Phân tích dùng thuốc giảm đau viêm khớp BV YDCT Hà Giang - Nguyễn Ngọc Mai

Luận văn phân tích tình hình sử dụng thuốc giảm đau chống viêm điều trị bệnh cơ xương khớp tại Bệnh viện Y Dược Cổ truyền Hà Giang. Đánh giá hiệu quả và thực

Tác giả

Nguyễn Ngọc Mai

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp I

2020

93
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tình hình sử dụng thuốc giảm đau viêm khớp Hà Giang

Bệnh cơ xương khớp là một trong những nhóm bệnh phổ biến tại tỉnh Hà Giang, đặc biệt ở vùng núi cao với điều kiện khí hậu khắc nghiệt. Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Y dược cổ truyền Hà Giang từ tháng 7/2020 đến tháng 11/2020, phân tích 110 bệnh án sử dụng thuốc giảm đau, chống viêm. Kết quả cho thấy nhóm thuốc NSAID (thuốc chống viêm không steroid) được sử dụng rộng rãi nhất,其次是 paracetamol và glucocorticoid. Các bệnh lý thường gặp bao gồm thoái hóa khớp, viêm khớp dạng thấp và đau lưng mạn tính. Tình hình sử dụng thuốc tại cơ sở này phản ánh thực trạng chung của việc điều trị bệnh cơ xương khớp ở các tỉnh miền núi phía Bắc, nơi nguồn lực y tế còn hạn chế nhưng nhu cầu chăm sóc sức khỏe xương khớp ngày càng tăng cao.

1.1. Đặc điểm dịch tễ bệnh cơ xương khớp tại Hà Giang

Hà Giang là tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, nơi tỷ lệ mắc bệnh cơ xương khớp cao do điều kiện lao động nặng nhọc và khí hậu lạnh. Bệnh nhân chủ yếu là người lao động nông nghiệp trong độ tuổi 40-70. Các bệnh lý phổ biến gồm thoái hóa khớp gối, viêm khớp dạng thấp, thoái hóa cột sống thắt lưng. Tại Bệnh viện Y dược cổ truyền Hà Giang, khoa Cơ xương khớp tiếp nhận số lượng lớn bệnh nhân hàng năm, đòi hỏi phác đồ điều trị giảm đau chống viêm hợp lý và hiệu quả.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu và phương pháp thu thập dữ liệu

Nghiên cứu nhằm phân tích tình hình kê đơn thuốc giảm đau, chống viêm tại Bệnh viện Y dược cổ truyền Hà Giang. Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, thu thập dữ liệu từ 110 bệnh án bệnh cơ xương khớp trong giai đoạn 7/2020-11/2020. Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm: loại thuốc sử dụng, tần suất kê đơn, liều lượng, đường dùng, thời gian điều trị và các tác dụng phụ ghi nhận. Dữ liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả.

II. Phân tích thực trạng sử dụng thuốc giảm đau chống viêm tại Hà Giang

Kết quả nghiên cứu trên 110 bệnh án cho thấy có 84 trường hợp sử dụng một loại thuốc giảm đau chống viêm, chiếm tỷ lệ 76,4%. Có 25 ca phối hợp hai loại thuốc, trong đó phối hợp NSAID với paracetamol chiếm 14,5%, methylprednisolon với paracetamol chiếm 4,5%. Nhóm NSAID được kê đơn nhiều nhất, nổi bật là celecoxib 200mg và meloxicam 7,5mg-15mg. Paracetamol 500mg cũng được sử dụng phổ biến với liều 500-1000mg mỗi lần. Đặc biệt, nefopam hydroclorid 30mg được dùng cho một số trường hợp đau nặng hơn. Về liều lượng, tất cả bệnh nhân đều được sử dụng mức liều phù hợp, không ghi nhận trường hợp nào vượt quá liều khuyến cáo. Điều này phản ánh việc tuân thủ hướng dẫn điều trị của đội ngũ y bác sĩ tại bệnh viện.

