Tổng quan luận án

Sức khỏe của phụ nữ và trẻ em là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Mặc dù các chính sách ưu tiên phát triển miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã giúp cải thiện đáng kể các chỉ số cơ bản về chăm sóc sức khỏe sinh sản, thực tế tại các vùng cao vẫn tồn tại khoảng cách phát triển lớn so với mặt bằng chung cả nước. Tại tỉnh Bắc Kạn nói chung và huyện Bạch Thông nói riêng, đời sống của người dân tộc Dao vẫn còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí hạn chế, giao thông cách trở và điều kiện cơ sở vật chất y tế chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu. Cùng với đó, các tập quán văn hóa lạc hậu như bói cúng ma khi đau ốm, tự mua thuốc điều trị, sinh con tại nhà không có cán bộ y tế đỡ, kiêng khem không khoa học và tâm lý sinh nhiều con vẫn tồn tại dai dẳng, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe bà mẹ và trẻ em.

Nhiều công trình khoa học trước đây đã khảo sát từng khía cạnh riêng lẻ về tình trạng sức khỏe, mô hình bệnh tật ở các vùng dân tộc thiểu số, nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về những yếu tố văn hóa - xã hội liên quan đến việc cung cấp và sử dụng dịch vụ y tế của phụ nữ người Dao. Do đó, việc nghiên cứu các yếu tố này là đòi hỏi cấp thiết nhằm cung cấp cơ sở thực tiễn để xây dựng các giải pháp can thiệp y tế phù hợp.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể gồm hai nội dung:

  1. Mô tả và phân tích nhu cầu, thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ y tế của phụ nữ người Dao trên một số khía cạnh văn hoá, dân tộc và xã hội tại một số xã thuộc huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
  2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến cung cấp và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ bà mẹ hiện có tại địa phương.

Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm:

  • Phụ nữ dân tộc Dao trong độ tuổi từ 15 đến 49 có chồng;
  • Lãnh đạo xã, trưởng thôn bản;
  • Trạm trưởng trạm y tế xã, cán bộ trạm y tế, nhân viên y tế thôn bản, cộng tác viên dân số;
  • Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị sẵn có của trạm y tế;
  • Hệ thống sổ sách, báo cáo lưu trữ tại trạm y tế và sổ sách ghi chép của người Dao.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Địa bàn xã Đôn Phong và xã Dương Phong, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn (hai xã vùng cao đặc biệt khó khăn, thuộc khu vực III, tập trung tỷ lệ người Dao cao nhất huyện).
  • Thời gian: Nghiên cứu thực địa được triển khai trong thời gian 2 năm, từ tháng 01/2008 đến tháng 12/2009.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến hành vi chăm sóc sức khỏe, sử dụng dịch vụ y tế và các yếu tố ảnh hưởng ở khu vực nông thôn, miền núi:

