Tổng quan nghiên cứu

Bệnh dại là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút dại (Rabies virus) gây ra ở hệ thần kinh trung ương, lây truyền chủ yếu từ động vật sang người qua các vết cào, cắn hoặc liếm trên da tổn thương. Khi đã xuất hiện triệu chứng lâm sàng, tỷ lệ tử vong ở cả người và động vật là 100%. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm toàn cầu ghi nhận khoảng 60.000 trường hợp tử vong do bệnh dại và hơn 15 triệu người phơi nhiễm cần điều trị dự phòng. Tại Việt Nam, tỷ lệ tử vong do dại đứng thứ 14 trên thế giới, hàng năm có gần 500.000 người phải tiêm vắc xin phòng dại với chi phí điều trị trực tiếp vượt mức 300 tỷ đồng.

Tại khu vực miền Trung, tỉnh Quảng Nam là một trong những điểm nóng dịch tễ nghiêm trọng nhất. Giai đoạn 2011–2020, địa bàn tỉnh ghi nhận 21 ca tử vong do dại (riêng giai đoạn 2012–2016 chiếm 15/38 tổng số ca tử vong toàn miền Trung). Trong đó, huyện miền núi Nông Sơn liên tục ghi nhận các ca tử vong (03 trường hợp) với tỷ lệ nuôi chó thả rông phổ biến từ 1 đến 3 con/hộ. Tỷ lệ tiêm vắc xin phòng dại cho đàn vật nuôi tại Quảng Nam sụt giảm nghiêm trọng từ 69,4% năm 2017 xuống 37,8% năm 2018 và chỉ còn 12,5% vào năm 2020.

Trước bối cảnh quản lý đàn vật nuôi còn lỏng lẻo và nguy cơ bùng phát dịch bệnh thường trực, luận văn tập trung đánh giá thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) về phòng chống bệnh dại của 406 người dân tại 6 xã thuộc huyện miền núi Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam trong thời gian từ tháng 06/2020 đến tháng 12/2020. Nghiên cứu xác định các yếu tố nhân khẩu học, kinh tế, xã hội liên quan nhằm cung cấp cơ sở khoa học thực chứng cho công tác lập kế hoạch can thiệp y tế công cộng và thú y tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng mô hình lý thuyết Hành vi Sức khỏe và khung đánh giá KAP (Knowledge - Attitude - Practice) trong y tế công cộng. Khung lý thuyết này khẳng định rằng kiến thức đầy đủ, chính xác về bệnh học sẽ định hình thái độ tích cực, từ đó chuyển hóa thành các thực hành dự phòng an toàn, bền vững ở cộng đồng.

Về mặt dịch tễ học và bệnh học vi sinh, nghiên cứu áp dụng các nguyên lý về vi rút dại (Lyssavirus, họ Rhabdoviridae) mang ARN sợi đơn âm tính, có khả năng nhân lên tại mô cơ và di chuyển hướng tâm theo sợi trục thần kinh ngoại biên đến tủy sống và não bộ trước khi phân tán ly tâm ra tuyến nước bọt. Luận văn chuẩn hóa các khái niệm chuyên môn then chốt gồm: vi rút dại đường phố, vi rút dại cố định, điều trị dự phòng sau phơi nhiễm (PEP - Post-Exposure Prophylaxis), quy tắc "5 không" trong quản lý vật nuôi và ngưỡng bao phủ miễn dịch cộng đồng trên đàn chó (tối thiểu 70% theo khuyến cáo liên ngành Y tế - Nông nghiệp). Đồng thời, nghiên cứu bám sát hướng dẫn chuyên môn tại Quyết định số 1622/QĐ-BYT của Bộ Y tế về phân loại vết thương phơi nhiễm theo 3 mức độ (Độ I, Độ II, Độ III) để xác định chỉ định vắc xin và huyết thanh kháng dại (SAR).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang (cross-sectional study). Cỡ mẫu được xác định dựa trên công thức ước tính một tỷ lệ trong quần thể với mức ý nghĩa thống kê alpha bằng 0,05 (tương ứng hệ số tin cậy Z = 1,96), khoảng sai lệch mong muốn d = 0,05. Với tỷ lệ tham chiếu kiến thức đúng p = 60,4% (dựa trên nghiên cứu tiền đề tại Tuy An năm 2019), cỡ mẫu tối thiểu tính toán là 368 đối tượng. Trên thực địa, tác giả đã thu thập thành công dữ liệu từ 406 người dân trưởng thành (đạt 110,3% quy mô dự kiến).

