phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn đƣợc chia làm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nƣớc về di sản văn hóa phi vật thể đã đƣợc UNESCO công nhận Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về di sản văn hóa phi vật thể đã đƣợc UNESCO công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Chƣơng 3: Quan điểm, phƣơng hƣớng và giải pháp quản lý nhà nƣớc về di sản văn hóa phi vật thể đã đƣợc UNESCO công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 9 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ ĐÃ ĐƢỢC UNESCO CÔNG NHẬN 1. NHỮNG KHÁI NIỆM VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ ĐƢỢC UNESCO CÔNG NHẬN 1. Khái niệm di sản văn hóa Văn hóa là một phạm trù rất rộng và có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau khi định nghĩa về nó. Cũng có rất nhiều cuộc tranh luận giữa các nhà nghiên cứu văn hóa ở trong nƣớc và trên thế giới mà nguyên nhân chính là do tính phức tạp, đa nghĩa trong bản thân khái niệm “văn hóa”.
Nhìn chung, hiện nay ngƣời ta sử dụng khái niệm “văn hóa” nhằm để chỉ văn học, nghệ thuật nhƣ: thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh. Một cách hiểu thông thƣờng khác thì văn hóa là cách sống bao gồm phong cách ẩm thực, trang phục, cƣ xử, đức tin, tri thức. Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam cũng đã định nghĩa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa.” [25] “Nói một cách đơn giản, văn hóa là tất cả những gì không phải thiên nhiên, nghĩa là tất cả những gì do con người, ở trong con người và liên quan trực tiếp nhất đến con người”.9] hay “Nói tới văn hóa là nói tới con người; có con người, có xã hội loài người thì mới có văn hóa.
Vì vậy, dù quan niệm về văn hóa xưa, nay còn khác nhau, nhưng vẫn có điểm chung: đó là con người” [27, tr. Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời 10 Luan van sống xã hội của ngƣời dân và mỗi quốc gia. Nó chính là năng lực sáng tạo, trí tuệ, tài năng, đạo đức của con ngƣời; trụ cột phát triển bền vững của mỗi dân tộc và toàn nhân loại. Lịch sử của Việt Nam đã chứng minh rằng, nhờ có nền tảng văn hóa, hội nhập và phát triển mà nhân dân ta đã phát huy đƣợc sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức sáng tạo to lớn để chiến thắng “thiên tai, địch họa”, giữ vững nền độc lập và bản sắc văn hóa trong suốt chiều dài lịch sử dựng nƣớc và giữ nƣớc hào hùng của dân tộc.
Ngày nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, vì mục tiêu “dân giàu, nƣớc mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, thì vai trò của văn hóa càng đƣợc khẳng định, nhất là trong việc điều tiết, cân bằng sự phát triển của đất nƣớc, không để sự phát triển nóng dẫn tới những hệ lụy khó lƣờng cho nền kinh tế, văn hóa và xã hội. Bất cứ dân tộc nào cũng có các di sản mang đặc trƣng của dân tộc đó. Chính điều này thể hiện bản sắc riêng của từng dân tộc và cũng để thể hiện sự khác biệt đối với thế giới. Việt Nam là một nƣớc nghìn năm văn hiến với năm mƣơi tƣ dân tộc nên chúng ta có một kho tàng đồ sộ các di sản văn hóa.
“Tính chất lưu truyền đã biến văn hóa của thế hệ trước trở thành di sản văn hóa của thế hệ sau. Vì vậy, di sản văn hóa chính là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do một cộng đồng người sáng tạo và tích lũy trong một quá trình lịch sử lâu dài và được lưu truyền từ thế hệ trước cho thế hệ sau”.3] Trong điều 1, Luật Di sản văn hóa của Việt Nam nêu rõ định nghĩa về di sản văn hóa nhƣ sau: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Để đáp ứng mục đích của Công ƣớc này, những loại hình sau đây sẽ đƣợc coi là “di sản văn hoá”: - Di tích kiến trúc (monuments): các công trình kiến trúc, các công trình điêu khắc và hội hoạ kiến trúc, các bộ phận hoặc kết cấu có tính chất khảo cổ học, các bi ký, các hang động cư trú và những bộ phận kết hợp, mà xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu; - Nhóm công trình xây dựng (groups of buildings): các nhóm công trình riêng lẻ hoặc liên kết mà do tính chất kiến trúc, tính chất đồng nhất hoặc vị thế của chúng trong cảnh quan, xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu; - Các di chỉ (sites): các công trình của con người hoặc công trình kết hợp giữa con người và thiên nhiên, cũng như các khu vực có các di chỉ khảo cổ học mà xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu. [33] Theo cách tiếp cận giá trị văn hóa này, di sản văn hóa bao gồm hầu hết các giá trị văn hóa do thiên nhiên và con ngƣời tạo nên.
