Chương 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VA CÔNG UOC BAO VỆ DI SÁN VĂN HÓA PHI VAT THE 1. Téng quan tình hình nghiên cứu 1. Tổng quan các công trình bảo vệ di sản văn hóa phi vật thé ở Châu A - Thái Bình Dương Công ước Bảo vệ DSVHPVT là kết quả của một quá trình lâu dài của UNESCO, được thiết kế để đáp ứng yêu cầu bảo vệ văn hóa truyền khẩu và phi vật thể, được lồng vào một mạng lưới phức tạp của các khái niệm với các di sản chính tri va lịch sử. Với sự thúc đây của UNESCO và các quốc gia thành viên, khái nệm di sản văn hóa phi vật thể nhanh chóng ảnh hưởng đến lĩnh vực chính sách văn hóa và các học viện quốc tế.
Phần tổng quan này dé cập đến các nghiên cứu điền hình từ Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Malaysia, được thực hiện bởi các học giả từ Châu A, châu Au và châu Mỹ dé làm sáng tỏ nhiều van đề khác nhau giữa lý thuyết và thực hành xoay quanh định nghĩa, ghi danh và bảo vệ di sản văn hóa phi vật thé trong bối cảnh Châu Á - Thái Bình Dương. Nghiên cứu về Mô hình Châu Á về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể Chương trình di sản văn hóa phi vật thé của UNESCO được xem là bắt nguồn từ một bức thư được viết vào năm 1973 của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Tôn giáo Cộng hòa Bolivia gửi cho Tổng Giám đốc của UNESCO. Vì vậy, Valdimar Hafstein gọi giai đoạn đầu của chương trình di sản văn hóa phi vật thé là thuộc về “mô hình lưu trữ lấy cảm hứng từ châu Âu”, nhắn mạnh kiến thức chuyên môn và tính trọng yếu thông qua tài liệu, mô tả giai đoạn thứ hai là một “mô hình Đông Á” nhắn mạnh vào việc tiếp tục truyền tải kiến thức từ thế hệ này sang thé hệ khác [76, tr. “Mô hình Đông A” này bị ảnh hưởng nặng nề bởi Nhật Bản và Han Quốc [77].
Từ quan điểm của Hafstein, Leah Lowthorp lập luận về việc mở rộng đặc điểm khu vực ra ngoài Đông Á và gợi ý khả năng có một mô hình di sản “toàn Châu A” rộng lớn hơn, nhân mạnh vào việc truyền tải văn hóa biéu đạt giữa các thé hệ và sự thừa nhận rõ ràng về bản chất năng động của di sản văn hóa phi vật thể. Phản ánh sự tập trung của Đông Á vào di sản văn hóa phi vật thể, Nhật Bản, Trung Quốc là những quốc gia đi đầu về di sản văn hóa phi vật thé và có tam anh hưởng đáng ké đến lĩnh vực di san thế giới. Akagawa nhận định, Nhật Bản từ lâu đã có một hệ thống quốc gia mạnh mẽ về bảo vệ di sản vật thể và phi vật thể. Sự tham 10 gia tích cực của Nhật Bản trong việc bảo vệ di sản ở khu vực và toàn cầu có liên quan đến “chính sách ngoại giao văn hóa” sau Thế chiến thứ hai [66, tr.
You nhận định, Trung Quốc đã xây dựng một khuôn khổ pháp lý dé dé cử và bảo vệ DSVHPVT. Dự án này đã sớm lan rộng với tư cách một chiến dịch chính trị trên toàn Trung Quốc [102, tr. Các quốc gia Châu Á ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong việc bảo vệ văn hóa và di sản. Suy đoán về tư tưởng và thực hành di sản “ Châu Á” đã gây tranh cãi rất nhiều.