Quy trình chọn mẫu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên nhiều giai đoạn (3 giai đoạn) nhằm đảm bảo tính đại diện cao nhất:

  • Giai đoạn 1: Lựa chọn toàn bộ 6 xã của huyện Nông Sơn (Quế Lộc, Quế Trung, Quế Lâm, Sơn Viên, Phước Ninh, Ninh Phước).
  • Giai đoạn 2: Tại mỗi xã, chọn ngẫu nhiên 2 thôn, tổng cộng 12 thôn nghiên cứu.
  • Giai đoạn 3: Lập danh sách chủ hộ tại từng thôn, sử dụng bảng số ngẫu nhiên để chọn hộ gia đình và phỏng vấn trực tiếp 01 người từ 18 tuổi trở lên gặp đầu tiên; áp dụng nguyên tắc "nhà liền nhà" bên tay phải khi cần thay thế mẫu.

Dữ liệu được làm sạch, mã hóa và phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS 20.0. Tác giả sử dụng kiểm định Chi-bình phương ($\chi^2$), ANOVA và mô hình hồi quy logistic đa biến (Multivariate Logistic Regression). Việc lựa chọn hồi quy logistic đa biến với các biến độc lập có giá trị p < 0,20 từ phân tích đơn biến cho phép kiểm soát toàn diện các yếu tố gây nhiễu, xác định chính xác các yếu tố nhân khẩu học thực sự tác động đến kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống bệnh dại với ngưỡng ý nghĩa thống kê p < 0,05. Bộ tiêu chuẩn đánh giá phân loại rõ ràng: đối tượng đạt từ 75% tổng điểm tối đa trở lên được xếp loại có kiến thức đúng (≥10/13 điểm), thái độ đúng (≥5/7 điểm) và thực hành đúng (≥75% thang điểm theo từng phân nhóm).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát trên 406 người dân tại huyện Nông Sơn cho thấy sự cân bằng về giới tính với 50,7% nam giới (206 người) và 49,3% nữ giới (200 người). Độ tuổi từ 41 đến 60 chiếm đa số với 51,7% (210 người), nhóm từ 18 đến 40 tuổi chiếm 29,1% (118 người). Đa số đối tượng làm nông nghiệp (67,0%), trình độ học vấn từ trung học cơ sở trở lên chiếm 70,9% (288 người) và 66,0% hộ gia đình có mức sống từ trung bình đến khá trở lên.

Về nhận thức, 94,3% người dân biết bệnh dại là bệnh nguy hiểm và 99,0% nhận diện đúng động vật truyền bệnh chính là chó, mèo. Có 88,4% người biết bệnh dại có thể dự phòng được và 85,5% biết đến vắc xin phòng dại cho vật nuôi. Tuy nhiên, một lỗ hổng kiến thức nghiêm trọng tồn tại khi chỉ có 59,1% (240 người) hiểu đúng rằng người khi đã lên cơn dại thì hoàn toàn không thể chữa khỏi.

Về kỹ năng xử lý vết thương, 83,3% (338 người) biết rửa vết thương dưới vòi nước sạch bằng xà phòng, nhưng chỉ có 10,8% (44 người) biết tuyệt đối không nên băng kín vết thương ngay sau sơ cứu. Đáng lo ngại, 13,5% (55 người) vẫn tin vào các phương pháp dân gian nguy hại như đắp lá ớt, bôi dầu hỏa, dùng bột nghệ, chanh hoặc thảo dược lên vết thương.

