MỞ ĐẦU Máu và chế phẩm máu là loại thuốc đặc biệt, rất cần thiết cho điều trị, cấp cứu ngƣời bệnh. Hiện nay máu, chế phẩm máu vẫn đƣợc lấy từ ngƣời hiến máu và đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã đƣợc thực hiện nhƣng vẫn chƣa tìm đƣợc chất thay thế máu [20], [33]. Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), ƣớc tính cứ trung bình 80 ngƣời bệnh thì có một ngƣời cần đƣợc điều trị bằng máu và các chế phẩm máu, cứ 1000 giƣờng bệnh thì cần khoảng 7.000 ngƣời hiến máu/năm. Cũng theo ƣớc tính của WHO: Các nƣớc đang phát triển nhƣ nƣớc ta thì nhu cầu máu hàng năm chiếm khoảng 2% dân số [80].
Theo báo cáo của Tổng cục thống kê (năm 2014) dân số nƣớc ta hiện có khoảng 90 triệu ngƣời, nhƣ vậy nhu cầu truyền máu của ngƣời bệnh ở nƣớc ta hiện nay cần vào khoảng 1. Máu quan trọng và cần thiết cho điều trị ngƣời bệnh nhƣ vậy, nhƣng truyền máu cũng có thể gây những tai biến và để lại những hậu quả nặng nề, thậm chí có thể gây ảnh hƣởng tới tính mạng của ngƣời bệnh, một trong những tai biến nghiêm trọng nhất của truyền máu là lây truyền virus viêm gan B (Hepatitis B virus: HBV), virus viêm gan C (Hepatitis C virus: HCV) và virus gây suy giảm miễn dịch ở ngƣời (Human Imunodeficiency virus: HIV) từ ngƣời hiến máu sang ngƣời nhận máu. Do vậy, đảm bảo an toàn truyền máu phòng lây nhiễm HIV, HBV, HCV qua đƣờng truyền máu là một vấn đề cấp thiết, đã và đang đƣợc cả thế giới quan tâm [42]. Hiện nay, để sàng lọc HIV, HBV, HCV cho ngƣời hiến máu tại các ngân hàng máu, ngƣời ta có thể dùng một trong những phƣơng pháp sau: ELISA, hóa phát quang, điện hóa phát quang hoặc phối hợp cả ba phƣơng pháp này để phát hiện các kháng thể và các kháng nguyên của virus.
Các phƣơng pháp này có độ tin cậy khá cao và hầu hết đã và đang đƣợc áp dụng tại các ngân hàng máu, tuy nhiên nhƣợc điểm của các phƣơng pháp này là giai đoạn cửa sổ còn khá dài chính vì vậy nhiều ngân hàng máu trên thế 1 giới đã bổ sung thêm kỹ thuật NAT dể phát hiện HIV-RNA, HBV-DNA, HCV-RNA nhằm rút ngắn thêm nữa giai đoạn cửa sổ của nhiễm các virus này [52], [59], [60], [70]. Từ năm 1999, kỹ thuật NAT đã đƣợc triển khai tại một số nƣớc phát triển (Mỹ, Đức, Nhật.) để hạn chế tối đa việc lây truyền HIV, HBV, HCV cho ngƣời bệnh trong giai đoạn cửa sổ: Cụ thể, với kỹ thuật NAT để phát hiện HCV-RNA đã giúp giảm thời gian cửa sổ từ 90 ngày xuống còn từ 30 đến 40 ngày sau khi nhiễm HCV; với việc phát hiện HIV-RNA đã giảm thời gian cửa sổ từ từ 20 ngày xuống còn 11 ngày; với việc phát hiện HBV-DNA đã giảm thời gian cửa sổ từ 60 ngày xuống còn 20 đến 30 ngày đối với HBV [60], [61], [71], [72]. Tại Việt Nam, sàng lọc huyết thanh học đối với HIV, HBV ở ngƣời hiến máu đã đƣợc thực hiện từ cuối năm 1994, sàng lọc HCV đƣợc tiến hành vào năm 1999 trên phạm trên phạm vi toàn quốc. Năm 2013 Bộ Y tế đã ban hành thông tƣ “Hƣớng dẫn hoạt động truyền máu” – Thông tƣ 26/2013/TT-BYT ngày 16/9/2013 thì xét nghiệm NAT bắt buộc phải tiến hành thƣờng quy để sàng lọc các đơn vị máu tại các trung tâm truyền máu theo lộ trình quy định [4], [5].
