Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Phát huy giá trị di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch tỉnh Thái Bình" do sinh viên Phạm Thị Minh Huyền thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Lê Thanh Tùng tại Trường Đại học Dân lập Hải Phòng (năm 2011), thuộc ngành Văn hóa Du lịch. Đề tài thuộc loại hình nghiên cứu ứng dụng và khảo sát thực trạng trong lĩnh vực du lịch văn hóa.
Về bối cảnh thực tiễn, tác giả chỉ ra rằng Thái Bình là vùng đất có bề dày lịch sử lâu đời, lưu giữ một hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú. Tuy nhiên, trái ngược với xu thế tăng trưởng của du lịch cả nước và quốc tế, nguồn tài nguyên văn hóa quý giá của địa phương thời điểm đó chưa được khai thác tương xứng với tiềm năng, thậm chí một số mặt còn bị lãng quên. Việc nhận diện chính xác và khai thác hợp lý các giá trị di sản để phục vụ du lịch được xác định là hướng đi quan trọng nhằm tạo nguồn thu, giải quyết việc làm cho người dân địa phương và thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội của tỉnh.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể qua ba nhiệm vụ chính:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về di sản văn hóa trong mối quan hệ với hoạt động phát triển du lịch.
- Tìm hiểu, khảo sát thực trạng công tác khai thác du lịch đối với các di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
- Đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả khai thác du lịch đối với các giá trị di sản văn hóa của tỉnh Thái Bình trong giai đoạn tiếp theo.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống các di sản văn hóa vật thể (đình, đền, chùa, miếu, di chỉ khảo cổ, khu lưu niệm danh nhân và di tích lịch sử cách mạng) cùng các di sản văn hóa phi vật thể (lễ hội, làng nghề thủ công, nghệ thuật diễn xướng dân gian) trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
- Phạm vi nghiên cứu: Về không gian, đề tài giới hạn trong địa giới hành chính tỉnh Thái Bình bao gồm thành phố Thái Bình và 7 huyện (Vũ Thư, Kiến Xương, Đông Hưng, Quỳnh Phụ, Hưng Hà, Thái Thụy, Tiền Hải). Về thời gian, các dữ liệu kiểm kê di tích, thực trạng kinh tế - xã hội và hoạt động du lịch được thu thập, xử lý theo mốc thời gian đến năm 2010 - 2011.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Về khung lý luận, tác giả vận dụng các định nghĩa học thuật và văn bản quy phạm pháp luật làm nền tảng phân tích:
- Thuật ngữ "Di sản" được soi chiếu qua định nghĩa trong "Đại từ điển Tiếng Việt" của GS.TS Nguyễn Như Ý ("tài sản của người đã chết để lại" và "giá trị tinh thần và vật chất của văn hóa thế giới hay một quốc gia, một dân tộc để lại") cùng quan niệm của France.L ("những giá trị vật chất, phi vật chất được lưu giữ nhiều đời").
- Khung pháp lý quốc tế và quốc gia gồm: "Công ước bảo vệ di sản thế giới về văn hóa và thiên nhiên" của UNESCO (thông qua ngày 16/11/1972, có hiệu lực từ tháng 12/1975) với cách phân chia di sản văn hóa hữu thể (Tangible) và vô thể (Intangible); cùng Luật Di sản văn hóa Việt Nam (có hiệu lực từ ngày 01/01/2002). Tác giả trích dẫn chuẩn xác các khái niệm pháp lý về di sản văn hóa phi vật thể, di sản văn hóa vật thể, di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia.
- Mối quan hệ tương hỗ giữa di sản và du lịch: Di sản văn hóa đóng vai trò là tài nguyên du lịch nhân văn đặc biệt, cấu thành nên sản phẩm du lịch và thúc đẩy động cơ du lịch. Ngược lại, du lịch văn hóa tạo nguồn kinh phí tái đầu tư cho công tác bảo tồn, lan tỏa bản sắc văn hóa nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro xâm hại, thương mại hóa thiếu kiểm soát nếu khai thác lệch lạc.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai bao gồm:
- Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Thu thập thông tin thứ cấp, báo cáo tổng kết, niên giám thống kê và tư liệu lịch sử từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình, Bảo tàng Thái Bình, thư tịch cổ và văn bia địa phương.