2.1. Phân loại thuốc và tần suất kê đơn

Trong tổng số 110 bệnh án, NSAID chiếm tỷ lệ kê đơn cao nhất với các hoạt chất chính là celecoxib, meloxicam, piroxicam. Celecoxib 200mg được sử dụng ở 25 bệnh nhân, meloxicam 7,5mg và 15mg chiếm 23,6%. Paracetamol 500mg có mặt trong phác đồ điều trị của nhiều bệnh nhân với vai trò giảm đau bổ sung. Glucocorticoid dạng tiêm methylprednisolon 40mg được chỉ định trong các đợt viêm cấp tính. Nefopam hydroclorid 30mg ít được sử dụng hơn,主要用于 các trường hợp đau nặng không đáp ứng với thuốc thông thường.

2.2. Đánh giá liều dùng và tính an toàn

Đánh giá liều dùng cho thấy 100% bệnh nhân được kê đơn trong khoảng liều khuyến cáo. Celecoxib sử dụng liều 400-800mg/ngày, meloxicam 7,5-15mg/ngày, paracetamol 500-1000mg mỗi lần, tối đa 4000mg/ngày. Nefopam dùng 90-120mg/ngày, chia 3 lần. Không ghi nhận trường hợp quá liều hay tác dụng phụ nghiêm trọng trong thời gian nghiên cứu. Kết quả này cho thấy công tác quản lý sử dụng thuốc tại bệnh viện đạt hiệu quả, đảm bảo an toàn cho người bệnh trong quá trình điều trị.

III. Giải pháp tối ưu hóa sử dụng thuốc giảm đau viêm khớp Hà Giang

Để nâng cao hiệu quả điều trị bệnh cơ xương khớp tại Hà Giang, cần triển khai nhiều giải pháp đồng bộ. Thứ nhất, tăng cường đào tạo cho đội ngũ y bác sĩ về cập nhật phác đồ điều trị mới, đặc biệt trong việc lựa chọn thuốc phù hợp với từng loại bệnh và đối tượng bệnh nhân. Thứ hai, xây dựng quy trình giám sát sử dụng thuốc kháng viêm, theo dõi tác dụng phụ trên đường tiêu hóa và tim mạch. Thứ ba, phát huy thế mạnh của y học cổ truyền kết hợp với y học hiện đại trong điều trị bệnh xương khớp. Việc sử dụng các dạng bào chế phù hợp như viên bao tan ở ruột, viên sủi hoặc thuốc đạn giúp giảm kích ứng dạ dày. Bên cạnh đó, cần giáo dục bệnh nhân về cách dùng thuốc đúng, thời điểm uống thuốc và chế độ sinh hoạt hợp lý để đạt hiệu quả điều trị tối ưu.

3.1. Chiến lược lựa chọn thuốc và dạng bào chế

Việc lựa chọn thuốc cần dựa trên loại bệnh, mức độ đau và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân. Với bệnh nhân có nguy cơ cao về dạ dày, ưu tiên sử dụng celecoxib - thuốc ức chế chọn lọc COX-2. Dạng bào chế đóng vai trò quan trọng trong giảm tác dụng phụ: viên bao tan ở ruột giúp tránh kích ứng niêm mạc dạ dày, viên sủi tăng tốc độ hấp thu. Trường hợp đau cấp tính có thể dùng dạng tiêm để thuốc phát huy tác dụng nhanh. Uống nhiều nước khi dùng thuốc cũng là biện pháp đơn giản nhưng hiệu quả.

