sâu về người M’Nông còn hạn chế. Những công trình bài viết của các tác giả, nhà nghiên cứu chủ yếu đề cập đến đời sống tinh thần của cư dân M’Nông, trong đó có tộc người M’Nông Preh được tập hợp trong nhóm này để có cái nhìn chung, nhằm đánh giá toàn diện về sinh hoạt văn hóa tinh thần của người M’Nông. Địa phương chí tỉnh Quảng Đức do Tòa hành chính tỉnh Quảng Đức phát hành năm 1960 sau khi đơn vị hành chính tỉnh Quảng Đức được thành lập theo Sắc lệnh số 24 NV ngày 23/01/1959 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ký; toàn tỉnh có 03 quận gồm: Khiêm Đức, Kiến Đức và Đức Lập với 215 buôn Thượng của các sắc dân M’Nông, Mạ, Ê Đê, K’ho, dân tộc Thượng ở tỉnh Quảng Đức chiếm gần 2/3 dân số toàn tỉnh, khoảng 20.792 người, trong đó Bộ lạc M’Nông chiếm đa số.
Tuy nhiên, về phía Bắc quận Đức Lập có một số người M’Nông Preh tiến bộ hơn. Về việc sản xuất, đồng bào Thượng chuyên sống về nông nghiệp họ không biết cày cấy như đồng bào Kinh mà chỉ biết chuyên làm rẫy trên các ngọn đồi. Luận án tiến sĩ văn hóa 14 Về phong tục tập quán, cũng như đồng bào Thượng thuộc các Bộ lạc khác, Bộ lạc M’Nông và Mạ trong tỉnh có phong tục, tập quán rất phức tạp nặng tính chất mê tín dị đoan. Về tín ngưỡng, đồng bào Thượng tại tỉnh Quảng Đức không theo tôn giáo nào mà trái lại thờ nhiều thần: thần trời, thần đất, thần nông, thần núi, thần lửa.
Tuy nhiên, họ tín ngưỡng trên các vị thần ấy có một vị thần nhân là Đấng tối cao như thượng đế vậy, do tin tưởng nhiều thần nên đồng bào Thượng thường cúng tế quanh năm. Địa phương chí tỉnh Quảng Đức là một tài liệu có giá trị, tuy mang tính khái lược giới thiệu về mảnh đất và con người nơi đây nhưng cho thấy bức tranh tương đối toàn diện về đời sống của cộng đồng các dân tộc tại chỗ với những số liệu cơ bản làm cơ sở để đối chiếu nghiên cứu, đóng góp một phần tư liệu trong tài liệu nghiên cứu về Đăk Nông. Năm 1966, Bộ Quân lực Hoa Kỳ đã công bố công trình Minoroty group inder Rubulist of Viet Nam - các nhóm thiểu số ở Việt Nam Cộng hòa. Công trình này nằm trong chương trình nghiên cứu về các dân tộc ở Việt Nam được miêu tả qua hơn 50 trang và chia thành 12 phần, bên cạnh việc giới thiệu về các tộc người thiểu số ở Việt Nam, đặc biệt là ở Tây Nguyên thì công trình này còn giới thiệu tương đối toàn diện về người M’Nông từ đặc điểm nhân chủng đến ngôn ngữ, nguồn gốc tộc người; đặc biệt là văn hóa, tập quán, những cấm kị trong sinh hoạt tín ngưỡng.
Trên cơ sở giới thiệu về đời sống văn hóa cộng đồng có đề cập đến sinh hoạt tín ngưỡng và lễ hội, trong đó giới thiệu một số nghi lễ quan trọng gắn liền với đời sống cư dân bản địa. Mặc dù giới thiệu hết sức khái quát nhưng tư liệu đã giúp cho người nghiên cứu có thêm những cơ sở để nhận định và đánh giá cơ bản về người M’Nông. Đại cương về các dân tộc Ê Đê, M’Nông ở Đắk Lắk, năm 1982, Sở Văn hóa, Thông tin Đắk Lắk xuất bản do Bế Viết Đẳng chủ biên. Cũng như các công trình nghiên cứu khác, các tác giả đề cập vấn đề phân bố dân cư, thành Luận án tiến sĩ văn hóa 15 phần dân tộc, đặc điểm nhân chủng của hai dân tộc bản địa M’Nông và Ê Đê.
Trong phần thứ 3 của công trình này đã tập trung trình bày những phong tục tập quán và nghi lễ của hai tộc người M’Nông và Ê Đê. Tuy nhiên, những giới thiệu này chỉ mang tính khái quát; tác giả Vũ Đình Lợi chỉ mong muốn giới thiệu một vài hình ảnh cơ bản về sinh hoạt văn hóa cộng đồng của người M’Nông và Ê Đê mang tính gợi mở, cho những định hướng nghiên cứu sâu hơn để sau này các tác giả tiếp tục nghiên cứu về hai tộc người nói trên. Năm 2007, tác giả Trương Bi cho ra mắt công trình Văn hóa mẫu hệ M’Nông, đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu về một lĩnh vực của cư dân M’Nông. Tuy nhiên, việc nhận định, đánh giá và phân tích về văn hóa mẫu hệ M’Nông từ gia đình, dòng họ cho đến cộng đồng trong các mối quan hệ xã hội phức tạp.
Bên cạnh đó, các hoạt động xã hội, các hoạt động cộng đồng như tín ngưỡng, lễ hội của người M’Nông là cơ sở để chi phối về loại hình văn hóa đặc biệt này. Tác giả Trương Bi đã nhấn mạnh dấu ấn thiết chế mẫu hệ trong đời sống cộng đồng M’Nông xưa và nay, như một mặt để khẳng định những giá trị văn hóa đó đã làm nên nền tảng đời sống cộng đồng và duy trì cho đến ngày nay; mặt khác tác giả đã cung cấp cho bạn đọc, những người nghiên cứu những kiến thức bổ ích. Công trình Phong tục tập quán cổ truyền của một số dân tộc thiểu số Tây Nguyên (2007) nhà xuất bản Văn hóa dân tộc của tác giả Ngô Đức Thịnh, Lê Văn Kỳ. Tuy chỉ tập trung nghiên cứu phong tục tập quán của tộc người Ê Đê và M’Nông nhưng cho thấy sự đóng góp mới của lĩnh vực nghiên cứu đã có một số tác giả đề cập với sự thuận lợi của Viện Văn hóa lúc bấy giờ, hai tác giả đã có dịp tiếp cận và nghiên cứu sâu về hai tộc người có một nền di sản văn hóa hết sức độc đáo và phong phú.