  • Tình hình sức khỏe sinh sản và tử vong mẹ: Báo cáo của Vụ Sức khỏe Sinh sản - Bộ Y tế và Tổ chức Y tế Thế giới (2000 - 2001) tại 7 vùng sinh thái ghi nhận tỷ suất tử vong mẹ là 130/100.000 trẻ đẻ sống. Tác giả Trần Thị Trung Chiến (2006) chỉ rõ sự chênh lệch lớn giữa các vùng: tỷ suất chết mẹ ở vùng núi và trung du là 269/100.000 so với 81/100.000 ở đồng bằng; ở người dân tộc thiểu số là 316/100.000 so với 81/100.000 ở người Kinh. Ba nhóm nguyên nhân chậm trễ chính gây tử vong mẹ gồm: chậm trễ đến cơ sở y tế (46,3%), chậm chuyển lên tuyến trên do giao thông khó khăn (41,3%) và điều trị không kịp thời (40%).
  • Mô hình bệnh tật và y học dân gian của người Dao: Nghiên cứu của Nguyễn Đình Học (2004) về mô hình bệnh tật trẻ em người Dao cho thấy bệnh nội tiết - dinh dưỡng - chuyển hóa chiếm tỷ lệ cao nhất (45,3%), tiếp theo là nhiễm khuẩn ký sinh trùng (33,3%), bệnh tiêu hóa (32,3%) và bệnh đường hô hấp (29,4%). Về tri thức bản địa, công trình của Trần Văn Ơn ghi nhận bài thuốc tắm truyền thống của người Dao đỏ chứa từ 10 đến 120 loài cây thuốc khác nhau.
  • Thực trạng tiếp cận và sử dụng y tế cơ sở tại các tỉnh miền núi phía Bắc:
    • Dương Huy Liệu (1996) chỉ ra chỉ có 24,2% cơ sở trạm y tế xã nông thôn phía Bắc đạt mức tốt.
    • Nguyễn Thành Trung (2000, 2002) tại Thái Nguyên ghi nhận 41,7% người ốm tự mua thuốc, 36,1% bà mẹ sinh tại nhà và thử nghiệm mô hình nhà y tế bản cho thấy 76,07% đẻ tại nhà.
    • Đàm Khải Hoàn (2000) tại vùng núi ghi nhận tỷ lệ đẻ tại nhà chiếm 67,93% và tỷ lệ cúng bái khi ốm đau là 4,5%.
    • Lý Ngọc Kính (2003) tại xã Hợp Tiến (Đồng Hỷ, Thái Nguyên) phản ánh 100% phụ nữ Dao sinh con tại nhà (chỉ 50,9% có cán bộ y tế hỗ trợ), tỷ lệ khám thai đủ 3 lần đạt 49,7%.
    • Khổng Thị Ngọc Mai (2003) tại vùng cao chỉ rõ vai trò của nhân viên y tế thôn bản giúp giảm tỷ lệ cúng bái từ 8,97% xuống 1,14%.
    • Vũ Thanh Hiền (2003) tại Hà Giang, Đinh Hùng Minh (2004) tại Móng Cái, Lý Văn Cảnh (2006) tại vùng núi phía Bắc đều chỉ ra các rào cản về khoảng cách địa lý, thiếu trang thiết bị và chi phí y tế.
  • Nghiên cứu tại địa bàn tỉnh Bắc Kạn: Hà Việt Đông (2000) tại huyện Chợ Đồn ghi nhận 22,7% người bệnh không đi khám chữa bệnh. Nguyễn Thiên Lữ (2003) tại 5 bệnh viện tỉnh Bắc Kạn cho thấy 95,2% người nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số, 54,6% người nghèo bị ốm không điều trị gì, 41,1% phải vay mượn và 17,6% phải bán tài sản để trả chi phí viện phí.
  • Các mô hình lý thuyết quốc tế: Luận án vận dụng mô hình hành vi sử dụng dịch vụ y tế của Andersen (Hoa Kỳ), các nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về chăm sóc sức khỏe ban đầu, và bài học về gánh nặng chi trả y tế nông thôn tại Trung Quốc sau cải cách kinh tế.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Thay vì chỉ dừng lại ở các chỉ số dịch tễ học và y tế thuần túy, luận án đi sâu vào mối tương tác đa chiều giữa cấu trúc văn hóa tộc người (ngôn ngữ, nhà ở, tín ngưỡng 24 con ma, tục cấp sắc, bài thuốc tắm dân gian, các kiêng khem thai sản) với chuỗi cung ứng - tiếp cận dịch vụ y tế tại tuyến cơ sở ở huyện vùng cao Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Luận án dựa trên các khái niệm và khung phân tích chuyên ngành Vệ sinh Xã hội học và Tổ chức Y tế:

  • Khái niệm văn hóa và thành tố văn hóa: Dẫn chiếu định nghĩa văn hóa của UNESCO (2002) và phân loại 9 thành tố văn hóa (ngôn ngữ, ăn, ở, mặc, tín ngưỡng, lễ hội, văn nghệ dân gian, tri thức dân gian, phong tục tập quán).
  • Khái niệm dịch vụ và dịch vụ y tế: Dựa trên 5 đặc tính cơ bản của dịch vụ (đồng thời, không thể tách rời, không đồng nhất, vô hình, không lưu trữ được).
  • Khung tiếp cận hành vi sử dụng dịch vụ y tế: Tổng hợp 3 góc độ gồm Kinh tế học, Nhân học và Mô hình lý thuyết quyết định hành vi.
  • Phương pháp Giám sát dựa vào cộng đồng (CBM - Community Based Monitoring): Phương pháp do Bộ Y tế và UNICEF ban hành, đánh giá hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu qua chuỗi 5 chỉ số logic:

$$\text{Đối tượng đích} \rightarrow \text{Sẵn có} \rightarrow \text{Tiếp cận} \rightarrow \text{Sử dụng} \rightarrow \text{Sử dụng đủ} \rightarrow \text{Sử dụng hiệu quả}$$

  • Phương pháp ca bệnh mẫu (Paper case): Phương pháp của Ngân hàng Thế giới (World Bank) kết hợp bảng kiểm (Checklist) để đo lường năng lực chuyên môn, kiến thức và kỹ năng thực hành chăm sóc sức khỏe sinh sản của cán bộ y tế tuyến xã.