Về kênh thông tin tiếp cận, hệ thống loa đài, truyền hình là nguồn tiếp cận lớn nhất đạt 82,3%, tiếp theo là người thân và bạn bè (49,0%), cán bộ y tế (48,5%), sách báo/tờ rơi/pano (41,9%), trong khi các buổi họp dân chỉ mang lại thông tin cho 37,4% người tham gia khảo sát.

Thảo luận kết quả

Khi xem xét dữ liệu qua bảng phân tích đa chiều và biểu đồ phân bổ thông tin, sự chênh lệch rõ nét giữa nhận biết đại cương và kiến thức hành vi chuyên sâu được bộc lộ rõ ràng. Mặc dù tỷ lệ người dân nhận thức được tính nguy hiểm đạt 94,3%, tương đồng với nghiên cứu của Harish Kumar Tiwari tại Ấn Độ (96%) và cao hơn nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hương tại Phú Thọ (61,3%), sự hiểu biết về tính chất tử vong tuyệt đối 100% của bệnh dại lại chỉ đạt 59,1%. Sự thiếu hụt này dẫn đến thái độ chủ quan, khiến người dân dễ trì hoãn đến cơ sở y tế khi bị cắn bởi động vật trông có vẻ khỏe mạnh.

Tỷ lệ người dân biết sơ cứu vết thương bằng nước sạch và xà phòng đạt 83,3%, vượt trội so với nghiên cứu của Tadele Kabeta tại Ethiopia (chỉ 7,0%) và Nguyễn Thị Thắng tại Phú Yên (khoảng 70,2%). Tuy nhiên, tỷ lệ 13,5% người dân còn tin vào mẹo dân gian và 89,2% chưa biết việc không được băng kín vết thương cho thấy công tác truyền thông trước đây chỉ mới dừng ở bề nổi, chưa đi sâu vào từng thao tác kỹ thuật sơ cứu phơi nhiễm.

Mô hình hồi quy logistic đa biến khẳng định mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) giữa trình độ học vấn, tần suất tiếp cận truyền thông với mức độ thực hành đúng. Người có trình độ học vấn từ THCS trở lên và tiếp cận thông tin từ cán bộ y tế có tỷ lệ thực hành đúng cao hơn rõ rệt so với nhóm còn lại. Thực trạng tỷ lệ tiêm vắc xin cho đàn chó mèo của toàn tỉnh Quảng Nam năm 2020 chỉ đạt 12,5% giải thích lý do vì sao nguy cơ bùng phát bệnh dại trên địa bàn miền núi vẫn luôn ở mức báo động, bắt nguồn từ thói quen thả rông gia súc và rào cản chi phí tiêm phòng.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng khoa học thu được từ nghiên cứu, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp can thiệp đồng bộ:

  1. Nâng cấp và chuyên biệt hóa nội dung truyền thông y tế cơ sở: Trung tâm Y tế huyện Nông Sơn chủ trì phối hợp với Trạm Y tế của 6 xã đẩy mạnh phát thanh trên hệ thống loa truyền thanh cơ sở (kênh tiếp cận 82,3%) với tần suất 2 lần/tuần. Nội dung tập trung nhấn mạnh tính chất vô phương cứu chữa khi đã phát bệnh và hướng dẫn chi tiết quy trình xử trí: rửa xà phòng 15 phút, sát trùng bằng cồn 45°–70°, không băng kín vết thương và tuyệt đối không chữa mẹo bằng thuốc nam; đặt mục tiêu giảm tỷ lệ tin vào thuốc dân gian từ 13,5% xuống dưới 1% trong giai đoạn 2021–2023.
  2. Triển khai chiến dịch tiêm vắc xin bao phủ đàn vật nuôi bắt buộc: UBND huyện Nông Sơn chỉ đạo Phòng Nông nghiệp, Trung tâm Kỹ thuật Nông nghiệp huyện phối hợp cùng Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Quảng Nam tổ chức tiêm vắc xin dại đồng loạt hàng năm cho 100% đàn chó, mèo trên địa bàn. Mục tiêu nâng tỷ lệ bao phủ tiêm phòng từ 12,5% lên đạt tối thiểu 70% tổng đàn thực tế giai đoạn 2021–2025 theo đúng Chiến lược Quốc gia khống chế bệnh dại.
  3. Mở rộng khả năng tiếp cận vắc xin và huyết thanh kháng dại cho người: Sở Y tế tỉnh Quảng Nam cùng Trung tâm Y tế huyện Nông Sơn duy trì điểm tiêm chủng vắc xin dại tế bào thế hệ mới thường trực tại trung tâm y tế huyện; thiết lập cơ chế hỗ trợ 100% chi phí điều trị dự phòng sau phơi nhiễm cho người thuộc hộ nghèo (17,5%) và cận nghèo (16,5%), đảm bảo 100% bệnh nhân phơi nhiễm nguy cơ cao được tiêm vắc xin và huyết thanh kháng dại trong vòng 24–48 giờ đầu.
  4. Siết chặt quản lý đàn chó nuôi và cam kết "5 không" cấp thôn bản: UBND các xã ban hành quy chế quản lý nuôi nhốt vật nuôi, bắt buộc 100% hộ nuôi ký cam kết "5 không", thành lập tổ săn bắt và xử lý triệt để chó thả rông không rọ mõm tại 12 thôn, gắn trách nhiệm quản lý cho trưởng thôn và cán bộ thú y xã.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cán bộ quản lý y tế dự phòng và kiểm soát bệnh tật (Hệ thống CDC, Trung tâm Y tế huyện): Cung cấp số liệu dịch tễ học thực địa chính xác về tỷ lệ nhận thức, thái độ và hành vi của người dân miền núi, hỗ trợ xây dựng chiến lược truyền thông nguy cơ và phân bổ nguồn lực vắc xin phòng dại hiệu quả.
  2. Bác sĩ, nhân viên y tế tại Trạm Y tế xã và phòng tiêm chủng cơ sở: Sử dụng tài liệu làm cơ sở hướng dẫn chuyên môn, tư vấn phân loại mức độ vết thương chuẩn xác theo Quyết định 1622/QĐ-BYT, đồng thời điều chỉnh các hành vi sơ cứu sai lệch thường gặp của người bệnh.
  3. Cán bộ quản lý Thú y và Chăn nuôi địa phương: Nắm bắt thực trạng quản lý đàn vật nuôi thả rông và tỷ lệ tiêm phòng thấp tại vùng sâu, vùng xa, từ đó xây dựng kế hoạch rà soát đàn và tổ chức chiến dịch tiêm chủng thú y đạt tỷ lệ bao phủ trên 70%.
  4. Học viên sau đại học, sinh viên ngành Y tế công cộng và Y đa khoa: Tham khảo phương pháp thiết kế nghiên cứu cắt ngang, kỹ thuật chọn mẫu phân tầng nhiều giai đoạn và quy trình phân tích hồi quy logistic đa biến trên SPSS trong nghiên cứu hành vi sức khỏe cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

1. Bệnh dại lây truyền chủ yếu qua những con đường nào và có lây từ người sang người không?

Bệnh dại lây truyền chủ yếu qua nước bọt của động vật mắc bệnh bài tiết ra ngoài và xâm nhập vào cơ thể người qua các vết cào, cắn hoặc liếm trên vùng da bị tổn thương, niêm mạc. Nghiên cứu xác nhận 66,7% người dân biết bệnh lây qua nước bọt và 77,1% biết bệnh không lây truyền trực tiếp từ người sang người trong điều kiện sinh hoạt tự nhiên thông thường.

2. Khi bị động vật nghi dại cào hoặc cắn, các bước sơ cứu ban đầu chuẩn y khoa là gì?

Ngay sau khi bị cắn, cần xối rửa vết thương liên tục dưới vòi nước chảy với xà phòng trong ít nhất 15 phút, sau đó sát khuẩn bằng cồn 45°–70° hoặc dung dịch sát trùng. Tuyệt đối không làm dập nát vết thương, không khâu kín hoặc băng bó chặt và không đắp bất kỳ loại lá cây hay thảo dược nào, rồi khẩn trương đến cơ sở y tế gần nhất.

