Đặt vấn đề Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển năm 1994 tại Cairo cho thấy sức khỏe sinh sản là những khía cạnh cơ bản nhất của cuộc sống loài người. Đó là sự duy trì và bảo vệ giống nòi, vấn đề quan hệ tình dục, thai nghén sinh đẻ, viêm nhiễm sinh dục, bệnh lây truyền qua đường tình dục. Chăm sóc sức khỏe sinh sản bao gồm sự phối hợp các phương pháp, kỹ thuật và dịch vụ để bảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em và sức khỏe tình dục [14]. Theo Tổ chức Y tế thế giới, vấn đề sức khỏe sinh sản chiếm 33% gánh nặng bệnh tật ở phụ nữ so với 12,3% ở nam giới và năm 2015; phụ nữ ở các nước đang phát triển đối mặt nguy cơ tử vong trong khi mang thai hoặc biến chứng liên quan đến sinh con cao gấp 15 lần so với phụ nữ ở các nước phát triển; thực trạng sức khoẻ sinh sản trên thế giới hiện nay có nhiều bất ổn: Hàng năm có khoảng 340 triệu phụ nữ mắc bệnh lây qua đường tình dục, 20 triệu người mắc bệnh phụ khoa, 60 – 80 triệu người vô sinh, 20 triệu phá thai không an toàn và mỗi ngày có khoảng 830 phụ nữ tử vong do biến chứng khi mang thai hoặc khi sinh con [63],[65].
Tại Việt Nam, Quỹ dân số liên hợp quốc, Tổ chức y tế thế giới và Bộ y tế đã nêu ra các vấn đề chủ yếu trong lĩnh vực sức khỏe sinh sản ở phụ nữ Việt Nam: Mặc dù các chỉ số sức khỏe sinh sản nói chung và các chỉ số về tử vong mẹ, tử vong sơ sinh nói riêng của Việt Nam là tương đối khả quan so với các quốc gia khác có cùng mức phát triển về kinh tế – xã hội, nhưng thực trạng về sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh của Việt Nam vẫn còn là bức tranh chưa thực sự đầy đủ và rõ ràng, nhất là ở vùng cao và đồng bào dân tộc thiểu số, với tỷ lệ mắc bệnh viêm sinh dục, bệnh lây truyền qua đường tình dục còn cao và nguyên nhân tử vong hàng đầu của bà mẹ là nhiễm trùng và ung thư đường sinh dục với phổ biến là ung thư cổ tử cung và ung thư vú [23],[34],[36],[40]. 2 Cho đến nay, nhiều nghiên cứu về sức khỏe sinh sản ở phụ nữ tại Việt Nam cho thấy thực trạng sức khỏe sinh sản thay đổi theo từng vùng miền, theo điều kiện sinh sống, theo dân tộc với những thói quen sinh hoạt khác nhau [7],[34]. Viêm nhiễm đường sinh dục dưới hay gặp hàng đầu ở phụ nữ tuổi sinh đẻ với tỷ lệ khoảng 20 – 85% [3],[37],[56] với triệu chứng của bệnh có thể âm thầm nhưng nếu không được điều trị sẽ làm ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống vợ chồng, là nguyên nhân chính gây vô sinh, thai ngoài tử cung, sẩy thai, đẻ non, và điều kiện thuận lợi gây nên ung thư cổ tử cung về sau [16]. Bình Định là một tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền Trung nằm ở trung tâm của trục Bắc – Nam, trong những năm gần đây sự phát triển của nền kinh tế công nghiệp, thương mại và du lịch đã thu hút rất nhiều công nhân lao động nữ.
Đây chính là nơi tiềm ẩn những nguy cơ lây lan nhanh của các bệnh lây truyền qua đường tình dục, dễ vướng phải những vấn nạn xấu ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe sinh sản, đặc biệt ảnh hưởng đến tình trạng viêm nhiễm phụ khoa của nữ giới. Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài này với câu hỏi nghiên cứu đặt ra là tỷ lệ và trung bình một số đặc điểm sức khỏe sinh sản ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản đến khám phụ khoa tại Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh Bình Định năm 2016 – 2017 là bao nhiêu? Yếu tố nào liên quan đến viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ? 2. Mục tiêu nghiên cứu - Nghiên cứu thực trạng sức khỏe sinh sản ở phụ nữ từ 18 – 49 tuổi đến khám tại Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh Bình Định năm 2016 – 2017. - Xác định một số yếu tố liên quan đến viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ 18 – 49 tuổi đến khám tại Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh Bình Định năm 2016 – 2017 3 3.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3. Ý nghĩa khoa học Xác định được thực trạng sức khỏe sinh sản ở phụ nữ từ 18 – 49 tuổi và các yếu tố liên quan đến viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ từ 18 – 49 tuổi. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở cho việc đề ra các giải pháp nhằm nâng cao sức khỏe sinh sản ở phụ nữ 18 – 49 tuổi, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của phụ nữ trong toàn tỉnh Bình Định. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
SƠ LƢỢC VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN Ở PHỤ NỮ 1.1 Định nghĩa Tại Cairo (Ai Cập) năm 1994, Hội nghị quốc tế về Dân số và phát triển đã định nghĩa: "Sức khỏe sinh sản là sự hoàn toàn thoải mái không chỉ về thể chất, tinh thần mà cả về những quan hệ xã hội. Đây không phải chỉ là tình trạng các bộ máy sinh sản không có bệnh tật, không bị bất lực mà còn là tiến trình hoạt động của các bộ máy này với đầy đủ chức năng. Do đó sức khỏe sinh sản có nghĩa là con người có thể hoạt động tình dục tự do và an toàn, tự quyết định khi nào có con và khoảng cách giữa các lần sinh. Điều này cũng có nghĩa là tất cả mọi người, kể cả nam và nữ, đều có quyền được nhận thông tin về các biện pháp kế hoạch hóa gia đình an toàn và hữu hiệu, có thể chấp nhận các biện pháp này, có quyền tiếp cận các dịch vụ y tế, bảo đảm cho người phụ nữ được có thai, sinh sản an toàn và cho những cặp vợ chồng cơ hội tốt nhất để có những đứa con khỏe mạnh với một khởi đầu tốt đẹp cho sự phát triển tinh thần và thể chất” [14],[23].
