ĐẶT VẤN ĐỀ Thiếu máu thiếu sắt tác động đến hàng tỷ người trên thế giới nhất là ở phụ nữ tuổi sinh đẻ, phụ nữ mang thai và trẻ nhỏ. Thiếu máu do thiếu sắt là loại thiếu máu dinh dưỡng hay gặp ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, trong số hơn 1,6 tỷ người trên toàn cầu bị thiếu máu thì có tới 50% là thiếu máu do thiếu sắt [44]. Theo Hiệp hội Phát triển Quốc tế, thiếu máu do thiếu sắt ở phụ nữ mang thai tại các nước công nghiệp là 17,4%, trong khi đó các nước đang phát triển tăng lên đáng kể đến 56% [5], [45].
Có nhiều nguyên nhân có thể gây thiếu máu, nhưng thường gặp nhất ở phụ nữ mang thai là thiếu máu do thiếu sắt. Khi cơ thể không nhận đủ lượng sắt cần thiết từ khẩu phần ăn, do chế độ dinh dưỡng của người mẹ thiếu chất đạm hoặc do ăn kiêng quá mức, ăn uống không hợp lý hoặc vì hoàn cảnh kinh tế cụ thể, người mẹ rất dễ bị thiếu máu do thiếu sắt, do mất máu, nhiễm giun, rối loạn hấp thu sắt và nhu cầu tăng [14], [41]. Ở phụ nữ, tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt cao thường liên quan đến mất máu qua các kỳ kinh nguyệt, nhu cầu cao khi mang thai và thời gian cho con bú. Hậu quả của thiếu máu thiếu sắt đối với phụ nữ mang thai sẽ gây ra sẩy thai, đẻ non, trẻ sinh ra nhẹ cân, ảnh hưởng đến sức khỏe mẹ và sự phát triển của trẻ em.
Thiếu máu ở phụ nữ cũng làm tăng nguy cơ tai biến và tử vong mẹ trong cả thời kỳ mang thai và sinh nở [4], [46]. Với các ảnh hưởng nặng nề của thiếu máu do thiếu sắt, việc phòng ngừa, phát hiện sớm và có kế hoạch điều trị kịp thời sẽ là can thiệp có hiệu quả trong việc nâng cao sức khỏe và giảm tỷ lệ tử vong ở bà mẹ và trẻ em [44]. Những năm gần đây, chiến lược phòng chống thiếu máu do thiếu sắt ở phụ nữ mang thai của Việt Nam có sự thay đổi. Từ việc cung cấp miễn phí viên sắt cho các bà mẹ mang thai uống hàng ngày, thì nay chương trình chỉ tuyên truyền để các phụ nữ mang thai tự mua viên sắt để uống.
Theo khuyến cáo của Liên đoàn sản phụ khoa quốc tế, tất cả các phụ nữ mang thai đều được khuyến cáo bổ sung sắt hàng ngày [38]. Như vậy, có thể nói rằng việc phòng chống thiếu máu, thiếu sắt ở phụ nữ mang thai phụ test.pdf 2 thuộc rất nhiều vào nhận thức của bản thân người phụ nữ. Để giúp cán bộ quản lý công tác chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản có một nhận định khách quan về thực trạng chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em tại tỉnh Trà Vinh. Góp phần tìm ra nguyên nhân, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao kiến thức cho cộng đồng, khắc phục cải thiện tình trạng dinh dưỡng, giảm thiểu nguy cơ gây thiếu máu, giảm tử vong mẹ, và tử vong chu sinh.
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Khảo sát kiến thức phòng chống thiếu máu, thiếu sắt ở phụ nữ mang thai đến khám bệnh tại Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật Tỉnh Trà Vinh năm 2022”, với mục tiêu: 1. Đánh giá mức độ kiến thức chung phòng chống thiếu máu, thiếu sắt ở phụ nữ mang thai đến khám bệnh tại Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật Tỉnh Trà Vinh năm 2022. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức chung phòng chống thiếu máu, thiếu sắt ở phụ nữ mang thai đến khám bệnh tại Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật tỉnh Trà Vinh năm 2022.pdf 3 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ ĐỊNH NGHĨA 1.1 Vai trò sinh học của sắt trong cơ thể Sắt là một trong những chất vi lượng có vai trò quan trọng bậc nhất để tổng hợp nên hemoglobin, chất có mặt trong tế bào hồng cầu. Ở người bình thường, 90-95% lượng sắt trong cơ thể được tái sử dụng từ nguồn sắt do hồng cầu già bị phá hủy và giải phóng ra, có 5-10% (1-2 mg) lượng sắt được bài tiết qua nước tiểu, mồ hôi, phân.