Thiết kế và phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp hài hòa giữa phương pháp định lượng và phương pháp nghiên cứu định tính có sự tham gia của cộng đồng (PRA - Participatory Rural Appraisal):

  1. Phương pháp định lượng:
    • Chọn mẫu chủ đích toàn bộ 329 phụ nữ người Dao từ 15 đến 49 tuổi có chồng tại xã Đôn Phong và Dương Phong (trong đó có 80 phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 5 tuổi).
    • Khảo sát toàn bộ 60 cán bộ y tế đang công tác tại 17 trạm y tế trên địa bàn huyện Bạch Thông.
    • Giám sát và theo dõi dọc 12 lần trong 12 tháng liên tiếp (mỗi tháng 1 lần vào tuần đầu tiên) đối với dịch vụ chăm sóc phụ nữ mang thai, sinh đẻ và tiêm chủng trẻ em.
  2. Phương pháp định tính PRA:
    • Phỏng vấn sâu các đối tượng đích: 1 chủ tịch xã, 1 thầy cúng, 1 trưởng thôn, 1 trạm trưởng trạm y tế, 1 lang y.
    • Thảo luận nhóm trọng tâm (Focus Group Discussion): 2 nhóm cán bộ y tế (mỗi nhóm gồm 8 người: 7 cán bộ trạm y tế và 9 nhân viên y tế thôn bản tham gia qua 2 phiên) và 1 nhóm phụ nữ người Dao 15 - 49 tuổi có chồng (10 người tham gia).
    • Kỹ thuật vẽ bản đồ phân bố dân cư (Mapping) do cán bộ y tế thực hiện.
    • Kỹ thuật ma trận (Matrix), xếp loại (Ranking), lịch mùa vụ (Seasoning) do phụ nữ Dao thực hiện.
    • Kỹ thuật ghi chép câu chuyện cuộc đời (Life story) từ lời kể của phụ nữ Dao.
    • Kỹ thuật quan sát trực tiếp và chụp ảnh tư liệu cộng đồng.

Nguồn dữ liệu và kỹ thuật xử lý

  • Dữ liệu thu thập từ bộ phiếu điều tra cấu trúc, biên bản thảo luận nhóm, băng ghi âm phỏng vấn sâu, phiếu kiểm tra ca bệnh mẫu, biểu mẫu theo dõi dây chuyền lạnh và báo cáo dịch tễ học tại trạm y tế.
  • Xử lý số liệu định lượng bằng phần mềm thống kê y sinh học SPSS sau khi làm sạch; dữ liệu định tính được phân tích theo chủ đề, lập bảng phân loại ma trận và kiểm tra chéo với dữ liệu hồi cứu sổ sách.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận và các công trình nghiên cứu trong nước, quốc tế. Luận án phân tích sâu các đặc điểm văn hóa - xã hội của dân tộc Dao có liên quan đến sức khỏe:

  • Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Mông - Dao, chữ viết mượn dạng chữ Hán nên số người thông thạo chữ viết rất ít, gây ra rào cản bất đồng ngôn ngữ lớn giữa thầy thuốc và người bệnh.
  • Nhà ở và vệ sinh môi trường: Người Dao chủ yếu làm nhà trệt thấp, ít cửa sổ, ẩm thấp, thiếu ánh sáng và thông khí. Tập quán đặt 2 đến 3 bếp đun trong nhà gây ô nhiễm khói bụi nghiêm trọng, làm gia tăng bệnh nhiễm khuẩn hô hấp ở phụ nữ và trẻ em. Đại đa số hộ gia đình không xây dựng hố xí và nhà tắm đạt chuẩn; chuồng gia súc đặt sát nơi ở.
  • Ăn uống và dinh dưỡng: Khẩu phần chính là gạo tẻ, gạo nếp, rau rừng. Sản phụ được nấu ăn riêng với thịt gà, thịt lợn hầm thuốc nam; thói quen dùng nước chè, lá thuốc và uống rượu men lá phổ biến.
  • Tín ngưỡng và quan niệm bệnh tật: Người Dao quan niệm con người có các phần hồn, khi hồn vắng mặt do mải chơi hoặc bị thần thánh bắt thì cơ thể sinh bệnh tật. Để khỏi bệnh, người bệnh phải nhờ thầy cúng làm lễ chuộc hồn hoặc bói cúng đuổi ma. Hệ thống tâm linh gồm 24 con ma (chia thành ma gia đình, ma trên trời, ma dưới đất; gồm cả ma lành phù hộ và ma dữ làm hại).
  • Hệ thống kiêng kỵ thai sản:
    • Kiêng kỵ có lợi: Kiêng quan hệ tình dục từ tháng thứ 3 - 4 của thai kỳ; khi ra ngoài đội nón che chắn; kiêng ăn thịt ôi thiu; sau sinh ăn cơm nóng nấu gừng, uống nước lá thuốc, cài cành lá trước cửa báo hiệu cách ly người lạ.
    • Kiêng kỵ bất lợi: Phụ nữ có thai thường giấu giếm, không muốn người khác biết; con dâu mới kiêng ăn uống nhưng vẫn phải gánh vác việc nương rẫy nặng nhọc; kiêng ăn hoa quả chua, rau cải nhiều nước vì sợ mất sữa; sinh nở tại nhà một mình hoặc chỉ có người nhà hỗ trợ do thầy cúng kiêng vào nhà có sản phụ vì sợ "vía bẩn" làm hỏng bùa phép.
  • Tri thức y học dân gian: Bài thuốc tắm truyền thống (Đìa dảo xin) chứa nhiều vị thuốc quý dùng cho sản phụ phục hồi thể lực; kinh nghiệm dân gian sử dụng thảo mộc chữa cảm mạo, sốt, đau khớp, trật đả gãy xương (dùng cây Tồm bùng lao tòn bó nẹp mía đỏ), rắn cắn, rết cắn.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định tính PRA, phương pháp chọn mẫu, bộ công cụ thu thập và quy chuẩn tính toán các chỉ số:

  • Thiết lập quy trình điều tra hộ gia đình trên toàn bộ 329 phụ nữ Dao tại hai xã Đôn Phong và Dương Phong; tập huấn cho 9 nhân viên y tế thôn bản làm điều tra viên.
  • Quy chuẩn hóa công thức đo lường 5 chỉ số logic CBM áp dụng cho 3 phân hệ dịch vụ:
    1. Chăm sóc trước sinh: Tỷ lệ ngày sẵn có viên sắt, que thử protein niệu, phiếu khám thai, huyết áp kế; Tỷ lệ tiếp cận dưới 60 phút; Tỷ lệ khám thai ít nhất 1 lần; Tỷ lệ khám thai đủ từ 3 lần trở lên; Tỷ lệ sử dụng hiệu quả (khám 3 lần vào 3 thời kỳ thai nghén, tiêm đủ 2 mũi uốn ván, uống viên sắt).
    2. Chăm sóc trong và sau sinh: Tỷ lệ ngày sẵn có oxytocin, dụng cụ đỡ đẻ tiệt trùng; Tỷ lệ cán bộ y tế đỡ đẻ; Tỷ lệ chăm sóc sau sinh đủ (khám thai $\ge 3$ lần, cán bộ y tế đỡ, khám sau đẻ 2 lần trong 42 ngày); Tỷ lệ sử dụng hiệu quả (đáp ứng đủ quy chuẩn kỹ thuật tại trạm có gói đẻ sạch).
    3. Tiêm chủng mở rộng trẻ em: Tỷ lệ ngày sẵn có vắc xin, vitamin A, cân theo dõi, phiếu nhiệt độ dây chuyền lạnh; Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ 8 loại vắc xin, uống 2 liều vitamin A và theo dõi tăng trưởng 12 lần/năm; Tỷ lệ sử dụng hiệu quả tính kết hợp điểm duy trì dây chuyền lạnh ($4^\circ\text{C} - 8^\circ\text{C}$).
  • Xây dựng bảng kiểm và bộ "ca bệnh mẫu" (Paper case) thực hiện trong 45 phút để lượng hóa kiến thức và kỹ năng thực hành chăm sóc sức khỏe sinh sản của 60 cán bộ y tế tại 17 trạm y tế thuộc huyện Bạch Thông.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Luận án cung cấp hệ thống số liệu định lượng chi tiết về dân số, nhân khẩu, điều kiện sống và khoảng cách tiếp cận dịch vụ y tế của người Dao tại huyện Bạch Thông:

Đặc điểm dân số và hộ nghèo Năm 2007 (n / %) Năm 2008 (n / %) Năm 2009 (n / %)
Tại toàn huyện Bạch Thông
- Số hộ gia đình người Dao - - 1.086 (14,41%)
- Số trẻ em $\le 5$ tuổi 386 (18,98%) 358 (19,03%) 372 (17,82%)
- Số phụ nữ 15 - 49 tuổi - - 1.284 (14,38%)
- Số hộ người Dao nghèo 558 (26,51%) 510 (25,88%) 482 (30,03%)
Tại 2 xã nghiên cứu (Đôn Phong, Dương Phong)
- Số hộ gia đình người Dao 376 (41,62%) 342 (43,60%) 359 (43,57%)
- Số trẻ em $\le 5$ tuổi 137 (50,55%) 177 (57,65%) 156 (49,21%)
- Số phụ nữ 15 - 49 tuổi 606 (52,33%) 556 (47,28%) 477 (40,36%)
- Số hộ người Dao nghèo 172 (45,74%) 169 (49,41%) 154 (42,90%)

Bảng tổng hợp đặc điểm dân số và hộ nghèo người Dao giai đoạn 2007 - 2009.

Số liệu khảo sát 329 phụ nữ người Dao từ 15 đến 49 tuổi có chồng tại hai xã nghiên cứu năm 2009 cho thấy:

  • Cơ cấu độ tuổi: Tuổi trung bình là 30,67 tuổi. Nhóm 15 - 19 tuổi chiếm 12,2% (40 người); 20 - 29 tuổi chiếm 34,3% (113 người); 30 - 39 tuổi chiếm 33,4% (110 người); 40 - 49 tuổi chiếm 20,1% (66 người).
  • Trình độ học vấn: Mù chữ chiếm 19,8% (65 người); biết đọc biết viết nhưng không có bằng cấp chiếm 16,1% (53 người); tiểu học chiếm 38,3% (126 người); trung học cơ sở chiếm 20,7% (68 người); trung học phổ thông chiếm 4,9% (16 người); cao đẳng/đại học chỉ có 0,3% (1 người).
  • Nghề nghiệp: 97,6% phụ nữ làm ruộng nương (321 người), công chức chiếm 0,6% (2 người), nghề khác 1,8% (6 người). Nghề nghiệp của người chồng: làm ruộng nương chiếm 99,1% (326 người), công chức chiếm 0,3% (1 người), khác 0,6% (2 người).
  • Nhân khẩu và cấu trúc gia đình: Hộ có $\le 4$ người chiếm 48,3% (159 hộ); hộ có từ 5 người trở lên chiếm 51,7% (170 hộ). Cấu trúc gia đình: 1 thế hệ chiếm 0,9% (3 hộ); 2 thế hệ chiếm 63,8% (210 hộ); 3 thế hệ chiếm 32,5% (107 hộ); 4 thế hệ chiếm 2,7% (9 hộ).
Tiêu chí khảo sát Số lượng (n = 329) Tỷ lệ phần trăm (%)
Loại nhà ở
- Nhà tạm 199 60,50%
- Nhà bán kiên cố 124 37,70%
- Nhà kiên cố 6 1,80%
Nguồn nước sinh hoạt
- Nước suối 178 54,10%
- Nước máng lần 78 23,71%
- Nước mưa 54 16,41%
- Nước giếng (khoan/đào) 19 5,78%
Vị trí chuồng gia súc
- Cách nhà ở $\le 10\text{ m}$ 198 60,18%
- Cách nhà ở $> 10\text{ m}$ 131 39,82%
Trang bị tài sản
- Xe máy 266 80,85%
- Ti vi 253 76,89%
- Đài radio 59 17,93%
- Điện thoại 54 16,41%
- Máy cày 9 2,73%

Bảng đặc điểm nhà ở, nguồn nước, chuồng trại và tài sản gia đình người Dao.

