ĐẶT VẤN ĐỀ Quy mô dân số thế giới hiện nay xấp xỉ gần 8 tỷ ngƣời đã gây ra những khó khăn trong việc bảo vệ môi trƣờng và phát triển kinh tế xã hội cho nhiều quốc gia trên thế giới. Đối với các nƣớc nghèo và đang phát triển, mức sinh quá cao đang là đặc điểm dân số nổi bật trong suốt gần 50 năm qua [58]. Các nƣớc này đã rút ra một kết luận chung: giảm sinh là một phần không thể thiếu đƣợc trong bất cứ một chƣơng trình phát triển dân số nào. Cách đây hơn nửa thế kỷ tại Hội nghị Quốc tế về Nhân quyền ở thủ đô Tehran của Iran (năm 1968), lần đầu tiên kế hoạch hóa gia đình đƣợc khẳng định là một quyền của con ngƣời.
Hơn 50 năm qua, hàng tỷ ngƣời trên thế giới đã đƣợc hƣởng quyền cơ bản này, sinh sản có kế hoạch đã góp phần cải thiện chất lƣợng cuộc sống của từng ngƣời, từng gia đình và duy trì sự phát triển bền vững của Trái đất [30]. Do sớm nhận thức đƣợc tầm quan trọng của dân số đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, ngay từ năm 1961, Hội đồng Chính phủ Việt Nam đã ban hành Quyết định 216/CP ngày 26/12/1961 về hƣớng dẫn sinh đẻ có hƣớng dẫn. Theo đó cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch chính thức đƣợc phát động với mục tiêu “Vì sức khoẻ của ngƣời mẹ, vì hạnh phúc và hoà thuận của gia đình, vì để cho việc nuôi dạy con cái đƣợc chu đáo việc sinh đẻ của nhân dân ta cần đƣợc hƣớng dẫn một cách thích hợp”. Tại Việt Nam, chƣơng trình dân số- kế hoạch hóa gia đình (DS- KHHGĐ) đƣợc triển khai từ những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ trƣớc đã đạt đƣợc những thành tựu, kết quả to lớn.
Từ năm 1961 đến 2019 dân số Việt Nam tăng gấp hơn ba lần (3,185 lần) từ 30,2 triệu lên 96,2 triệu. Số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đã giảm từ 6,3 con xuống 1,99 con. Công tác DS-KHHGĐ đã trực tiếp làm tăng 0,38 lần GDP bình quân đầu ngƣời, tăng khoảng 2% mỗi năm. Kết quả đó đã góp phần không nhỏ vào thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, tăng thu nhập bình quân đầu ngƣời hàng năm, đẩy nhanh tốc độ xoá đói giảm nghèo và nâng cao mức sống của nhân dân [29].
2 Hiện nay tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên (SCT3+) của phụ nữ từ 15-49 tuổi tại Việt Nam nói chung và của tỉnh Thái Nguyên nói riêng đang có chiều hƣớng gia tăng trong những năm gần đây [9], [35]. Đó cũng là một trong những nguyên nhân làm cho tỷ lệ dân số của Việt Nam có chiều hƣớng gia tăng trong vài năm gần đây. Tỷ lệ SCT3+ của phụ nữ từ 15-49 tuổi tăng do nhiều nguyên nhân khác nhau. Theo kết quả điều tra biến động DS-KHHGĐ năm 2020 do Tổng cục Thống kê công bố, quy mô dân số tỉnh Thái Nguyên tại thời điểm 01/4/2020 là 1,298,761 ngƣời.
TFR là 2,16 con/phụ nữ [37]. Nhƣ vậy năm 2020 tỉnh Thái Nguyên tiếp tục nằm trong 33 tỉnh có mức sinh cao trên toàn quốc [7]. Qua báo cáo của Chi cục dân số tỉnh Thái Nguyên năm 2020 cho thấy huyện Phú Bình là một trong những huyện thành có tỷ lệ SCT3+ cao nhất [9]. Nếu nhƣ cách đây năm năm công tác DS-KHHGĐ của huyện Phú Bình thực hiện rất tốt.