Năm 2015 Viện Huyết học – Truyền máu Trung ƣơng (Viện HHTMTW) đã bắt đầu triển khai kỹ thuật NAT để bổ sung cho kỹ thuật ELISA sàng lọc HIV, HBV, HCV cho ngƣời hiến máu. Do vậy việc đánh giá các kết quả sàng lọc HBV, HCV, HIV cho ngƣời hiến máu tại Viện HHTMTW giai đoạn 2013-2015 là rất cần thiết, chính vì vậy chúng tôi em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu sàng lọc vi rút HIBV, HBCV, HCIV ở ngƣời hiến máu tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ƣơng năm 2013 – 2014” với hai mục tiêu sau: 1. Nghiên cứu, kết quả sàng lọc đƣợc HBV, HCV, HIV bằng phƣơng pháp huyết thanh học tại Viện Huyết học – Truyền máu TW năm 2013-2014. Nghiên cứu kết quả bƣớc đầu của việc sử dụngÁp dụng đƣợc kỹ thuật sinh học phân tử NAT trong việc nâng cao tính an toàn sinh học của máu và các chế phẩm máu.
Formatted: Normal, No bullets or numbering Formatted: Normal, Left, Space Before: 0 pt, After: 0 pt, Add space between paragraphs of the same style, Line spacing: single, No bullets or numbering Formatted: Font: Italic, Font color: Black 3 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN Formatted: Centered 1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA HBV, HCV, HIV 1. Virus gây suy giảm miễn dịch ở ngƣời (HIV) 1.
Lịch sử nghiên cứu tìm ra HIV Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở ngƣời (Aquired Immune Deficiency Syndrome - AIDS) đã đƣợc mô tả lần đầu tiên vào năm 1981, ở Los Angeles (Mỹ) trên một số trƣờng hợp đồng tính luyến ái bị viêm phổi do pneumocystis carinii (PCP) và u hạch dạng Sarcoma Kaposi [10]],[ [51]. Năm 1982, ngƣời ta lại gặp hội chứng này trên những bệnh nhân Hemophilia A và B mà đã đƣợc truyền máu và chế phẩm máu nhiều lần để điều trị [2]. Năm 1983, nhà bác học Montagnier (Pháp) và Gallo (Mỹ) đã phát hiện và chứng minh HIV chính là căn nguyên gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở ngƣời. Năm 1985, ngƣời ta đã phát hiện đƣợc kháng thể chống HIV trong huyết thanh và sử dụng kháng thể này trong các xét nghiệm phát hiện HIV.
Năm 1987, các nhà khoa học đã phát hiện enzym sao chép ngƣợc reverse transcriptase (RT) trong nhân của virus HIV điều này cho phép có thể phát hiện virus bằng kỹ thuật sinh học phân tử [9], [51], [69], [71]. Năm 1984, ngƣời ta cũng đã xác định đƣợc tế bào CD4 là 1 tế bào đích của HIV. Năm 1996, đã phát hiện ra các đồng thụ thể CCR5, CXCR4, các thụ thể này có mặt ở trên các đại thực bào và tế bào lympho có liên quan đến sự xâm nhập của virus vào trong cơ thể. Một số enzyme quan trọng của virus cũng lần lƣợt đƣợc phát hiện nhƣ: intergrase (năm 1992), protease và một số yếu tố có vai trò trong sự trƣởng thành của virus, cũng nhờ những hiểu biết này mà các phƣơng pháp điều trị HIV đã và đang đƣợc áp dụng một cách rộng rãi cho những bệnh nhân HIV/ AIDS [51].
Cấu trúc virus HIV HIV thuộc họ nhóm Retroviridae, nhóm thuộc họ Lentivirus. Cấu trúc của hạt virus hoàn chỉnh (virion) gồm 3 lớp: - - Lớp vỏ ngoài (vỏ envelop);: Formatted: Indent: First line: 1.27 cm - Lớp này là một màng kép có kháng nguyên chéo với màng sinh chất của tế bào. Gắn lên màng này là các phân tử glycoprotein có trọng lƣợng phân tử là 160 (gp160), 120 (gp120), 41 (gp41) kilodalton [10], [51], [59]. - Lớp vỏ trong (vỏ capsit); - Genom virus bao gồm 2 phân tử ARN (+) giống nhau bắt cặp vơi phân tử tARN của tế bào nhờ cầu nối hydro.