3. Vì sao tỷ lệ tiêm phòng dại cho đàn vật nuôi tại huyện Nông Sơn và Quảng Nam lại ở mức rất thấp?

Theo thống kê năm 2020, tỷ lệ tiêm vắc xin cho đàn chó mèo toàn tỉnh chỉ đạt 12,5%. Nguyên nhân chính do tập quán chăn nuôi thả rông ở địa bàn miền núi khó kiểm soát, việc rà soát thống kê tổng đàn hàng năm chưa triệt để, cùng với nhận thức hạn chế của người dân về trách nhiệm tiêm phòng bắt buộc và rào cản chi phí thú y.

4. Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành đúng trong nghiên cứu này được xác định như thế nào?

Nghiên cứu áp dụng thang điểm chuẩn hóa: người có kiến thức đúng khi đạt từ 10/13 điểm trở lên (≥75% điểm tối đa); thái độ đúng khi đạt từ 5/7 điểm trở lên (≥75%); thực hành đúng được tính riêng cho từng nhóm đối tượng có nuôi hoặc không nuôi vật nuôi, từng bị cắn hoặc chưa bị cắn với ngưỡng đạt từ 75% tổng điểm trở lên.

5. Yếu tố nào có mối liên quan mạnh mẽ nhất đến kiến thức và thực hành phòng chống bệnh dại của người dân?

Phân tích mô hình hồi quy đa biến cho thấy trình độ học vấn (từ trung học cơ sở trở lên chiếm 70,9%) và số lượng nguồn tiếp cận thông tin y tế (đặc biệt từ hệ thống truyền thanh cơ sở 82,3% và cán bộ y tế 48,5%) là hai yếu tố tương quan thuận có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) giúp nâng cao kiến thức và thực hành phòng bệnh đúng chuẩn.

Kết luận

  • Tỷ lệ nhận biết về sự nguy hiểm của bệnh dại ở người dân đạt 94,3% và 99,0% nhận diện đúng động vật truyền bệnh, tuy nhiên vẫn còn 40,9% đối tượng chưa biết bệnh có tỷ lệ tử vong tuyệt đối 100% khi lên cơn.
  • Tỷ lệ người dân biết rửa vết thương bằng nước xà phòng đạt 83,3%, nhưng còn 13,5% người dân vẫn duy trì thói quen nguy hại đắp lá ớt, bôi dầu hỏa hoặc chữa mẹo dân gian.
  • Kênh truyền thông tiếp cận hiệu quả nhất là loa đài, truyền hình với 82,3%, trong khi tỷ lệ tiếp cận thông tin qua các buổi họp dân còn hạn chế ở mức 37,4%.
  • Tỷ lệ bao phủ vắc xin dại trên đàn vật nuôi tại địa phương còn rất thấp (năm 2020 toàn tỉnh chỉ đạt 12,5%), kết hợp tập quán nuôi chó thả rông tạo nên nguy cơ dịch tễ tiềm tàng rất lớn.
  • Trình độ học vấn từ THCS trở lên và việc tiếp cận đa nguồn tin y tế là các yếu tố dự báo độc lập quan trọng giúp tăng cường kiến thức và thực hành phòng chống bệnh dại đúng chuẩn y khoa (p < 0,05).

Luận văn đã đóng góp nguồn dữ liệu thực chứng giá trị về khoảng trống nhận thức và hành vi tại vùng miền núi Nông Sơn, đặt nền tảng cho việc tiếp cận mô hình Một Sức Khỏe (One Health) kết hợp chặt chẽ giữa Y tế và Thú y. Trong giai đoạn 2021–2025, chính quyền địa phương và các cơ quan chuyên môn cần khẩn trương thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý đàn vật nuôi, nâng cao tỷ lệ tiêm phòng thú y đạt trên 70% và đổi mới truyền thông cơ sở để hiện thực hóa mục tiêu không còn người tử vong vì bệnh dại.