Về khoảng cách địa lý và tiếp cận dịch vụ y tế:

  • Khoảng cách từ nhà đến trạm y tế xã: Trung bình là 7,84 km (nhỏ nhất là 2 km, lớn nhất lên tới 30 km). Nhóm cách $\le 5\text{ km}$ chiếm 28,6% (94 người); nhóm cách từ 6 đến 10 km chiếm 59,9% (197 người); nhóm cách trên 10 km chiếm 11,6% (38 người).
  • Thời gian di chuyển đến trạm y tế bằng phương tiện thông thường: Dưới 60 phút chỉ đạt 23,71% (78 người); từ 60 phút trở lên chiếm tới 76,29% (251 người).
  • Phương tiện đi lại: Xe máy chiếm 59,9% (197 người); đi bộ chiếm 23,1% (76 người); xe đạp chiếm 13,7% (45 người); phương tiện khác 3,3% (11 người). Đường liên thôn chủ yếu là đường mòn đất dốc, qua nhiều khe suối và cầu treo hiểm trở.

Kết quả phỏng vấn sâu và nghiên cứu định tính ghi nhận:

  • Phỏng vấn sâu Thầy cúng Bàn Văn K (60 tuổi, bản Chiêng, xã Đôn Phong): Khẳng định tục cấp sắc là nghi lễ bắt buộc để có vị thế tâm linh. Bệnh tật do 24 con ma chi phối (chia làm 3 nhóm: ma gia đình, ma trên trời, ma dưới đất; gồm ma lành như ma tổ tiên Thái chông phú mũ ca xiêm, ma trưởng họ Ca dằng húa; và ma dữ như ma nước Diêm lóc đại guồng, ma đói Thiên xeng lười chú công lười chú mỷ). Thầy cúng kiêng kỵ tuyệt đối không đến nhà có sản phụ vì sợ "vía bẩn" làm mất bùa phép, dẫn đến việc sản phụ đẻ tại nhà hoàn toàn do người nhà đỡ.
  • Phỏng vấn sâu Trưởng thôn Bàn Thị K (thôn Khuổi Cò, xã Dương Phong): Phụ nữ Dao có xu hướng đẻ con so tại cơ sở y tế nhưng con dạ thường tự đẻ tại nhà. Bài thuốc tắm sau sinh gồm 9 loại cây thảo dược: Chày Coòng Xieng, Vồng Xỉnh Puông, Địa Chùn, Đìa Sản, Giào Kia Mia, Sìn Pầu, Qù Tẩy Huây, Puồng Huây, Giào Mia. Kỹ thuật tắm: Đun sôi kỹ, không pha nước lã; khi tắm vuốt nước dọc tay chân từ trái sang phải, đầu, ngực, lưng và bụng; khi tắm vùng bụng phải nín hơi và vuốt ngược từ dưới lên để tránh sổ bụng; ngồi khép chặt chân để tránh sa dạ con. Mỗi nồi nước dùng tắm 3 lần, liệu trình 3 nồi. Trẻ sơ sinh thường bị cho ăn dặm sớm từ 3 - 4 tháng do người mẹ phải đi làm nương và lấy măng rừng.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt học thuật và lý luận

  1. Xây dựng khung tiếp cận đa ngành hoàn chỉnh: Kết hợp chặt chẽ giữa dịch tễ học mô tả, vệ sinh xã hội học, nhân học y tế và phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng (PRA) để nghiên cứu toàn diện các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ y tế của một dân tộc thiểu số vùng cao.
  2. Ứng dụng thành công chuỗi chỉ số CBM và ca bệnh mẫu: Cung cấp mô hình định lượng hóa 5 bước logic (Sẵn có $\rightarrow$ Tiếp cận $\rightarrow$ Sử dụng $\rightarrow$ Sử dụng đủ $\rightarrow$ Sử dụng hiệu quả) trong quản lý y tế cơ sở, chứng minh sự cần thiết của việc giám sát định kỳ 12 tháng liên tục thay vì chỉ dựa vào báo cáo hành chính định kỳ tại trạm y tế.
  3. Lượng hóa các rào cản xã hội học: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của trình độ học vấn thấp (35,9% mù chữ và chỉ biết đọc viết), nhà ở thiếu vệ sinh, chuồng trại sát nhà (60,18%), nguồn nước suối không hợp vệ sinh (54,1%) và thời gian di chuyển trên 60 phút (76,29%) đối với việc tiếp cận dịch vụ y tế.