- Phương pháp khảo sát, điều tra thực địa: Trực tiếp tiếp cận các điểm di tích, ghi nhận các hoạt động thực tế của du khách và hiện trạng quản lý công trình.
- Phương pháp điền dã, phỏng vấn nhân chứng: Tiếp cận cư dân địa phương, nghệ nhân, thủ từ và những người am hiểu sâu về phong tục tập quán, lịch sử di tích và lễ hội để bổ sung các nguồn tư liệu thực chứng.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp và đánh giá: Hệ thống hóa, phân loại các nhóm di sản và đối chiếu hiện trạng nhằm rút ra những nhận xét khách quan làm cơ sở đề xuất giải pháp.
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm số liệu kiểm kê di tích năm 2010 của ngành văn hóa Thái Bình, số liệu thống kê dân số - kinh tế - xã hội địa phương giai đoạn 1998 - 2004 và các tài liệu lịch sử, hồ sơ xếp hạng di tích cấp quốc gia.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về di sản văn hóa
Nội dung chương 1 tập trung làm rõ hệ thống khái niệm cốt lõi và các mối liên hệ giữa di sản với phát triển du lịch:
- Phân tích quá trình hình thành khái niệm di sản từ cách hiểu tài sản thừa kế thông thường đến khái niệm học thuật hiện đại sau khi Công ước UNESCO 1972 ra đời, thay thế cho khái niệm "kỳ quan thế giới" vốn chỉ giới hạn ở một số công trình riêng lẻ.
- Xác định bản chất của du lịch văn hóa và du lịch di sản: Là hình thức du lịch giúp du khách thụ hưởng các giá trị vật chất và tinh thần truyền thống, đóng vai trò giáo dục lòng yêu nước, nâng cao nhận thức và kết nối giao lưu văn hóa giữa các vùng miền và quốc tế.
- Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa bảo tồn di sản và phát triển du lịch: Di sản văn hóa tạo nguồn lực phát triển kinh tế địa phương, kích thích mở rộng các ngành giao thông vận tải, nông nghiệp, dịch vụ và giải quyết việc làm. Tuy nhiên, chương này cũng cảnh báo tác động tiêu cực của du lịch nếu bị thương mại hóa quá mức, dẫn đến trình diễn sai lệch bản sắc hoặc xâm phạm không gian sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng truyền thống (tác giả dẫn chứng trường hợp biến tướng tại chợ tình Sa Pa).
Chương 2: Thực trạng khai thác du lịch đối với các di sản văn hóa ở Thái Bình
Chương 2 cung cấp bức tranh toàn cảnh về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng tài nguyên di sản của tỉnh Thái Bình.
Về khái quát địa bàn:
- Thái Bình nằm ở tọa độ 20°17’ - 20°44’B và 106°06’ - 106°39’Đ, giáp biển Đông, Hà Nam, Hưng Yên, Nam Định, Hải Dương và Hải Phòng; cách Hải Phòng 70km, cách Hà Nội 110km. Địa hình đồng bằng không có rừng, thấp dần từ Bắc xuống Nam, cao độ trung bình 1 - 2m. Khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình năm 23 - 24°C, lượng mưa trung bình 1500 - 1900mm.
- Tài nguyên khoáng sản nổi bật gồm mỏ khí đốt Tiền Hải, mỏ nước khoáng Tiền Hải ở độ sâu 450m (trữ lượng tĩnh khoảng 12 triệu m³, khai thác từ năm 1992 với sản lượng 9,5 triệu lít/năm) và bể than nâu đồng bằng sông Hồng có trữ lượng trên 30 tỷ tấn phân bố ở độ sâu 600 - 1000m.
- Về dân số và lao động: Thống kê năm 2004 ghi nhận dân số toàn tỉnh là 1.800 nghìn người (mật độ 1.195 người/km²), dân cư nông thôn chiếm 94,2%, thành thị chiếm 5,8%. Lực lượng lao động trong độ tuổi là 1.000 nghìn người, trong đó khu vực nông - lâm nghiệp chiếm 74,3%, công nghiệp - xây dựng chiếm 17%, dịch vụ - thương mại chiếm 8,7%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 23,5%.
