PHẦN MỞ ĐẦU Sinh viªn: Ph¹m ThÞ Minh HuyÒn - Líp: VHL 301 7 Kho¸ luËn tèt nghiÖp 1. Tính cấp thiết của đề tài v nhiều. Điều đó đã để lại các loại hình di sản văn hóa đa dạng là nguồn tài nguyên vô cùng độc đáo, hấp dẫn. Nhƣng trong những năm qua, trái ngƣợc với xu thế phát triển du lịch của thế giới và đất nƣớc, nguồn tài nguyên di sản văn hóa quý giá của tỉnh chƣa đƣợc khai thác đúng mức xứng với tiềm năng nếu không muốn nói là bị lãng quên.
Thực tế cho thấy việc xác định đúng đắn những giá trị to lớn của nguồn tài nguyên này để khai thác phục vụ du lịch thì sẽ đem lại một nguồn lợi to lớn về mọi mặt kinh tế - xã hội của tỉnh. Nó góp phần tạo thêm thu nhập, việc làm cho ngƣời dân, thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển. Xuất phát từ thực tế trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Phát huy giá trị di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch tỉnh Thái Bình”, mong muốn góp một phần nhỏ bé vào việc nâng cao nhận thức về công tác phát huy những giá trị di sản văn hóa để từ đó có những giải pháp tăng cƣờng hiệu quả khai thác nguồn tài nguyên này một cách có hiệu quả, mang lại giá trị to lớn Sinh viªn: Ph¹m ThÞ Minh HuyÒn - Líp: VHL 301 8 Kho¸ luËn tèt nghiÖp cho mảnh đất Thái Bình. Mục tiêu nghiên cứu Hệ thống hóa lý luận về di sản văn hóa trong phát triển du lịch.
Tìm hiểu thực trạng khai thác du lịch đối với các di sản văn hóa ở Thái Bình. Đƣa ra một số giải pháp để tăng cƣờng hiệu quả khai thác du lịch đối với các di sản văn hóa ở Thái Bình. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu: Các di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể của tỉnh Thái Bình.
Phạm vi nghiên cứu: Tỉnh Thái Bình. Phƣơng pháp nghiên cứu 4. Đây là phƣơng pháp hết sức cần thiết cho việc thực hiện các đề tài nghiên cứu về du lịch. Để có một lƣợng thông tin cung cấp cho bài viết về đề tài: “Phát huy giá trị di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch tỉnh Thái Bình”, tác giả phải tiến hành thu thập các số liệu, thông tin từ nhiều nguồn khác nhau sau đó xử lý chúng để hoàn thành bài viết của mình.
Đây là phƣơng pháp hết sức quan trọng đƣợc sử dụng để làm tăng tính thuyết phục cho bài viết với nhiều thông tin ghi nhận chân thực xuất phát trong quá trình ngƣời viết đi thu thập số liệu, thông tin về sự tham gia của du khách khi tìm hiểu về các di sản văn hóa. Từ đó có thể hiểu đƣợc giá trị to lớn của nguồn tài nguyên này và có thể đối chiếu, bổ sung những thông tin cần thiết mà các phƣơng pháp khác không cung cấp hoặc cung cấp chƣa đầy đủ. p Trong quá trình thực hiện bài viết, ngƣời viết đã tìm hiểu và khai thác nguồn thông tin từ chính những cƣ dân địa phƣơng, những ngƣời có sự hiểu biết chuyên sâu về các di sản văn hóa ở địa phƣơng nhƣ các lễ hội, các di tích lịch sử văn hóa để bổ sung thông tin thực tiễn cho bài viết. Sinh viªn: Ph¹m ThÞ Minh HuyÒn - Líp: VHL 301 9 Kho¸ luËn tèt nghiÖp 4.
Là phƣơng pháp sử dụng để phân tích, đánh giá, tổng hợp, đƣa ra nhận xét dựa trên các tƣ liệu đã thu thập đƣợc từ những phƣơng pháp trên. Từ đó có cái nhìn tổng quát hơn về vấn đề mà mình nghiên cứu. Cấu trúc của khóa luận , khóa luận đƣợc cấu trúc thành ba chƣơng: về di sản văn hóa. Sinh viªn: Ph¹m ThÞ Minh HuyÒn - Líp: VHL 301 10 Kho¸ luËn tèt nghiÖp PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DI SẢN VĂN HÓA 1.
KHÁI NIỆM DI SẢN VĂN HÓA 1. Khái niệm di sản Ngày nay, “Di sản” là một thuật ngữ đƣợc nhiều ngƣời biết đến và sử dụng. Theo cách hiểu chung của mọi ngƣời thì “di sản” nghĩa là của cải, tài sản của cha ông để lại. Theo cách hiểu này trong cuốn: “Đại từ điển Tiếng Việt” của GS.TS Nguyễn Nhƣ Ý có giải thích nhƣ sau: “Di sản là tài sản của người đã chết để lại” và “Di sản là giá trị tinh thần và vật chất của văn hóa thế giới hay một quốc gia, một dân tộc để lại”.