Lowthorp lập luận rằng mô hình di sản “toàn Châu Á” được phân biệt bởi sự nhấn mạnh vào việc truyền tải văn hóa biểu đạt giữa các thế hệ và bởi một quan niệm năng động về di sản. Chúng tôi đồng ý với phát hiện của Lowthorp và cho rằng “Mô hình Châu Á” về di sản văn hóa phi vật thê mở ra cơ hội đề điều tra tính liên tục và đổi mới trong việc truyền tải và tái tạo văn hóa, các hình thức kết hợp linh hoạt và năng động của các biểu hiện văn hóa sáng tạo, thừa nhận sự phức tạp của chính trị, tôn giáo và lịch sử mà các nhà văn hóa phải thương lượng và thỏa hiệp dé truyền thống đó tiếp tục gây được tiếng vang với các cộng đồng địa phương, những người bảo trợ chính phủ và các nhà tài trợ quốc tế. Nghiên cứu về sửa đổi chính sách và ghi nhận di sản văn hóa phi vật thé Sau khi Công ước 2003 ban hành, các quốc gia Châu Á kết hợp nỗ lực toàn cầu với nỗ lực quốc gia đã có từ trước dé bảo tồn văn hóa truyền thống. Các cơ quan nha nước đã đưa những hiểu biết về truyền thống và di sản bằng tiếng mẹ đẻ và dân tộc của họ vào diễn ngôn di sản quốc tế.
Nicolas Adell, Regina Bendix, Chiara Bortolotto, va Markus Tauschek luu y rang viéc tao ra di san trong thé ky XIX “gắn liền sâu sắc với việc xây dựng quốc gia” [65, tr. Samuel Lee cho rang, sự tác động của Công ước đến các nước thanh viên được thé hiện bằng việc thực hiện luật mới hoặc sửa đổi luật và quy định liên quan đến di sản văn hóa hiện có và các tô chức có liên quan dé phù hợp với mô hình mới và các yêu cầu mới của Công ước; nâng cao nhận thức về tầm quan trọng và giá trị văn hóa truyền thống [63, tr. Dawnhee Yim nhắn mạnh Công ước 2003 đã thay đổi hệ thống từ việc bảo quản sang việc bảo vệ. Vì vậy, việc tái sáng tạo di sản được các nhà quản lý và những người tham gia vào hệ thống bảo vệ /bảo quản ở Hàn Quốc được xem xét chấp thuận.
Tuy nhiên, việc xác định mức độ thay đổi được phép và ai là người nên tạo ra sự thay đôi đang là thách thức đặt ra [63, tr. 11 Nhiều quốc gia đã nỗ lực tập trung vào danh sách các di sản văn hóa phi vật thé được thực hiện ở cấp quốc gia, khu vực và toàn cầu. Những danh sách này cũng được xây dựng theo thứ bậc, với danh sách của UNESCO ở trên cùng và danh sách địa phương ở cuối. Michael Dylan Foster cho rằng, sự chỉ định của UNESCO có thê được coi là “một lợi ích tài chính” hoặc “một điểm của niềm tự hào và bản sắc,” hoặc “một gánh nặng” hoặc “một vật trang sức” hoặc việc chỉ định có thể không quan trọng chút nào, tùy thuộc vào cách nó được định vị và diễn giải ở những nơi khác nhau [71, tr.
Sự ghi danh của UNESCO đối với các DSVHPVT có thê truyền cảm hứng cho các biểu tượng, nâng cao tầm quan trọng và nâng lên tầm thé giới. Karen Fjelstad cho rằng, việc UNESCO ghi danh di sản văn hóa phi vật thé dẫn tới những hình thức quan hệ xã hội, mạng lưới toàn cầu mới [63, tr. Tuy nhiên, quá trình ghi danh này cũng mang đến cho các di sản này biểu tượng văn hóa quốc tế, khiến chúng có thé bị coi là mục tiêu của những kẻ phá hoại [77, tr. Vốn xã hội, các mỗi quan hệ và mạng lưới quan hệ giữa các quan chức, học giả và cộng đồng địa phương đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đây truyền thống địa phương [69, tr.