Về thống kê di sản văn hóa vật thể:
Theo số liệu thống kê năm 2010 của tỉnh, toàn tỉnh có 2.176 di tích các loại, trong đó có 455 di tích đã lập hồ sơ xếp hạng và được Nhà nước bảo vệ.
| Đơn vị hành chính |
Số lượng di tích (năm 2010) |
| Huyện Hưng Hà |
551 |
| Huyện Quỳnh Phụ |
349 |
| Huyện Vũ Thư |
303 |
| Huyện Kiến Xương |
265 |
| Huyện Thái Thụy |
260 |
| Huyện Đông Hưng |
230 |
| Huyện Tiền Hải |
171 |
| Thành phố Thái Bình |
47 |
| Tổng cộng toàn tỉnh |
2.176 |
Khóa luận đi sâu khảo tả chi tiết lịch sử xây dựng, quy mô kiến trúc và giá trị nghệ thuật của các di tích tiêu biểu đã được xếp hạng di tích quốc gia:
| Tên di tích |
Địa điểm |
Niên đại / Lịch sử xây dựng |
Đặc điểm kiến trúc và giá trị tiêu biểu |
Ngày xếp hạng QG |
| Chùa Keo (Thần Quang Tự) |
Xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư |
Khởi dựng 1061 ven sông Hồng; dựng lại năm 1630 - 1632 tại làng Dũng Nhuệ |
Diện tích 58.000m², 17 công trình, 128 gian kiểu "nội công ngoại quốc". Gác chuông cao 11,04m gồm 3 tầng mái, kết cấu mộng gỗ với gần 100 đàn đầu voi, nâng 12 mái ngói; bộ cánh cửa tam quan nội chạm rồng thời Lê. |
28/04/1962 |
| Chùa Ngọc Động (Chùa Am) |
Thôn Lộng Khê, xã An Khê, huyện Quỳnh Phụ |
Khởi dựng thời Lý; bị phá hủy năm 1950 - 1951; trùng tạo lại từ năm 1993 đến 1995 |
Quần thể bái đường (7 gian), phật điện (5 gian) trên nền cao gần 4m dật 13 cấp; giữ được 3 ngôi bảo tháp thời Hậu Lê cao 9,5m gồm 9 tầng; chuông đồng đúc năm 1996 nặng trên 350kg. |
25/02/1998 |
| Đền Đồng Bằng |
Xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ |
Khởi dựng từ thời Hùng Vương thứ 18; trùng tu thời Nguyễn |
Tổng diện tích 20.500m² (nội tự 6.000m²), 13 tòa, 66 gian liên kết chung mái. Tam quan Đại môn kiểu cung đình Huế, hồ Ao Rồng, các cung: Đại Sảnh, Đệ Tam, Đệ Nhị, Đệ Nhất, Tam vị Thánh Mẫu, Chư vị quan lớn, Cung Cấm. |
12/12/1989 |
| Đền Đồng Xâm |
Xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương |
Thờ Triệu Vũ Đế, Trình Thị Hoàng Hậu và Nguyễn Kim Lâu |
Quần thể gần 10.000m² bên sông Vông; tòa tiền tế 5 gian cao 13m; trung tế kiểu phương đình; khám thờ chạm đồng thủng tinh xảo, tượng đồng khảm vàng bạc thiếp bạc. |
30/10/1990 |
| Đình Tống Thỏ |
Xã Đông Mỹ, huyện Đông Hưng |
Khởi dựng thế kỷ XVI; làm lại đình ngoài năm 1911, đình trong năm 1923 |
Kiến trúc chữ Nhị, vì kèo kiểu "thượng chắp mảng, hạ chồng giường", cột đá xanh chạm câu đối; thờ 12 vị nhân thần (tiêu biểu có quan Hà đê sứ Hắc Hiển linh tôn thần triều Trần). |
16/12/1993 |
| Đình Thượng Phúc |
Xã Quang Trung, huyện Kiến Xương |
Tiền thân thế kỷ XVII; tu sửa năm 1893; dựng lại Đại Bái năm 1919 |
Kiến trúc "tiền nhất hậu công", gác lâu chồng diêm 3 tầng mái cao trên 10m; thờ Tam vị thành hoàng; từng là cơ sở in bí mật của Tỉnh ủy Thái Bình giai đoạn 1936 - 1945. |
30/10/1990 |
| Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh |
Xã Tân Hòa, huyện Vũ Thư |
Xây dựng căn cứ sơ tán năm 1965; bổ sung nhà trưng bày năm 1974 |