Thì vài năm trở lại đây tỷ lệ SCT3+ của huyện tăng một cách nhanh chóng, có tỷ lệ cao nhất so với các huyện, thành trong toàn tỉnh. Với tình hình trên nếu không có giải pháp kịp thời nhằm khống chế tỷ lệ SCT3+ trên địa bàn huyện có thể sẽ gây ra những ảnh hƣởng đến tình hình phát triển kinh tế xã hội của địa phƣơng và đặc biệt ảnh hƣởng lớn đến cuộc sống ngƣời dân nơi đây. Câu hỏi đặt ra là thực trạng SCT3+ tại huyện Phú Bình năm 2021 diễn ra nhƣ thế nào và những yếu tố nào đã ảnh hƣởng đến việc SCT3+ của các hộ gia đình tại đây. Từ đó, đƣa ra các khuyến nghị nhằm làm giảm tỷ lệ SCT3+.
Để trả lời các câu hỏi đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng sinh con thứ 3 trở lên của phụ nữ 15-49 tuổi đã có chồng tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên năm 2021 và một số yếu tố ảnh hưởng”. Với 2 mục tiêu: 1. Mô tả thực trạng sinh con thứ 3 trở lên của phụ nữ 15-49 tuổi đã có chồng tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên năm 2021. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng sinh con thứ 3 trở lên của phụ nữ 15-49 tuổi đã có chồng tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên năm 2021.
3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm và định nghĩa liên quan * Dân số: là tập hợp ngƣời sinh sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý hoặc đơn vị hành chính. * Cơ cấu dân số: là sự phân chia tổng số dân của một địa phƣơng thành các nhóm, các bộ phận theo một hay nhiều tiêu chí nhƣ giới tính, độ tuổi, dân tộc, học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trƣng khác. * Mức sinh: đƣợc đo bằng tổng tỷ suất sinh (số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ), tỷ suất sinh đặc trƣng theo tuổi, tỷ suất sinh thô hoặc tỷ lệ SCT3+.
Trong đó, tổng tỷ suất sinh là thƣớc đo chung và chính xác hơn cả. Mức sinh phản ánh mức sinh sản của dân cƣ, nó biểu thị số trẻ em sinh sống mà một phụ nữ có đƣợc trong suốt cuộc đời sinh sản của mình. Mức sinh không chỉ phụ thuộc vào khả năng sinh sản của các cặp vợ chồng mà còn phụ thuộc vào hàng loạt các yếu tố khác nhƣ tuổi kết hôn, thời gian chung sống của các cặp vợ chồng, số con mong muốn, trình độ phát triển kinh tế xã hội, địa vị của ngƣời phụ nữ, mức độ áp dụng các biện pháp tránh thai…[35] * Tổng tỷ suất sinh (TFR): là số con đã sinh sống bình quân của một ngƣời phụ nữ trong suốt thời kỳ sinh đẻ (15-49 tuổi), nếu ngƣời phụ nữ đó trong suốt thời kỳ sinh đẻ có tỷ suất đặc trƣng theo tuổi (ASFR) nhƣ quan sát đƣợc trong thời kỳ nghiên cứu, thƣờng là 12 tháng trƣớc thời điểm điều tra [37]. * Quy mô dân số: là tổng số dân sinh sống (cƣ trú) trong những vùng lãnh thổ nhất định vào những thời điểm xác định.
Quy mô dân số là chỉ tiêu dân số học cơ bản. Thông tin về quy mô dân số đƣợc dùng để tính số dân bình quân và nhiều chỉ tiêu dân số khác. * Sinh con thứ 3 trở lên (SCT3+): Số cặp vợ chồng SCT3+ bao gồm những cặp vợ chồng trong năm đã sinh ra sống đứa con thứ 3 trở lên. Trƣờng hợp “sinh ra sống” ở đây bao gồm cả đứa con sinh ra có biểu hiện của sự sống nhƣng ngay sau đó đã chết.