3.2. Dự phòng tác dụng phụ và kết hợp điều trị

Để dự phòng tác dụng phụ trên đường tiêu hóa khi sử dụng NSAID kéo dài, có thể phối hợp thuốc ức chế bơm proton như omeprazol 20mg uống trước khi đi ngủ. Misoprostol 200μg, 4 viên/ngày cũng là lựa chọn hiệu quả. Kết hợp vật lý trị liệu, châm cứu và các bài tập phục hồi chức năng giúp giảm liều thuốc và tăng hiệu quả điều trị. Tại Bệnh viện Y dược cổ truyền Hà Giang, việc kết hợp thuốc tây y với các phương pháp y học cổ truyền đã mang lại kết quả tích cực trong quản lý bệnh cơ xương khớp.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn trong điều trị viêm khớp

Nghiên cứu đã cung cấp cái nhìn toàn diện về tình hình sử dụng thuốc giảm đau chống viêm tại Bệnh viện Y dược cổ truyền Hà Giang. Kết quả cho thấy việc kê đơn cơ bản phù hợp với hướng dẫn chuyên môn, liều lượng nằm trong khuyến cáo và tỷ lệ phối hợp thuốc hợp lý. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề cần cải thiện như đa dạng hóa phác đồ điều trị, tăng cường theo dõi tác dụng phụ và nâng cao nhận thức bệnh nhân. Phát hiện từ nghiên cứu này có giá trị tham khảo cho các cơ sở y tế tương tự tại các tỉnh miền núi phía Bắc. Trong tương lai, cần tiến hành các nghiên cứu quy mô lớn hơn, theo dõi dài hạn để đánh giá đầy đủ hơn hiệu quả và tính an toàn của việc sử dụng thuốc giảm đau chống viêm trong điều trị bệnh cơ xương khớp tại khu vực này.

4.1. Kết quả chính và ý nghĩa của nghiên cứu

Nghiên cứu xác nhận rằng việc sử dụng thuốc giảm đau chống viêm tại Bệnh viện Y dược cổ truyền Hà Giang đạt tỷ lệ an toàn cao. 76,4% bệnh nhân được điều trị bằng đơn thuốc đơn giản, dễ tuân thủ. Không ghi nhận trường hợp sử dụng thuốc quá liều khuyến cáo. Các nhóm thuốc NSAID thế hệ mới như celecoxib được ưu tiên sử dụng cho bệnh nhân có nguy cơ dạ dày. Kết quả nghiên cứu đóng góp dữ liệu thực tiễn quý giá cho công tác quản lý dược và điều trị bệnh cơ xương khớp tại tuyến tỉnh.

4.2. Hướng phát triển và khuyến nghị cho tương lai

Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số khuyến nghị được đề xuất: xây dựng phác đồ điều trị chuẩn cho bệnh cơ xương khớp tại bệnh viện, tăng cường đào tạo cập nhật kiến thức dược lâm sàng cho nhân viên y tế, thiết lập hệ thống theo dõi tác dụng phụ thuốc. Cần đẩy mạnh nghiên cứu so sánh hiệu quả giữa các nhóm thuốc và giữa điều trị tây y với y học cổ truyền. Phát triển mô hình kết hợp đa mô thức trong quản lý bệnh xương khớp nhằm tối ưu hóa kết quả điều trị và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Nguyễn ngọc mai phân tích tình hình sử dụng thuốc giảm đau chống viêm trong điều trị các bệnh cơ xương khớp tại bệnh viện y dược cổ truyền hà giang luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Báo cáo tổng quan thống kê y tế thế giới năm 2019 của WHO cho biết tuổi thọ trung bình trên toàn thế giới tăng từ 66,5 lên 72 tuổi, tuổi thọ tăng cao, dân số thế giới ngày càng già đi. Nâng cao chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi là mục tiêu quan trọng của công tác y tế trong giai đoạn hiện nay. Một trong những căn bệnh dai dẳng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và khó có thể điều trị khỏi đó là các bệnh lý về xương khớp. Trong báo cáo gần đây của Hoa Kỳ cho thấy cứ hai người Mỹ trưởng thành thì có một người sống với tình trạng mắc bệnh cơ - xương - khớp, con số này tương đương với những người mắc bệnh tim mạch hoặc hô hấp mãn tính cộng lại [31].