Mỗi sợi dài 8,5 - 9,5 kb. Sau khi phiên mã đƣợc gắn mũ đầu 5’ và đầu 3’ đƣợc gắn đuôi poly A, đặc : Vỏ này gồm 2 lớp protein gồm lớp ngoài hình cầu, cấu tạo bởi protein p18 (với HIV-2) và p17 (với HIV-1) và lớp trong hình trụ không đều có cấu tạo từ các phân tử protein p24 [10], [51], [59]. - Lõi của HIV gồm genome và các enzyme (đặc điểm của genone và các enzyme đƣợc trình bày trong bảng 1. Cấu trúc của virus HIV [51] (NC –nucleocapsid, CA- capsid, MA: Maxtrix – lớp vỏ ngoài ) Formatted: English (United States) Bảng 1.
Thành phần và chức năng của genom virus HIV [10], [51]. Formatted: Line spacing: 1.5 lines và chức năng của các loại protein cấu trúc và điều hòa của HIV [10], [51]. Formatted: Line spacing: 1.5 lines Formatted Table Tên proteingen Chức năng Mã cho kKháng nguyên đặc hiệu nhóm, protein capsidđó là Gag các protein cấu trúc Gen Env mã hóa cho các protein cCó vai trò liên kết với các Env thụ thể của tế bào nhiễm Formatted: Space After: 6 pt Gen Pol mã cho enzyme dùng trong phiên mã ngƣợc. Sản phẩm của gen pol có hoạt tính enzyme khác nhau: polymeraza, ribonucleaza và endonucleaza.
Endonucleaza Các có hoạt tính integraza hoặc lygaza để gắn xen AND vào genProtein nhiễm sắc thể của tế bào.Các enzyme cc thể của Protease: Formatted: Font: Font color: Black cấu trúc Tách các protein đƣợc mã hóa bởi gen Gag và Pol thành các phân tử hoạt động. Formatted: Font: Font color: Black Pol RT: Là enzyme DNA polymerase phụ thuộc RNA, Formatted: Normal, Space After: 6 pt, Add space between paragraphs of the same style, dạng hoạt động của nó là p66/51 ở HIV-1 và p68 ở HIV-2, No bullets or numbering đảm nhiệm sao mã bộ gien virus thành DNA trung gian. Intergrase: Làm nhiệm vụ gắn liên kết DNA của virus vào DNA của tế bào vật chủ Protein Các Làm tăng sự phiên mã của virusMã cho protein p16 điều gen điều Tat hòa sự kéo dài phiên mã. Thiếu protein này sự phiên mã sẽ hòa phiên kết thúc sớm.
mã Rev Điều hòa sự biểu hiện của các gen có vai trò cắt nối và vận 6 Formatted Table Tên proteingen Chức năng chuyển mRNA.Gen rev mã cho protein rev (p19) điều hòa sự vận chuyển các ARN từ nhân vào tế bào chất, nhờ đó tổng hợp đầy đủ các protein cấu trúc. Ức chế hoạt động của CD3, CD4, và MHC-1, tăng cƣờng tín hiệu và kích hoạt tế bào T, hoạt hóa tế bào chết theo Nef chƣơng trình, nâng cao tính lây nhiễm của virus.Mã cho yếu tố biểu hiện âm tính, đó là protein làm giảm biểu hiện của gen. Nhân tố lây nhiễm làm tăng sự trƣởng thành (chín) và giải phóng HIV ra ngoài tế bào.Mã cho protein p23 là yếu tố gây Vif nhiễm, làm tăng khả năng nẩy chồi giúp cho virus dễ dàng xâm nhập từ tế bào này sang tế bào khác. Nếu thiếu gen vif virus sẽ mất khả năng gây nhiễm.
Mã cho protein có vai trò lLàm tăng sự chín và giải phóng HIV ra ngoài tế bào bằng cách điều chỉnh cân bằng kênh ion Vpu K+ ở màng tế bào, làm thoái hóa CD4, ức chế hoạt hóa NF- κB. Mã cho các prtotein liên quan đến cCác liên kết của virus, Vpr tải nạp qua màng, biệt hóa, chu kỳ tế bào, điều hòa … 1. Chuyển đổi huyết thanh của ngƣời nhiễm HIV/AIDS Khi xâm nhập vào cơ thể, HIV tồn tại trong các hạch bạch huyết của ngƣời bị nhiễm. Một ngƣời đã bị nhiễm HIV thì DNA-HIV đƣợc phát hiện trong các bạch cầu từ ngày thứ 17 đến 20 và kháng thể HIV có thể đƣợc phát hiện từ ngày thứ 20 đến 25 [50].
có thể phát hiện đƣợc RNA-HIV trong huyết tƣơng vào ngày thứ 14 đến 15.