Số cặp vợ chồng 4 SCT3+ đƣợc xác định theo nơi thƣờng trú thực tế của ngƣời mẹ, bao gồm cả các trƣờng hợp ngƣời vợ SCT3+ nhƣng ngƣời chồng sống xa gia đình (thƣờng trú ở nơi khác) và các trƣờng hợp ngƣời phụ nữ chƣa có chồng nhƣng đã SCT3+ trong năm [46]. Theo Quyết định số 05-QĐ/TW ngày 28/08/2018 về việc kết nạp ngƣời vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình vào Đảng. Trong đó, điều 2 có nêu những trƣờng hợp sinh con không bị coi là vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình [3]: - Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu cả hai hoặc một trong hai ngƣời thuộc dân tộc có số dân dƣới 10.000 ngƣời hoặc thuộc dân tộc có nguy cơ suy giảm số dân (tỷ lệ sinh nhỏ hơn hoặc bằng tỷ lệ chết) theo công bố chính thức của Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ. - Cặp vợ chồng sinh lần thứ nhất mà sinh từ ba con trở lên.
- Cặp vợ chồng đã có một con đẻ, sinh lần thứ hai mà sinh hai con trở lên. - Cặp vợ chồng SCT3+, nếu tại thời điểm sinh chỉ có một con đẻ còn sống, kể cả con đẻ đã cho làm con nuôi. - Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu đã có hai con đẻ nhƣng một hoặc cả hai con bị dị tật hoặc mắc bệnh hiểm nghèo không mang tính di truyền, đã đƣợc Hội đồng Giám định y khoa cấp tỉnh hoặc cấp Trung ƣơng xác nhận. - Cặp vợ chồng đã có con riêng (con đẻ): + Sinh một con hoặc hai con, nếu một trong hai ngƣời đã có con riêng (con đẻ).
+ Sinh một con hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh, nếu cả hai ngƣời đã có con riêng (con đẻ). Quy định này không áp dụng cho trƣờng hợp hai ngƣời đã từng có hai con chung trở lên và các con hiện đang còn sống. - Phụ nữ chƣa kết hôn sinh một/hai con trở lên trong cùng một lần sinh. - Sinh con thứ ba trở lên trƣớc ngày 19/01/1989 (ngày có hiệu lực thi hành Quyết định số 162-HĐBT, ngày 18/10/1988 của Hội đồng Bộ trƣởng về một số chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình).
5 - Trƣờng hợp sinh con thứ ba do mang thai ngoài ý muốn, nếu thực hiện các biện pháp kế hoạch hoá gia đình gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến sức khoẻ ngƣời mẹ (có xác nhận của bệnh viện cấp huyện và tƣơng đƣơng trở lên). Quy mô, cơ cấu, chất lƣợng và tốc độ tăng dân số có ảnh hƣởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế xã hội, chất lƣợng môi trƣờng. Ngƣợc lại phát triển có tác động trực tiếp đến mức sinh, mức chết, phân bố dân cƣ, chất lƣợng cuộc sống. Dân số là cơ sở hình thành các nguồn lao động, phục vụ cho sự phát triển kinh tế- xã hội.
Sự bùng nổ dân số quá nhanh gây ra nhiều tác động cho sự phát triển, tạo ra nhiều sức ép, làm chất lƣợng dân số đi xuống và chất lƣợng cuộc sống con ngƣời không đƣợc cải thiện. Thực trạng sinh con thứ 3 trở lên trên thế giới và tại Việt Nam 1. Thực trạng sinh con thứ 3 trở lên trên thế giới Dân số thế giới tính đến năm 2021 là hơn 7,9 tỷ ngƣời và có xu hƣớng tiếp tục gia tăng, đặc biệt là ở các nƣớc nghèo và một số nƣớc đang phát triển. Trung Quốc là nƣớc đông dân nhất thế giới với hơn 1,4 tỷ ngƣời, đứng thứ 2 là Ấn Độ, Indonesia là nƣớc có dân số đứng thứ 4 thế giới và đứng đầu các nƣớc ở khu vực Đông Nam Á với hơn 278 triệu ngƣời.