Nếu không được điều trị thoả đáng, nó sẽ gây trở ngại đến các hoạt động hàng ngày của người cao tuổi, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và gia tăng các gánh nặng về tài chính, tinh thần cho gia đình, hệ thống y tế và xã hội [32]. Thuốc dùng để điều trị bao gồm các nhóm thuốc giảm đau, chống viêm, giãn cơ… Trong các nhóm thuốc này, hai nhóm thuốc giảm đau, chống viêm steroid và không steroid được sử dụng rất rộng rãi tuy nhiên tác dụng giảm đau, chống viêm bao giờ cũng đi kèm với một số tác dụng không mong muốn và việc lạm dụng sẽ dẫn đến những hậu quả không tốt cho sức khỏe [15], [20], [24]. Vì vậy vấn đề sử dụng thuốc giảm đau, chống viêm trong điều trị tại bệnh viện như thế nào để đạt hiệu quả điều trị cao và hạn chế các tác dụng không mong muốn là một vấn đề luôn được quan tâm. Số liệu thực tế cho thấy các thuốc giảm đau, chống viêm trong điều trị các bệnh về cơ - xương - khớp chiếm tỷ lệ khá cao trong danh mục thuốc bệnh viện.

Để thấy rõ hiệu quả điều trị, hạn chế tác dụng không mong muốn và đánh giá hiệu quả giảm đau của các phương pháp điều trị bệnh cơ - xương - khớp nhằm cải thiện chất lượng điều trị tại Bệnh viện chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Phân tích tình hình sử dụng thuốc giảm đau, chống viêm trong điều trị các bệnh cơ - xương - khớp tại Bệnh viện Y dược cổ truyền Hà Giang” nhằm các mục tiêu sau: 1 - Khảo sát đặc điểm bệnh nhân điều trị các bệnh cơ - xương - khớp tại Bệnh viện Y dược cổ truyền Hà Giang năm 2020. - Phân tích tình hình sử dụng thuốc giảm đau, chống viêm của các bệnh nhân mắc bệnh cơ - xương - khớp tại Bệnh viện Y dược cổ truyền Hà Giang năm 2020. - Khảo sát hiệu quả giảm đau của bệnh nhân khi điều trị bệnh cơ - xương - khớp tại Bệnh viện Y dược cổ truyền Hà Giang năm 2020. Tổng quan về bệnh cơ - xương - khớp 1.

Khái niệm bệnh cơ - xương - khớp Bệnh cơ - xương - khớp là những bệnh lý gây rối loạn chức năng sinh lý của cơ xương khớp. Với các triệu chứng chính là hiện tượng đau nhức, hạn chế vận động [8], [13]. Các bệnh CXK thường gặp như: thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, đau thần kinh tọa, thoái hóa khớp gối, hội chứng cánh tay - cổ, viêm khớp háng, thoái hóa cột sống thắt lưng, thoái hóa khớp gối, thoái hóa khớp, viêm quanh khớp vai, thoái hóa cột sống cổ. Các phương pháp điều trị bệnh CXK gồm: điều trị không dùng thuốc, dùng thuốc và phẫu thuật [1], [2].

- Điều trị không dùng thuốc: vật lý trị liệu (điện trị liệu, nhiệt trị liệu, ánh sáng trị liệu,…), châm cứu, phục hồi chức năng [1]. - Dùng thuốc: + Thuốc Y học cổ truyền (YHCT) gồm: các thuốc thành phẩm YHCT, các bài thuốc cổ phương, tân phương gia giảm [2]. + Thuốc tân dược gồm: thuốc điều trị triệu chứng (nhằm cải thiện triệu chứng viêm, giảm đau, duy trì khả năng vận động: các thuốc kháng viêm không steroid, corticosteroids) [1], [2]. + Thuốc điều trị cơ bản: điều trị theo cơ chế sinh bệnh, làm thay đổi tiến triển bệnh [1], [2].