Việc chỉ định di sản văn hóa phi vật thé ở cấp quốc gia và toàn cầu chủ yếu dựa vào mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước, chuyên gia di sản và quan chức. Hideyo Konagaya cho rằng khái niệm và cách phân loại vẫn được giữ nguyên ở Nhật Bản ngay cả sau khi khái niệm di sản văn hóa phi vật thê ra đời. Tuy nhiên, việc thông qua danh mục di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO đã mang lại cho nó một quan điểm toàn cầu cho phép những người biéu diễn và những người ủng hộ biết tới những di sản văn hóa khác ở ngoài biên giới quốc gia. Konagaya lập luận thêm rằng việc tạo ra danh mục mới này cho phép các học giả Nhật Bản hiểu khái niệm DSVHPVT được tạo ra như thế nào nhờ sự hội tụ của nền kinh tế và chính trị toàn cầu.
Nó cũng cho thấy cách mà diễn ngôn di sản văn hóa phi vật thể kết hợp với các thực hành văn hóa ở địa phương và quốc gia. DSVHPVT đại diện cho những điều tinh túy nhất của loài người bởi lẽ nó là những gi bam sinh và là tinh thần không thé nào bao chứa trong những dạng vật chất. Sự hiện diện của nó là một phần quan trọng ton tại trong trí óc của con người [63, tr. Ở Trung Quốc, DSVHPVT đã trở thành một yếu tố trung tâm của diễn ngôn quốc gia.
DSVHPVT cho thấy sự khác biệt là của cải quốc gia, không phải là nguyên nhân xung đột, và nguôn của cải này được công nhận, chia sẻ trong 12 bầu không khí hòa bình và tôn trọng lẫn nhau [63, tr. Ngày nay, việc bao vệ và bảo tồn DSVH trước các mối nguy hiểm sẽ không hiệu quả nếu đó chỉ là nỗ lực của từng quốc gia riêng biệt. Chúng ta cần những hoạt động toàn cầu đề đối chọi với những nguy cơ như thế. Do đó việc hợp tác giữa các nước ASEAN là hết sức cần thiết [63, tr.
Nhóm tác gia Bussakorn Binson, Pattara Komkam, Pornprapt Phaosavadi, Kumkom Pornprasit dé xuat lap ban đồ địa điểm các dia chi văn hóa sông đa dạng của BangKok ngoài việc hỗ trợ tập trung trong quản lý văn hóa còn đặt nền móng cho việc áp dụng Mạng lưới Thành phố Sáng tạo của UNESCO và hỗ trợ sáng kiến Thành phố sáng tạo của Chính quyền BangKok [63, tr. UNESCO dựa vào các quốc gia thành viên để hợp tác trong sứ mệnh bảo vệ DSVHPVT và các quốc gia thường đưa ra quyết định về việc bảo vệ DSVHPVT phù hợp với lợi ích quốc gia của ho. DSVHPVT đã trở thành một biểu tượng mạnh mẽ cho các yêu sách quốc gia, khu vực và địa phương, gây ra các xung đột quốc tế về quyền sở hữu văn hóa. Sự xung đột này đặc biệt nghiêm trọng ở Đông Nam Á, nơi con người và truyền thống của họ có lịch sử di cư, trao đổi và biến đổi lâu đời.
Tại Trung Quốc, danh sách quốc gia về DSVHPVT trở thành trọng tâm thúc đây các t6 chức, cộng đồng, nhóm người va các cá nhân tham gia vào dự án bảo vệ DSVHPVT; đồng thời dẫn đến mâu thuẫn về việc chỉ định DSVHPVT giữa các cộng đồng và hội nhóm khác nhau. Có nhiều tuyên bố về quyền sở hữu từ các khu vực khác nhau ở Trung Quốc đối với một số vật phẩm hoặc sự kiện văn hóa đã làm gia tăng căng thăng và xung đột địa phương [67, tr.