Gồm nhà lá 6 gian nguyên gốc, hầm bê tông sâu 3m chạy dọc 6 gian nhà; nơi Bác Hồ về nghỉ đêm 31/12/1966 - 01/01/1967 khi về thăm và biểu dương Thái Bình đạt năng suất lúa 5 tấn/ha. |
12/12/1986 |
| Di chỉ khảo cổ học Tam Đường |
Xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà |
Khai quật khảo cổ từ 1968, 1972, 1979 - 1980 |
Khu mộ địa thời Trần (phần Thính, Trung, Đa, Bụt, Cựu, Mả Tít...); thu được 296 hiện vật lớn và hàng ngàn mảnh gốm sứ men ngọc, gạch in chữ "Vĩnh Ninh Trường", tượng đầu rồng đất nung. |
30/10/1990 |
| Từ đường Ngô Quang Bích |
Xã An Ninh, huyện Tiền Hải |
Xây dựng tại quê hương làng Trình Phố |
Kiến trúc chữ Nhị thờ thủ lĩnh phong trào Cần Vương Bắc Kỳ; lưu giữ quần thể gồm từ đường, cây đa Gò Chài và mộ phần lục lăng (mỗi chiều 1,5m, cao 1m) của danh nhân. |
Năm 1986 |
Về di sản văn hóa phi vật thể: Khóa luận ghi nhận Thái Bình sở hữu vốn văn hóa dân gian gắn với nền văn minh lúa nước sông Hồng, nổi bật là nghệ thuật chèo, múa rối nước, hát văn, hát trống cơm; hệ thống các làng nghề truyền thống lâu đời (như nghề chạm bạc Đồng Xâm) và hàng loạt lễ hội cổ truyền (lễ hội Chùa Keo, đền Đồng Bằng, đền Tiên La, hội làng Dương Xá, An Cố, chùa Am, đền Hét...).
Tác giả đánh giá tổng hợp di sản Thái Bình hội tụ 5 giá trị cốt lõi: giá trị lịch sử, giá trị nhân văn, giá trị điêu khắc, giá trị thẩm mỹ, và giá trị đạo đức hướng về nguồn cội.
Chương 3: Một số giải pháp tăng cường hiệu quả khai thác du lịch đối với các di sản văn hóa ở Thái Bình
Chương 3 phân tích những tồn tại thực tế và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động:
- Chỉ ra các điểm hạn chế trong công tác quản lý: Một số di tích vật thể bị xuống cấp do thời gian và thiên tai nhưng thiếu nguồn vốn trùng tu kịp thời; công tác bảo tồn di sản phi vật thể còn thiếu bài bản, nguy cơ mai một các bí quyết nghề thủ công và điệu múa cổ truyền; các hoạt động lễ hội có thời điểm bị lạm dụng hoặc tổ chức chưa tương xứng với giá trị lịch sử.
- Đề xuất 5 nhóm giải pháp chiến lược:
- Giải pháp tuyên truyền, quảng bá hình ảnh du lịch văn hóa: Đẩy mạnh giới thiệu các điểm đến đặc sắc của Thái Bình qua các phương tiện thông tin đại chúng, xuất bản ấn phẩm, phối hợp liên kết tour tuyến với các trung tâm du lịch lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh.
- Giải pháp phát triển sản phẩm du lịch văn hóa: Đa dạng hóa sản phẩm du lịch, gắn tham quan di tích lịch sử - kiến trúc với trải nghiệm lễ hội truyền thống, thưởng thức biểu diễn chèo, múa rối nước và mua sắm sản phẩm mỹ nghệ chạm bạc, dệt chiếu.
- Giải pháp khuyến khích thu hút đầu tư: Ban hành cơ chế chính sách thông thoáng nhằm huy động các nguồn lực xã hội hóa, kêu gọi vốn đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng giao thông, hệ thống khách sạn, nhà hàng và dịch vụ phụ trợ quanh các cụm di tích.
- Giải pháp về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực: Mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ hướng dẫn viên, thuyết minh viên tại điểm, nâng cao trình độ quản lý văn hóa du lịch cho cán bộ cơ sở và bồi dưỡng văn hóa giao tiếp, phục vụ cho cộng đồng dân cư địa phương.
