CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN 1. Khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài luận văn 1. Văn hóa Khái niệm Văn hóa là một khái niệm rộng, cùng với quá trình phát triển, văn hóa ngày càng có nội dung phong phú và có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Tổng giám đốc UNESCO đưa ra khái niệm: Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động dân tộc trong quá khứ và trong hiện tại.
Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống giá trị, các truyền thống và các thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng biệt của mỗi dân tộc [46]. Ở Việt Nam, trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đã có một số học giả trong và ngoài nước nghiên cứu về văn hóa Việt Nam. Văn hóa được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất, những giá trị tinh thần và phương thức sinh hoạt của con người: “Vì sự sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ở và các phương thúc sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [17].
Như vậy, văn hóa có nhiều khái niệm khác nhau dưới các góc độ khác nhau. Từ những quan niệm đó, ta nhận thấy: Theo nghĩa rộng, văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội, mang tính chất -8- Luan van chân, thiện, mỹ và phục vụ cho sự sinh tồn, phát triển của con người, xã hội loài người. Theo nghĩa hẹp, văn hóa là toàn bộ các giá trị tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy trong quá trình lịch sử xã hội. Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ V (khóa VIII, 1998), Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội.
Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động, sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc [9]. Vai trò Văn hóa là sản phẩm của loài người nó được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Tuy nhiên chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, duy trì sự bền vững và trật tự xã hội.
Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo, phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển con người của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người vũng như trong giá trị vật chất tinh thần mà do con người tạo ra và được con người thừa nhận bao gồm trong đó có cái Chân, cái Thiện, cái Mỹ. Xây dựng và phát triển tốt những thành tố cấu thành khái niệm văn hóa chính là để tạo ra nền tảng tinh thần cho xã hội góp phần khai thác và phát huy sức mạnh nội sinh.
Di sản văn hóa Khái niệm -9- Luan van Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên, Hà Nội - Đà Nẵng, xuất bản năm 1998, khái niệm di sản được chú thích là tài sản của người chết để lại; cái của thời trước để lại. Theo Từ điển Hán Việt Từ Nguyên của Bửu kế - Nhà xuất bản Thuận Hóa, 1999 thì khái niệm Di sản được giải thích là: di là để lại, sản là của cải - của cải giá trị của người chết của người trước để lại. Ví dụ: những giá trị quý báu của cha ông chúng ta cần giữ gìn, tiếp thu và phát triển. Theo Luật Di sản văn hóa Việt Nam [27] và Luật Di sản văn hóa sửa đổi, bổ sung năm 2009 [29], Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại có vai trò lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta.
Vai trò Di sản văn hóa dân tộc bao hàm nhiều giá trị và tinh hoa do các thế hệ tiền nhân để lại và lưu truyền. Các thế hệ người Việt Nam, ngay từ buổi đầu dựng nước đã biết tôn trọng, sáng tạo và giữ gìn các giá trị văn hóa, đặc biệt đã biết sáng tạo và phát huy sức mạnh văn hóa vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trước những thử thách của thời gian và lịch sử của thiên tai và địch họa ông cha ta đã biết khơi nguồn sức mạnh từ chiều sâu của nền văn hóa dân tộc, biết chắc lọc tinh hoa từ nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, thấm đượm tính nhân văn. Chúng ta khẳng định di sản văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần do ông cha đã đúc kết, xây dựng và truyền lại cho chúng ta đến ngày nay.
Nước ta với hơn 54 dân tộc anh em có một kho tàng di sản văn hóa vô cùng phong phú và đa dạng như Hồ Chủ Tịch đã nói, nó là những “hòn ngọc quý”. Cho nên, quản lý nhà nước về di sản văn hóa của ông cha để lại là một nhiệm vụ quan trọng và cấp bánh nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc. -10- Luan van Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 – Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã nêu rõ: Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa [9]. Ngoài ra, di sản văn hóa góp phần thỏa mãn nhu cầu văn hóa của nhân dân, nâng cao ý thức tự hào dân tộc, góp phần phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Phân loại Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền bằng trí nhớ, chữ viết được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói chữ viết, tác phẩm, văn học nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác. Di sản văn hóa thường gắn kết với cộng đồng xã hội ở những cấp độ khác nhau. Có di sản văn hóa của một gia đình, một dòng họ của làng, bản, tộc người nhưng quan trọng hơn là di sản văn hóa của dân tộc - quốc gia.
Di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên Khái niệm Cồng chiêng là nhạc cụ dân tộc thuộc bộ gõ, được làm bằng đồng thau, hình tròn như chiếc nón quai thao, đường kính khoảng từ 20 cm đến 60 cm, ở giữa có hoặc không có núm. Người ta dùng dùi gỗ có quấn vải mềm (hoặc dùng tay) để đánh cồng, chiêng. Cồng, chiêng càng to thì tiếng càng trầm, càng nhỏ thì -11- Luan van tiếng càng cao. Cũng như các dân tộc Tây Nguyên khác: Cồng Chiêng được xem là nhạc cụ linh thiêng nên thời kỳ đầu, chinh Ê-đê sử dụng để kết nối giữa con người và thần linh, về sau mới được sử dụng trong các lễ hội dân gian.
Trong cuốn Nhạc khí dân tộc Việt, xuất bản năm 2001, định nghĩa: Cồng, Chiêng là loại nhạc khí tự thân vang gõ phổ biến tại Việt Nam, đồng thời ở một số nước khác ở Châu Á cũng có. Cồng, Chiêng làm bằng đồng thau hoặc hợp kim đồng thiếc, với tỷ lệ các hợp kim rất khác nhau tùy theo nơi đúc, hình tròn ở giữa hơi phồng lên, chung quanh có gờ gọi là thành. Cồng luôn luôn có núm ở giữa, Chiêng có hai loại: Chiêng có núm ở giữa gọi là Chiêng núm và Chiêng không có núm gọi là Chiêng bằng [42]. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng và chủ nhân của loại hình văn hóa đặc sắc này là cư dân các dân tộc Tây Nguyên: Bana, Xêđăng, Mnông, Cơho, Rơmăm, Êđê, Giarai.
Cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Tây Nguyên, là tiếng nói của tâm linh, tâm hồn con người, để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ. Người Tây Nguyên chơi cồng chiêng với nhiều phong cách khác nhau, rất phong phú, rát bài bản. Nếu người Giarai và người Bana có phương pháp đánh chỉ điệu một bài trầm đánh trên một vài giai điệu thì người Êđê đánh theo cách thức từng chùm. Trong đó, chiêng núm làm bè trầm, chiêng bằng đánh giai điệu.
Khi biểu diễn vòng tròn các nghệ nhân đánh và di chuyển dàn cồng chiêng từ phải sang trái với ý nghĩa ngược chiều với thời gian, hướng về cội nguồn. Tiếng cồng chiêng hòa nhịp âm vang gợi cho người nghe thấy được cả không gian săn bắn, không gian làm rẫy, không gian lễ hội, những âm thanh ngân nga, sâu lắng, khi thối thúc khi hòa quyện với suối nguồn với -12- Luan van tiếng gió đại ngàn và với cả lòng người sẽ là nguồn gốc của những áng sử thi huyền thoại và lãng mạn. Như vậy, văn hóa cồng chiêng Tây nguyên là tổng thể những mối liên hệ của con người với cồng chiêng thông qua sử dụng cồng chiêng đa dạng với nhiều mục đích và chức năng khác nhau, gắn bó thường xuyên, lâu dài với đời sống thường ngày cũng như đời sống tín ngưỡng của con người.