Theo định nghĩa trên thì sức khỏe sinh sản gồm hai khía cạnh, một khía cạnh là những vấn đề liên quan đến hệ thống sinh sản, những chức năng và quá trình của nó như mang thai, sinh con… Mặt khác, sức khỏe sinh sản còn là vấn đề liên quan đến quyền lựa chọn các biện pháp, quyền được tiếp cận thông tin với những phương pháp khác mà cả hai lựa chọn. Như vậy, có thể nói khía cạnh thứ nhất hàm ý những vấn đề liên quan đến bản năng sinh học của con người đối với quá trình sinh sản, khía cạnh thứ hai đề cập đến quyền được quyết định của con người đối với quá trình đó. Sức khỏe sinh sản bàn đến những khía cạnh cơ bản nhất của cuộc sống loài người. Đó là sự duy trì và bảo vệ giống nòi, vấn đề quan hệ tình dục, thai nghén sinh đẻ, viêm nhiễm 5 sinh dục, bệnh lây truyền qua đường tình dục…Như vậy, chăm sóc sức khỏe sinh sản bao gồm sự phối hợp các phương pháp, kỹ thuật và dịch vụ để bảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em và sức khỏe tình dục [14],[23].2 Các yếu tố ảnh hƣởng đến sức khỏe sinh sản: Bao gồm 4 yếu tố sau [14]: - Trình độ học vấn và văn hóa của người phụ nữ.
- Vị trí của người phụ nữ trong xã hội như tôn giáo, tục lệ. - Sự phát triển kinh tế hay mức thu nhập. - Dịch vụ chăm sóc sức khỏe y tế.3 Mục tiêu chăm sóc sức khỏe sinh sản Mục tiêu 1: Tạo được sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức cũng như sự ủng hộ và cam kết thực hiện các mục tiêu và các nội dung chăm sóc sức khỏe sinh sản trong mọi tầng lớp nhân dân, trước hết là trong cán bộ lãnh đạo các cấp. Mục tiêu 2: Duy trì vững chắc xu thế giảm sinh.
Bảo đảm quyền sinh con và lựa chọn các biện pháp tránh thai, lựa chọn các biện pháp tránh thai có chất lượng của phụ nữ và các cặp vợ chồng, giảm có thai ngoài ý muốn và các tai biến do nạo hút thai. Mục tiêu 3: Nâng cao tình trạng sức khỏe của phụ nữ và các bà mẹ, giảm tỷ lệ bệnh tật, tử vong mẹ, tử vong chu sinh và tử vong trẻ em một cách đồng đều hơn giữa các vùng và các đối tượng, đặc biệt chú ý đến các vùng khó khăn và các đối tượng chính sách. Mục tiêu 4: Dự phòng có hiệu quả để làm giảm số mới mắc và điều trị tốt các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản và các bệnh lây truyền qua đường tình dục, kể cả HIV/AIDS và tình trạng vô sinh. Mục tiêu 5: Chăm sóc sức khỏe sinh sản tốt hơn cho phụ nữ cao tuổi, phát hiện và điều trị sớm các trường hợp ung thư vú và các ung thư khác của đường sinh sản.
Mục tiêu 6: Cải thiện tình hình sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục của vị 6 thành niên thông qua giáo dục, tư vấn và cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản phù hợp với lứa tuổi. Mục tiêu 7: Nâng cao sự hiểu biết của phụ nữ và nam giới về giới tính và tình dục để thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm sinh sản, xây dựng quan hệ tình dục an toàn, có trách nhiệm, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau nhằm nâng cao sức khỏe sinh sản và chất lượng cuộc sống [14].4 Các nội dung chính của chăm sóc sức khỏe sinh sản Nội dung chính của sức khỏe sinh sản được thể hiện rõ qua Chiến lược quốc gia về sức khỏe sinh sản tại Việt Nam 2001 – 2010 chi tiết hoá thành 10 nội dung cụ thể như sau [14],[23]: Nội dung 1. Làm mẹ an toàn Nội dung 2. Kế hoạch hoá gia đình Nội dung 3.
Phá thai an toàn Nội dung 4. Giáo dục sức khỏe sinh sản cho vị thành niên Nội dung 5. Phòng các bệnh nhiễm khuẩn đƣờng sinh sản Nội dung 6. Phòng các bệnh lây truyền qua đƣờng tình dục Nội dung 7.
Phòng ung thƣ vú và ung thƣ sinh dục Nội dung 8. Vô sinh Nội dung 9. Sức khoẻ về tình dục và giáo dục về tình dục Nội dung 10. Thông tin, giáo dục, truyền thông về sức khỏe sinh sản Như vậy các vấn đề về sức khỏe sinh sản trở nên rất quan trọng đối với nữ giới vì nữ giới có vai trò rất quan trọng trong việc tái sản xuất xã hội.