- Giải pháp bảo vệ môi trường đảm bảo sự phát triển du lịch bền vững: Xây dựng quy chế kiểm soát rác thải, bảo đảm vệ sinh môi trường tại các khu di tích và điểm diễn ra lễ hội, phân luồng khách tránh gây quá tải làm hư hại di sản gốc.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể gắn với dữ liệu khảo sát thực tế:
- Cung cấp số liệu kiểm kê toàn diện năm 2010 về hệ thống di tích tỉnh Thái Bình (tổng số 2.176 di tích, 455 di tích đã xếp hạng bảo vệ), đồng thời phân bổ chi tiết mật độ di tích theo 8 huyện và thành phố.
- Khảo tả chi tiết các số liệu kỹ thuật, kiến trúc và lịch sử của các di sản cấp quốc gia: cấu trúc gác chuông Chùa Keo (cao 11,04m, 12 mái ngói, 12 đao loan, gần 100 đàn đầu voi, khánh đá cao 1,2m, chuông đồng 1686 cao 1,3m đường kính 1m); diện tích khu đền Đồng Bằng (20.500m², nội tự 6.000m² với 13 tòa, 66 gian); đền Đồng Xâm (gần 10.000m², tòa tiền tế cao 13m); thông số khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Tân Hòa (hầm bê tông lòng rộng 1,4m, cao 2m, sâu 3m dưới nền nhà chạy suốt 6 gian).
- Khái quát các tư liệu khai quật khảo cổ học tại Tam Đường (xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà) qua các đợt 1968, 1972, 1979 - 1980 với diện tích khai quật trên 600m², thu được 296 hiện vật lớn chứng minh vết tích lăng tẩm và hành cung thời Trần.
- Đóng góp khoa học của đề tài: Tác giả đã tổng hợp và kết nối thành công hệ thống dữ liệu phân tán về lịch sử, khảo cổ và kiến trúc địa phương vào khung nghiên cứu của ngành Văn hóa Du lịch, tạo lập cơ sở thực tiễn để định hướng xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng cho tỉnh Thái Bình tại thời điểm năm 2011.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Do giới hạn nguồn lực và thời điểm thực hiện năm 2011, các số liệu kinh tế - xã hội (dân số năm 2004, di tích năm 2010) chưa được cập nhật liên tục theo biến động những năm sau đó.
- Khóa luận chưa triển khai các kỹ thuật điều tra định lượng bằng bảng hỏi quy mô lớn đối với khách du lịch, thiếu các chỉ số đo lường mức độ chi tiêu, thời gian lưu trú và phân tích chuyên sâu về sức chứa của từng điểm di tích.
- Nội dung nghiên cứu về di sản phi vật thể tập trung chủ yếu vào việc liệt kê, mô tả các lễ hội và loại hình nghệ thuật dân gian mà chưa phân tích sâu chuỗi giá trị và cơ chế bảo tồn nguồn nhân lực nghệ nhân dân gian.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Cần tiếp tục khảo sát, cập nhật thực trạng số lượng và hiện trạng xếp hạng di tích theo các quy hoạch phát triển du lịch mới của tỉnh Thái Bình.
- Ứng dụng các mô hình nghiên cứu định lượng để đánh giá mức độ hài lòng và hành vi tiêu dùng của du khách tại các điểm du lịch tâm linh, văn hóa.
- Nghiên cứu sâu các phương án liên kết vùng, thiết kế các tuyến du lịch chuyên đề kết nối di sản văn hóa Thái Bình với chuỗi du lịch đồng bằng sông Hồng.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho sinh viên, học viên chuyên ngành Văn hóa Du lịch, Du lịch học, Quản lý văn hóa, Việt Nam học và Lịch sử địa phương khi tìm kiếm tư liệu về di sản văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Nội dung hữu ích và đáng chú ý nhất của tài liệu là Chương 2, nơi tác giả tập hợp chi tiết hồ sơ kiến trúc, niên đại xây dựng, văn bia, truyền thuyết và mốc xếp hạng di tích cấp quốc gia của 9 công trình và cụm di tích tiêu biểu tại Thái Bình. Đây là nguồn dữ liệu thực địa cô đọng, hữu ích cho việc biên soạn tài liệu thuyết minh du lịch và xây dựng hồ sơ tuyến điểm tham quan văn hóa trên địa bàn tỉnh.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo số liệu thống kê trong khóa luận, tỉnh Thái Bình có bao nhiêu di tích và địa phương nào có số lượng di tích lớn nhất?