Những đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp

  1. Tư liệu hóa tri thức y học dân gian tộc người: Định danh và mô tả quy trình thực hành bài thuốc tắm thảo dược 9 vị (Đìa dảo xin) của người Dao tại Bạch Thông dùng cho sản phụ sau sinh, tạo tiền đề cho việc bảo tồn nguồn tài nguyên cây thuốc và tích hợp y học cổ truyền vào chăm sóc ban đầu.
  2. Nhận diện hệ thống rào cản văn hóa can thiệp: Làm rõ vai trò của thầy cúng, quan niệm 24 con ma, tục kiêng khem "vía bẩn" khi sinh đẻ và thói quen cho trẻ ăn dặm sớm từ 3 - 4 tháng; từ đó chỉ ra các mắt xích cần can thiệp truyền thông thay đổi hành vi.
  3. Đề xuất các giải pháp y tế cơ sở:
    • Củng cố và phát huy vai trò của mạng lưới nhân viên y tế thôn bản người địa phương trong công tác tuyên truyền phòng bệnh và vận động phụ nữ khám thai, đẻ tại trạm.
    • Đầu tư trang thiết bị sản khoa, thuốc thiết yếu (oxytocin, viên sắt, que thử protein niệu) và duy trì nghiêm ngặt dây chuyền lạnh bảo quản vắc xin tại trạm y tế.
    • Định kỳ đào tạo nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành chăm sóc sức khỏe sinh sản cho cán bộ y tế tuyến xã thông qua phương pháp "ca bệnh mẫu" và bảng kiểm chuẩn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án:
    • Về phạm vi mẫu: Nghiên cứu thực hiện chọn mẫu chủ đích trên 329 phụ nữ Dao tại 2 xã Đôn Phong và Dương Phong thuộc huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn. Do đó, một số tập quán và thực hành văn hóa có thể mang tính đặc thù địa phương của nhóm Dao tại địa bàn nghiên cứu, chưa phản ánh hoàn toàn cho tất cả các nhánh dân tộc Dao tại các vùng miền khác.
    • Về kỹ thuật đánh giá: Phương pháp CBM phụ thuộc vào tính chuẩn xác của các công thức ước tính dân số và tỷ suất sinh thô ban đầu; phương pháp "ca bệnh mẫu" (Paper case) chủ yếu đo lường kiến thức và kỹ năng mô phỏng của cán bộ y tế trên giấy tờ, chưa phản ánh toàn diện thao tác lâm sàng thực tế trong các ca tai biến sản khoa phức tạp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh hành vi y tế giữa các nhóm Dao khác nhau (Dao Đỏ, Dao Tiền, Dao Quần Chẹt, Dao Thanh Y) tại các tỉnh miền núi phía Bắc.
    • Triển khai nghiên cứu định danh phân loại thực vật học, phân tích hoạt chất dược lý và thử nghiệm lâm sàng đối với bài thuốc tắm thảo dược 9 vị của phụ nữ Dao để tiêu chuẩn hóa sản phẩm chăm sóc sau sinh.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với các nhóm đối tượng sau:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành: Vệ sinh Xã hội học, Tổ chức Y tế, Y tế Công cộng, Dịch tễ học, Nhân học Y tế và Dân tộc học. Luận án cung cấp mẫu mực về thiết kế nghiên cứu kết hợp định lượng - định tính (PRA) tại địa bàn vùng sâu vùng xa.
  • Cán bộ quản lý y tế và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực địa để xây dựng các chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe bà mẹ - trẻ em, chính sách nâng cao năng lực y tế thôn bản và phân bổ nguồn lực trang thiết bị cho trạm y tế xã vùng khó khăn (khu vực III).
  • Các phần nội dung đáng tham khảo nhất:
    • Quy trình vận dụng 5 chỉ số logic CBM và kỹ thuật ca bệnh mẫu (Chương 2).
    • Báo cáo phân tích thực trạng văn hóa - y tế tộc người, danh mục cây thuốc tắm và nghi lễ tín ngưỡng cúng bói (Chương 1 và Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao phụ nữ người Dao tại huyện Bạch Thông vẫn có tỷ lệ tự sinh con tại nhà cao?

Nguyên nhân xuất phát từ sự kết hợp của nhiều yếu tố: khoảng cách địa lý xa xôi (trung bình 7,84 km, có nơi cách 30 km với 76,29% hộ mất trên 1 giờ đi lại); địa hình đường mòn, khe suối hiểm trở; thói quen đẻ con dạ tại nhà nếu con so đã đẻ dễ; và rào cản tâm lý e ngại giao tiếp do bất đồng ngôn ngữ và phong tục giấu thai của phụ nữ. Đồng thời, thầy cúng kiêng đến nhà có sản phụ vì sợ "vía bẩn" làm hỏng bùa phép, dẫn đến việc sản phụ tự sinh con dưới sự hỗ trợ của người thân trong gia đình.