Để bù lại lượng sắt mất đi, cơ thể nhận thêm sắt từ thức ăn, quá trình hấp thu sắt diễn ra chủ yếu ở dạ dày, hành tá tràng và đoạn đầu hỗng tràng. Máu được sinh ra từ tủy xương. Ở người trưởng thành, bình thường hàng ngày cơ thể bị mất đi từ 40-50 ml máu và tủy xương cũng sẽ tái tạo lại đủ số lượng đã mất [3]. Vai trò chính của hồng cầu là vận chuyển oxy đi khắp cơ thể để nuôi sống các tế bào và vận chuyển khí cacbonic (CO 2) thải từ các tế bào qua phổi để thải ra ngoài nhằm đáp ứng đời sống của con người.
Tuy nhiên, để vận chuyển oxy hay CO2 là do hemoglobin (còn gọi là Huyết sắc tố) của hồng cầu quyết định. Hemoglobin là thành phần cơ bản của hồng cầu, chiếm 1/3 trọng lượng hồng cầu. Có khoảng 300 triệu phân tử Hb trong hồng cầu [2], [36]. Khối lượng sắt toàn phần trong cơ thể xấp xỉ 4 đến 5 g, trong đó 66% hemoglobin, 4% trong myoglobin và các enzym chứa sắt của hệ thống cytochrom, 30% còn lại chủ yếu ở lách, gan và tủy xương.
Nhiều nghiên cứu cho thấy, khi thiếu sắt đáp ứng miễn dịch của cơ thể giảm ở 3 thành phần chính của hệ thống miễn dịch: Miễn dịch tế bào, miễn dịch dịch thể và hoạt động của các đại thực bào. Ở bệnh nhân thiếu sắt, tế bào lympho T giảm. Khi bệnh nhân thiếu máu nặng có thể giảm khoảng 20% tế bào lympho B. Người ta cũng thấy có sự giảm bạch cầu đa nhân trung tính test.pdf 4 trong trường hợp thiếu sắt.
Chính vì vậy, thiếu sắt còn làm tăng khả năng mắc bệnh của bà mẹ và trẻ em.2 Định nghĩa thiếu máu Theo WHO thiếu máu được định nghĩa khi nồng độ hemoglobin <13 g/dl ở người nam trưởng thành và <12 g/dl ở phụ nữ trưởng thành. [45] Do sự biến đổi sinh lý trong thai kỳ, thể tích huyết tương gia tăng nhiều hơn thể tích huyết cầu. Vì vậy sẽ gây ra hiện tượng thiếu máu sinh lý. Trị số sinh lý bình thường của ở phụ nữ mang thai sẽ thay đổi từ 11,5 đến 13 g/dl.
Ở phụ nữ mang thai thiếu máu được định nghĩa khi nồng độ hemoglobin thấp hơn11 g/dl. Và được phân độ nặng nhẹ như sau: Nhẹ 10-10,9 g/dl; Trung bình 7-9,9 g/dl; Nặng 4-6,9 g/dl; Rất nặng 4 <g/dl. [6],[37] Theo trung tâm kiểm soát bệnh tật của Hoa Kỳ, thiếu máu trong thai kỳ được định nghĩa khi nồng độ hemoglobin <11g/dl hemoglobin <11 g/dl ở tam cá nguyệt thứ I và III; và <10,5 g/dl ở tam cá nguyệt thứ II.3 Định nghĩa thiếu máu thiếu sắt trong thai kỳ Trong thai kỳ, khi nồng độ hemoglobin thấp hơn 11 g/dl và nồng độ ferritin huyết thanh dưới 12 mg/ml thì được xác định là thiếu máu thiếu sắt.2 NGUYÊN NHÂN BỆNH THIẾU MÁU DO THIẾU SẮT 1.1 Thiếu máu thiếu sắt xảy ra do nhiều nguyên nhân [2], [24]. Tuy nhiên được phân loại theo 3 nhóm chính: -Không cung cấp đủ nhu cầu về sắt: · Nhu cầu về sắt tăng lên đối với trẻ em tuổi dậy thì, phụ nữ thời kỳ kinh nguyệt, phụ nữ có thai, cho con bú… · Chế độ ăn thiếu sắt: Chế độ ăn uống không cân đối, ăn kiêng, người nghiện rượu, người già,.