Theo số liệu thống kê năm 2010 được trích dẫn trong khóa luận, toàn tỉnh Thái Bình có 2.176 di tích các loại, trong đó có 455 di tích đã được lập hồ sơ xếp hạng và Nhà nước ra quyết định bảo vệ. Huyện Hưng Hà là địa phương có số lượng di tích lớn nhất tỉnh với 551 di tích, tiếp theo là huyện Quỳnh Phụ với 349 di tích và huyện Vũ Thư với 303 di tích.
2. Tòa gác chuông chùa Keo (Vũ Thư) có đặc điểm quy mô và kết cấu kiến trúc như thế nào?
Gác chuông chùa Keo cao 11,04m, gồm 3 tầng mái kết cấu bằng những con sơn chồng lên nhau. Bộ khung làm hoàn toàn bằng gỗ liên kết bằng mộng, nâng đỡ 12 mái ngói và 12 đao loan uốn cong, sử dụng bộ mái kết cấu gần 100 đàn đầu voi. Tầng thứ nhất treo khánh đá cao 1,2m; tầng thứ hai treo quả chuông đồng đúc năm 1686 (cao 1,3m, đường kính 1m); tầng ba và tầng thượng treo hai quả chuông nhỏ đúc năm 1796 (cao 0,62m, đường kính 0,69m).
3. Đền Đồng Xâm (Kiến Xương) thờ phụng những nhân vật lịch sử nào và nghệ thuật trang trí tại đây có gì độc đáo?
Đền Đồng Xâm thờ ba vị nhân thần: Triệu Vũ Đế, Trình Thị Hoàng Hậu (vợ Triệu Vũ Đế) và Nguyễn Kim Lâu (vị tổ nghề chạm bạc cổ truyền). Nghệ thuật kiến trúc tại đền được xem là tập đại thành của nghệ thuật chạm khắc gỗ, đá, kim loại và đắp vữa thời Nguyễn. Nổi bật là khám gian tại hậu cung được bọc kín bằng các lá đồng chạm thủng đề tài tứ linh, tứ quý và đặt hai pho tượng Triệu Vũ Đế, Trình Thị Hoàng Hậu bằng đồng khảm vàng, bạc, thiếp bạc.
4. Di tích Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại xã Tân Hòa, huyện Vũ Thư gắn liền với sự kiện lịch sử nào?
Di tích được xây dựng trên nền trụ sở sơ tán của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thái Bình trong kháng chiến chống Mỹ (từ năm 1965). Nơi đây ghi dấu sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí Tố Hữu, Hoàng Anh về thăm Thái Bình và nghỉ lại đêm giao thừa 31/12/1966 - 01/01/1967 để động viên Đảng bộ và nhân dân địa phương đạt kỳ tích sản xuất lúa 5 tấn/ha.
5. Những phát hiện khảo cổ học nổi bật tại di chỉ Tam Đường (Hưng Hà) gồm những gì?
Tại Tam Đường, giới khảo cổ đã phát hiện khu mộ địa thời Trần với các phần mộ có quy mô lớn (phần Thính, Trung, Đa, Bụt, Cựu, Mả Tít...). Trong các đợt khai quật (đặc biệt là năm 1979 - 1980 trên diện tích hơn 600m² tại Cồn Nhãn và Phần Bia), các nhà khảo cổ đã thu được 296 hiện vật lớn cùng hàng ngàn mảnh gốm sứ hoa nâu, men ngọc, nhiều gạch ngói in nổi chữ "Vĩnh Ninh Trường" và các tượng rồng, phượng bằng đất nung khẳng định dấu tích hành cung Long Hưng và lăng tẩm hoàng gia triều Trần.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Minh Huyền đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa di sản văn hóa và hoạt động du lịch, đồng thời phản ánh chi tiết thực trạng tài nguyên di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của tỉnh Thái Bình tính đến năm 2011. Công trình nổi bật ở việc tổng hợp số liệu kiểm kê di tích toàn diện, khảo tả cụ thể các giá trị lịch sử - kiến trúc của các di tích cấp quốc gia tiêu biểu như Chùa Keo, Đền Đồng Bằng, Đền Đồng Xâm, di chỉ Tam Đường và khu lưu niệm Bác Hồ tại Tân Hòa. Những phân tích về hạn chế trong quản lý cùng 5 nhóm giải pháp được đề xuất cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho công tác quy hoạch, khai thác du lịch văn hóa bền vững tại địa phương.