Đồng với quan niệm này France.L cũng có định nghĩa về “di sản” nhƣ sau: “Di sản là những giá trị vật chất, phi vật chất được lưu giữ nhiều đời”. Với cách hiểu này ta thƣờng thấy xuất hiện trong các thuật ngữ đƣợc sử dụng phổ biến hiện nay đó là “Di sản thế giới” (World Heritage), “Di sản thiên nhiên” (Natural Heritage) và “Di sản văn hóa” (Cultural Heritage). Về thuật ngữ di sản, ta có thể dễ dàng nhận thấy cụm từ “di sản” đã đƣợc dùng rất lâu ở Việt Nam và khắp nơi trên thế giới. Tuy nhiên đó mới chỉ dừng lại ở cách hiểu thứ nhất còn với cách hiểu thứ hai thì thuật ngữ “di sản” mới chỉ sử dụng trong vài thập niên trở lại đây.
Bởi trƣớc khi có “Công ƣớc bảo vệ di sản thế giới về văn hóa và thiên nhiên” gọi tắt là “Công ƣớc bảo vệ di sản thế giới” đƣợc UNESCO thông qua (16/11/1972) và có hiệu lực thi hành (12/1975) thì trên thế giới ngƣời ta chƣa sử dụng thuật ngữ “di sản” để chỉ những giá trị vật chất và tinh thần mang tầm vóc quốc gia, dân tộc hay nói rộng hơn là của toàn thế giới. Mà thực ra trƣớc đó trên thế giới con ngƣời mới chỉ sử dụng thuật ngữ “Kỳ quan thế giới” để chỉ những công trình hoàn chỉnh nhất nhƣ: “Bảy kỳ quan thế giới cổ đại”, “Bảy kỳ quan thiên nhiên thế giới”, “Bảy kỳ quan thế giới trong lĩnh vực khoa học hiện đại”. Nhƣ vậy, có thể nói thuật ngữ “Di sản” chính thức đƣợc sử dụng rộng rãi và phổ biến sau khi có “Công ƣớc bảo vệ di sản thế giới” ra đời. Nó để chỉ những công trình tuyệt mỹ và hoàn hảo do con ngƣời Sinh viªn: Ph¹m ThÞ Minh HuyÒn - Líp: VHL 301 11 Kho¸ luËn tèt nghiÖp sáng tạo cũng nhƣ của tự nhiên đƣợc lƣu truyền từ nhiều đời của một dân tộc, một cộng đồng hay một quốc gia.
Khái niệm di sản văn hóa Theo UNESCO: “Di sản văn hóa là toàn bộ kết quả sáng tạo văn hóa của các thế hệ trước để lại”. Di sản văn hóa gồm: Di sản văn hóa hữu thể (Tangble) và di sản văn hóa vô thể (Intangble). Theo luật di sản văn hóa có hiệu lực từ ngày 1/1/2002 thì “Di sản văn hóa” đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. - Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học đƣợc lƣu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, đƣợc lƣu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lƣu giữ lƣu truyền khác, bao gồm tiếng nói, diễn xƣớng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y học, dƣợc học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác.
- Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. + Di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. + Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học. + Di vật là hiện vật đƣợc lƣu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
+ Cổ vật là hiện vật đƣợc lƣu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử văn Sinh viªn: Ph¹m ThÞ Minh HuyÒn - Líp: VHL 301 12 Kho¸ luËn tèt nghiÖp hóa, khoa học có từ một trăm năm tuổi trở lên. + Bảo vật quốc gia là hiện vật đƣợc lƣu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nƣớc về lịch sử, văn hóa, khoa học. Du lịch văn hóa - Du lịch di sản Ta có thể hiểu du lịch văn hóa hay du lịch di sản là những loại hình du lịch mà ở đó con ngƣời đƣợc hƣởng thụ những sản phẩm văn hóa, những giá trị vật chất, tinh thần của nhân loại, của một quốc gia, của một vùng hoặc một dân tộc. Du lịch văn hóa, du lịch di sản là những loại hình du lịch không mới nhƣng ngày nay bên cạnh du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm thì du lịch văn hóa ngày càng thu hút đƣợc nhiều du khách bởi du lịch văn hóa tập trung vào khai thác các giá trị văn hóa của những nơi đến bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể mà trong đó có sự khác biệt giữa các miền.
Sự phát triển của du lịch văn hóa không chỉ có ý nghĩa trong việc giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống mà nó còn là nhịp cầu nối các dân tộc với nhau nhất là trong xu thế mở rộng hợp tác quốc tế toàn cầu hóa hiện nay đồng thời phát triển xu hƣớng con ngƣời hành hƣơng trở về nguồn cội bản thể của mình. Tất cả khách du lịch có trình độ văn hóa trung bình trở lên đều có thể thƣởng thức các giá trị văn hóa của đất nƣớc họ và những đất nƣớc họ đến thăm. Du lịch văn hóa không chỉ đáp ứng nhu cầu du lịch của mọi ngƣời mà còn mang ý nghĩa giáo dục rất lớn. Điều đó lý giải tại sao con ngƣời luôn muốn hƣớng về du lịch văn hóa và cũng chính điều đó đã thúc đẩy du lịch văn hóa phát triển.
Du lịch văn hóa trong giai đoạn ngày nay không chỉ tập trung trong một quốc gia mà nó còn là sự giao lƣu văn hóa giữa các quốc gia trên toàn thế giới.