Một số nguyên nhân đau xương khớp mạn tính thường gặp - Các bệnh có diễn biến mạn tính, có kèm đợt cấp tính: gút, viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, lupus ban đỏ hệ thống. - Các bệnh có diễn biến mạn tính: gút, viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, lupus ban đỏ hệ thống, xơ cứng bì, thoái hóa khớp, viêm khớp nhiễm 3 khuẩn, hoại tử vô khuẩn đầu trên xương đùi, đau xơ cơ (fibromyalgie), đau xương khớp do trầm cảm [18], [19]. Một số bệnh cơ - xương - khớp thường gặp tại Bệnh viện Y dược cổ truyền Hà Giang 1. Viêm quanh khớp vai Định nghĩa: Viêm quanh khớp vai là thuật ngữ dùng chung cho các bệnh lý viêm các cấu trúc phần mềm quanh khớp vai: gân, túi thanh dịch, bao khớp; không bao gồm các bệnh lý có tổn thương đầu xương, sụn khớp và màng hoạt dịch như viêm khớp nhiễm khuẩn, viêm khớp dạng thấp… Theo Welfling (1981) có 4 thể lâm sàng của viêm quanh khớp vai: - Đau vai đơn thuần thường do bệnh lý gân.

- Đau vai cấp do lắng đọng vi tinh thể. - Giả liệt khớp vai do đứt các gân của bó dài gân nhị đầu hoặc đứt các gân mũ cơ quay khiến cơ delta không hoạt động được. - Cứng khớp vai do viêm dính bao hoạt dịch, có thắt bao khớp, bao khớp dày, dẫn đến giảm vận động khớp ổ chảo - xương cánh tay [1], [2]. Nguyên nhân: - Thoái hóa gân do tuổi tác: Bệnh thường xảy ra ở người trên 50 tuổi.

- Nghề nghiệp lao động nặng có các chấn thương cơ học lặp đi lặp lại. - Tập thể thao quá sức, chơi một số môn thể thao đòi hỏi phải nhấc tay lên quá vai như chơi cầu lông, tennis, bóng rổ, bóng chuyền. - Chấn thương vùng vai do ngã, trượt, tai nạn ô tô, xe máy. - Một số bệnh lý khác (tim mạch, hô hấp, tiểu đường, thần kinh,…) [1].

Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng Định nghĩa: thoát vị đĩa đệm là tình trạng nhân nhày đĩa đệm cột sống thoát ra khỏi vị trí bình thường trong vòng sợi chèn ép vào ống sống hay các rễ thần kinh sống. Về giải phẫu bệnh có sự đứt rách vòng sợi, về lâm sàng gây nên hội chứng thắt lưng hông điển hình [2], [9]. 4 Nguyên nhân: người lớn tuổi thường có sự thoái hóa đĩa sống lúc đó và vành thớ mất tính đàn hồi, từ đó nhân dễ dàng phá vỡ vành thớ để di chuyển về phía sau, hay phía bên khi cột sống làm các động tác hàng ngày khiến đĩa đệm phải chịu những động lực trong mọi chiều. Người trẻ thường do yếu tố sai tư thế khiến đĩa đệm cột sống bị đè ép quá nặng dẫn đến đè ép quá nặng tổn thương vành thớ như động tác gập xoay cột sống, gập duỗi và nghiêng của cột sống.