2. Tín ngưỡng 24 con ma của người Dao tác động như thế nào đến việc khám chữa bệnh?

Theo lời kể của thầy cúng Bàn Văn K, người Dao quan niệm bệnh tật do 24 con ma gây ra (chia thành 3 nhóm: ma gia đình, ma trên trời, ma dưới đất). Khi có người ốm, người nhà sẽ thực hiện bói đồng xu treo dây để xác định con ma gây bệnh nhằm làm lễ cúng (cúng mời ma lành như tổ tiên phù hộ hoặc cúng trừ đuổi ma dữ như ma nước, ma đói). Tục cúng bái này làm chậm trễ thời gian đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế, đặc biệt trong các trường hợp bệnh nặng hoặc cấp cứu sản khoa.

3. Quy trình thực hành và thành phần bài thuốc tắm sau sinh của phụ nữ người Dao gồm những gì?

Theo lời kể của Trưởng thôn Bàn Thị K, bài thuốc tắm (Đìa dảo xin) gồm 9 loại cây thảo dược: Chày Coòng Xieng, Vồng Xỉnh Puông, Địa Chùn, Đìa Sản, Giào Kia Mia, Sìn Pầu, Qù Tẩy Huây, Puồng Huây, Giào Mia. Thuốc được rửa sạch, đun sôi kỹ, không pha nước lã. Khi tắm phải vuốt nước dọc tay chân theo thứ tự trái trước phải sau, đầu, ngực, lưng và bụng; khi tắm vùng bụng phải nín hơi vuốt ngược từ dưới lên để tránh sổ bụng; tư thế ngồi khép chặt hai chân để tránh sa dạ con. Mỗi nồi nước dùng tắm 3 lần, liệu trình phục hồi gồm 3 nồi.

4. Thực trạng học vấn và điều kiện kinh tế của hộ gia đình người Dao tại địa bàn nghiên cứu ra sao?

Tại hai xã Đôn Phong và Dương Phong năm 2009, tỷ lệ hộ người Dao nghèo chiếm tới 42,9% (cao hơn mức 30,03% của toàn huyện). Phụ nữ Dao có 19,8% mù chữ, 16,1% chỉ biết đọc biết viết, 38,3% học hết tiểu học và chỉ 4,9% có trình độ trung học phổ thông. 97,6% phụ nữ làm ruộng nương; 60,5% sống trong nhà tạm; 54,1% sử dụng nguồn nước suối tự nhiên và 60,18% đặt chuồng nuôi gia súc cách nhà dưới 10m.

5. Phương pháp Giám sát dựa vào cộng đồng (CBM) đo lường những chỉ số nào trong luận án?

Phương pháp CBM đánh giá chuỗi 5 chỉ số logic gồm: Tỷ lệ ngày sẵn có nguồn lực/trang thiết bị tại trạm y tế; Tỷ lệ dân số có khả năng tiếp cận trạm trong vòng 60 phút; Tỷ lệ đối tượng sử dụng dịch vụ ít nhất 1 lần; Tỷ lệ sử dụng đủ dịch vụ theo quy chuẩn chuyên môn; và Tỷ lệ sử dụng hiệu quả (đạt kết quả chăm sóc toàn diện về mặt kỹ thuật, tiêm phòng và an toàn sinh đẻ).


Kết luận

Luận án Tiến sĩ Y học của tác giả Phạm Hồng Hải đã nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống các yếu tố văn hóa - xã hội ảnh hưởng đến dịch vụ y tế cho phụ nữ người Dao tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn. Bằng việc kết hợp phương pháp mô tả cắt ngang định lượng, công cụ giám sát CBM, phương pháp ca bệnh mẫu và nghiên cứu định tính PRA, luận án đã làm rõ các rào cản cốt lõi từ khoảng cách địa lý, điều kiện kinh tế, tập quán sinh đẻ tại nhà, tín ngưỡng cúng bói cho đến những thiếu hụt về nguồn lực của hệ thống y tế cơ sở. Đồng thời, công trình cũng tư liệu hóa các giá trị y học cổ truyền dân gian đặc sắc của người Dao như bài thuốc tắm sản khoa 9 vị. Đây là tài liệu khoa học có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, cung cấp cơ sở vững chắc cho công tác hoạch định chính sách chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em vùng đồng bào dân tộc thiểu số.