· Sử dụng một số thực phẩm làm giảm hấp thu sắt như tanin, cà phê, nước uống có gas,.pdf 5 · Cơ thể bị giảm hấp thu sắt do mắc một số bệnh lý như Viêm dạ dày, viêm ruột; cắt đoạn dạ dày, ruột,. -Mất máu do thiếu máu mạn: Mất máu trong các trường hợp cơ thể bị loét dạ dày, túi thừa meckel, polyp, u mạch máu, bệnh lý viêm đường ruột, viêm chảy máu đường tiết niệu; mất máu nhiều qua kinh nguyệt; sau phẫu thuật, sau chấn thương, u xơ tử cung,. -Rối loạn chuyển hóa sắt bẩm sinh hay cách gọi khác là Hypotrans errinemia. ảy ra khi cơ thể không tổng hợp được trans errin vận chuyển sắt.
Bệnh này rất nguy hiểm, nó dẫn đến nhiều biến chứng nghiêm trọng cho gan, tim, xương khớp như suy tim, đau xương khớp, tiểu đường,.2 Yếu tố nguy cơ gây thiếu máu thiếu sắt ở phụ nữ mang thai Những phụ nữ có nguy cơ cao xuất hiện thiếu máu thiếu sắt trong khi mang thai nếu: - Khoảng cách giữa hai lần mang thai liên tiếp quá gần nhau. - Mang thai với hơn một thai nhi (mang thai đôi, mang thai ba, thậm chí nhiều hơn). - Nôn quá thường xuyên, quá nhiều do bị nghén buổi sáng. - Mang thai khi còn ở lứa tuổi vị thành niên.
- Không thu nhận đủ lượng sắt cần thiết. - Trước khi mang thai là người có chu kì kinh nguyệt ra nhiều máu (cường kinh). - Có tiền sử thiếu máu trước khi mang thai Phụ nữ mang thai: Khi mang thai, nhu cầu sắt tăng cao để phát triển bào thai, nhau thai và cho người mẹ. Tổng số lượng sắt cần thiết đối với phụ nữ có thai là khoảng 1000 mg, vì vậy trong suốt quá trình mang thai nếu không được cung cấp đủ sắt thì tình trạng thiếu máu thiếu sắt ở bà bầu rất dễ xảy ra[22], [27] .pdf 6 Phụ nữ cho con bú: Sắt được tiết theo sữa để nuôi con.
Như đã đề cập ở trên, nhu cầu về sắt ở phụ nữ mang thai cao hơn so với phụ nữ không mang thai, cụ thể trong thai kì mỗi ngày người phụ nữ cần 27 mg sắt. Tuy nhiên với chế độ ăn đầy đủ dinh dưỡng, cân bằng, chứa các loại thức ăn có hàm lượng sắt cao là đã có thể phòng tránh được tình trạng thiếu sắt. Mỗi ngày người phụ nữ mang thai nên sử dụng ít nhất là ba khẩu phần thức ăn giàu sắt, chẳng hạn như: - Thịt nạc đỏ, thịt gia cầm, và cá. - Các loại rau có lá màu xanh đậm (ví dụ như rau chân vịt, bông cải xanh, và cải xoăn kale).
- Ngũ cốc và lúa mì bổ sung sắt.Các loại đậu hạt, đậu lăng, và đậu phụ, các loại hạt và mầm. Để làm tăng khả năng hấp thu sắt từ các nguồn thực vật (và cả các sản phẩm bổ sung sắt), hãy sử dụng cùng với thực phẩm chứa nhiều vitamin C, chẳng hạn như: Các loại hoa quả như: cam, chanh và nước ép từ chúng. Dâu tây, kiwi, cà chua, ớt chuông.