Những yếu tố gây nên thoát vị cột sống: áp lực trọng tải cao, áp lực căng phồng của tổ chức đĩa đệm cao, sự lỏng lẻo trong từng phần với sự tan rã của tổ chức đĩa đệm, lực đẩy, xoắn vặn nén ép quá mức vào đĩa đệm cột sống [2]. Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ Định nghĩa: thoát vị đĩa đệm cột sống cổ xảy ra khi khối nhân nhầy thoát ra khỏi bao xơ và gây chèn ép lên rễ dây thần kinh hoặc tủy cổ có thể gây đau lan tỏa dọc theo đường đi của dây thần kinh đến cánh tay, bàn ngón tay thậm chí gây ra liệt. Bệnh hay gặp ở người trên 40 tuổi. Cột sống cổ có 7 đốt sống, giữa 2 đốt sống từ C2 - C7 có các đĩa đệm gian đốt, mỏng ở phía sau, dày ở phía trước, được cấu tạo bởi các vòng collagen, mâm sụn, và nhân nhày có chiều cao 3mm bằng 2/3 chiều cao thân đốt.

Thần kinh và mạch máu của đĩa đệm rất nghèo nàn vì vậy nên quá trình lão hóa xảy ra sớm [2], [9], [13]. Nguyên nhân: thoái hóa sinh học theo tuổi, lão hóa, do đĩa đệm phải chịu áp lực trọng tải của đầu; thoái hóa bệnh lý do yếu tố bệnh lý, cơ học, miễn dịch, chuyển hóa, di truyền [4], [12], [17]. Đau dây thần kinh tọa Định nghĩa: đau thần kinh tọa còn gọi là đau thần kinh hông to, biểu hiện bởi cảm giác đau dọc theo đường đi của thần kinh tọa: đau tại cột sống thắt lưng lan tới mặt ngoài đùi, mặt trước ngoài cẳng chân, mắt cá ngoài và tận ở các ngón chân. Tùy theo vị trí tổn thương mà hướng lan của đau có khác nhau.

Thường gặp đau thần kinh tọa một bên, ở lứa tuổi lao động (30 - 50 tuổi). Trước kia tỷ lệ nam cao hơn nữ, song các nghiên cứu năm 2011 cho thấy tỷ lệ nữ cao hơn nam. Nguyên nhân thường gặp nhất là do thoát vị đĩa đệm. Tỷ lệ đau thần 5 tọa do thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng tại cộng đồng miền Bắc Việt Nam là 0,64% (2010) [1], [2], [9].

Nguyên nhân: nguyên nhân hàng đầu gây chèn ép rễ thần kinh tọa là thoát vị đĩa đệm; trượt đốt sống; thoái hóa cột sống thắt lưng gây hẹp ống sống thắt lưng. Các nhóm nguyên nhân do thoái hóa này có thể kết hợp với nhau; Các nguyên nhân hiếm gặp hơn: viêm đĩa đệm đốt sống, tổn thương thân đốt sống (thường do lao, vi khuẩn, u), chấn thương, tình trạng mang thai…[1], [2], [9]. Hội chứng cổ - vai - cánh tay Định nghĩa: Hội chứng cổ - vai - cánh tay còn gọi là hội chứng vai cánh tay hay bệnh lý rễ tủy cổ là một nhóm các triệu chứng lâm sàng liên quan đến các bệnh lý cột sống cổ có kèm theo các rối loạn chức năng rễ, dây thần kinh cột sống cổ và/hoặc tủy cổ, không liên quan tới bệnh lý viêm. - Biểu hiện lâm sàng thường gặp là đau vùng cổ, vai và một bên tay, kèm theo một số rối loạn cảm giác và/hoặc vận động tại vùng chi phối của rễ dây thần kinh cột sống cổ bị ảnh hưởng [1].

Nguyên nhân: - Nguyên nhân thường gặp nhất (70 - 80%) là do thoái hóa cột sống cổ, thoái hóa các khớp liên đốt và liên mỏm bên làm hẹp lỗ tiếp hợp. - Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ (20 - 25%), đơn thuần hoặc phối hợp với thoái hóa cột sống cổ. - Các nguyên nhân ít gặp khác gồm chấn thương, khối u, nhiễm trùng, loãng xương, bệnh lý viêm cột sống, bệnh lý phần mềm cạnh cột sống.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