Đó là phần tinh túy, mang tính chất đặc trƣng của từng vùng miền và đặc biệt là đƣợc lƣu giữ, trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Di sản văn hóa là những giá trị bền vững vì nó đƣợc sáng tạo, bảo vệ và lƣu truyền ở trong chính cộng đồng, trải qua một thời gian dài nên cũng mang những dấu ấn đổi thay của lịch sử. Đó chính là tính chất đặc thù của di sản văn hóa khi phân biệt với khái niệm văn hóa. Do vậy, di sản văn hóa cũng chính là một phần chủ đạo của văn hóa.
Trong dòng chảy của lịch sử, có rất 12 Luan van nhiều yếu tố văn hóa bị mai một do không vƣợt qua đƣợc thử thách của thời gian nên không đƣợc trở thành di sản văn hóa. Trải qua sự thẩm định của lịch sử và thời gian, các di sản văn hóa còn tồn tại đến bây giờ chính là phần tinh túy của văn hóa dân tộc, thể hiện bản sắc riêng của từng vùng miền và cộng đồng dân cƣ. Đặc trưng, tính chất của di sản văn hóa Đặc trƣng cơ bản của di sản văn hóa chắc chắn phải mang những nét đặc trƣng cơ bản của văn hóa. Trần Ngọc Thêm, văn hóa có bốn đặc trƣng cơ bản là: tính nhân sinh, tính lịch sử, tính giá trị và tính hệ thống.
Di sản văn hóa dân tộc là do cộng đồng sáng tạo ra và đƣợc trao truyền từ đời này sang đời khác, cộng đồng này sang cộng đồng khác. Do vậy, di sản văn hóa cũng có đặc trƣng cơ bản là tính nhân sinh và tính lịch sử. Văn hóa là hoạt động sáng tạo của con ngƣời, tạo ra nét tiêu biểu, đặc trƣng riêng góp phần vào sự phát triển xã hội. Hoạt động sáng tạo gắn liền với sự vận động của đời sống xã hội, và chỉ có những sản phẩm mang lại lợi ích cho đời sống, hƣớng con ngƣời đến những giá trị tốt đẹp thì mới đƣợc coi là một di sản văn hóa.
Văn hóa và di sản văn hóa phải có tính giá trị. Văn hóa và di sản văn hóa đều bao gồm nhiều thành phần và bộ phận khác nhau, giữa chúng luôn có mối quan hệ qua lại. Đó cũng chính là tính hệ thống của di sản văn hóa. Ngoài những đặc trƣng cơ bản, di sản văn hóa còn có một vài đặc trƣng riêng xuất phát từ những đặc trƣng cơ bản của văn hóa.
Hoàng Vinh cho rằng, “di sản văn hóa đặc trưng bởi tính hiểu biết, tính biểu tượng và tính sử liệu” [39, tr.16] Tính hiểu biết là đặc trƣng của di sản văn hóa do chứa đựng vốn kinh nghiệm và tri thức sống của con ngƣời, nó hiển thị ở khả năng sáng tạo và tích luỹ thông tin. 13 Luan van Tính biểu tƣợng là khả năng trình bày, diễn đạt một ý nghĩa trừu tƣợng, sâu sắc bằng một hình ảnh cụ thể. Nhờ có tính biểu tƣợng mà giúp di sản văn hóa giàu có, phong phú hơn rất nhiều so với số lƣợng các hiện vật hay hình tƣợng mà một nền văn hóa sản sinh ra, vì một hình tƣợng, một hiện vật có thể chứa vô số lớp nghĩa khác nhau. Tính biểu tƣợng của văn hóa buộc con ngƣời khi giao tiếp với nhau phải có hiểu biết chung về văn hóa, nó thể hiện bản sắc nhƣng cũng là rào cản khi những ngƣời thuộc các nền văn hóa khác nhau giao tiếp với nhau.
Di sản văn hóa còn mang tính sử liệu. Bất cứ vật thể đại diện cho một sự kiện lịch sử trọng đại nào, một giai đoạn lịch sử tiêu biểu, hay một nhân vật lịch sử nào cũng đều có thể trở thành di sản văn hóa. Nó ghi dấu các sự kiện trọng đại, hơn thế nữa, di sản văn hóa còn cung cấp các dữ liệu. Đó chính là tƣ liệu phản ánh trình độ, quan niệm của mỗi cộng đồng, quốc gia trong quá trình lịch sử.
Do những đổi thay liên tục của lịch sử mà các di sản luôn mang những dấu tích của thời đại, do vậy, chúng lƣu trữ trong mình những sử liệu thuộc nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau. Tuy một đối tƣợng hay sự vật không nhất thiết phải hội tụ cả ba yếu tố trên nhƣng ít nhất phải có một tiêu chí đặc sắc thì đối tƣợng hay sự vật ấy mới trở thành di sản văn hóa. Di sản văn hóa phi vật thể 1. Khái niệm “Ở Việt Nam, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được coi là hai bộ phận chính cấu thành kho tàng di sản văn hóa dân tộc.
Chúng luôn gắn bó mật thiết, có tác động tương hỗ và tôn vinh lẫn nhau, nhưng vẫn có tính độc lập tương đối.