ĐẶT VẤN ĐỀ Đại dịch HIV/AIDS đƣợc biết đến từ những năm 80 của thế kỷ trƣớc. Hơn 30 năm trôi qua, hiện nay cả thế giới vẫn đang phải đƣơng đầu với đại dịch nguy hiểm này [8]. Tính đến hết năm 2013, số trƣờng hợp nhiễm HIV trên toàn cầu là 35 triệu ngƣời (33,2-37,2), số trƣờng hợp mới phát hiện trong năm 2013 là 2,1 triệu ngƣời (1,9-2,4) và số ngƣời tử vong do AIDS là 1,5 triệu ngƣời (1,4-1,7) [98]. Ở Việt Nam, kể từ trƣờng hợp nhiễm HIV đầu tiên đƣợc phát hiện vào năm 1990 ở thành phố Hồ Chí Minh, tính đến 31/11/2013 trên cả nƣớc, số trƣờng hợp nhiễm HIV đang còn sống là 216.254 ngƣời, số bệnh nhân AIDS đang còn sống là 66.533 ngƣời, và có 68.977 trƣờng hợp tử vong do AIDS [5],[7].
Tỷ lệ phụ nữ nhiễm HIV ở Việt Nam cũng tăng từ 19% vào năm 2005 lên 31% vào năm 2011 [2], phản ánh sự lây truyền HIV ở phụ nữ có chiều hƣớng gia tăng, số trẻ sinh ra bị nhiễm HIV cũng ngày càng tăng, vì có tới 99% trẻ dƣới 5 tuổi nhiễm HIV là do lây truyền từ m bị nhiễm [1],[4]. Trong 11 tháng đầu năm 2013, cả nƣớc xét nghiệm phát hiện mới 11.567 trƣờng hợp nhiễm HIV, trong đó 5.493 bệnh nhân AIDS; có 2.097 ngƣời tử vong do AIDS [5]. Ƣớc tính mỗi năm Việt Nam có khoảng hai triệu phụ nữ sinh con, với tỷ lệ nhiễm HIV vào khoảng 0,35%-0,4%, mỗi năm sẽ có khoảng 5.000 phụ nữ mang thai nhiễm HIV sinh con. Nếu không can thiệp chủ động và tích cực, mỗi năm sẽ có hơn 2.000 trẻ em sinh ra bị nhiễm HIV từ m [3].
Hơn nữa, mục tiêu chiến lƣợc quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 là “xóa bỏ hoàn toàn lây truyền HIV từ m sang con vào năm 2015 và giảm 50% số ca tử vong ở bà m bị nhiễm HIV vào năm 2015, tiếp tục duy trì không có trƣờng hợp nhiễm HIV từ m sang con đến năm 2020 và sau 2030” [12]. Mục tiêu này đang là thách thức đối với ngành y tế nói chung và chƣơng trình phòng chống HIV/AIDS nói riêng. Nghiên cứu của Trần Tôn và cộng sự (2010) cho thấy 2 nếu m đƣợc chăm sóc tiền sản tốt và sớm tham gia vào chƣơng trình dự phòng lây truyền HIV từ m sang con thì sẽ làm giảm đáng kể khả năng lây truyền HIV cho con tỷ lệ trẻ nhiễm HIV sinh ra từ m có tham gia dự phòng lây truyền HIV từ m sang con đầy đủ là 5,5% và từ m đƣợc dự phòng không đầy đủ là 23,8%. Nếu m chỉ đƣợc xét nghiệm HIV dƣơng tính lúc đến sinh và chỉ uống dự phòng liều duy nhất thì tỷ lệ nhiễm HIV cao hơn là 17,7% [42].
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những địa phƣơng có tỷ lệ nhiễm HIV dẫn đầu trong cả nƣớc, chiếm khoảng 23% [49]. Tỷ lệ nhiễm HIV ở phụ nữ mang thai có sự thay đổi qua các năm nhƣng vẫn còn cao và chƣa ổn định, năm 2009 là 0,5 %; Năm 2010 là 6,3 %; Và năm 2011 là 0,45 % [46]. Theo nghiên cứu của Hồ Thị Ngọc (2010), kết quả cho thấy cần có chƣơng trình truyền thông giáo dục sức khỏe để tránh lây nhiễm HIV cho cộng đồng; Có 75,9% phụ nữ nhiễm HIV cƣ ngụ tại thành phố Hồ Chí Minh, trong đó các quận Bình Tân, quận 8, huyện Bình Chánh có tỷ lệ ngƣời nhiễm cao, ngƣời nhiễm là dân nhập cƣ (24,1%). Phụ nữ nhiễm HIV có học vấn thấp, m chữ và tiểu học (39,4%), hoàn cảnh kinh tế ngh o (41,7%).
Tỷ lệ phụ nữ bị nhiễm HIV có kiến thức, thái độ, hành vi tốt trong việc phòng lây nhiễm cho cộng đồng là rất thấp (7,9%) [33]. Huyện Bình Chánh thành phố Hồ Chí Minh, có tỷ lệ nhiễm HIV ở thai phụ còn chiếm tỷ lệ cao và có kiến thức, thái độ, thực hành đúng về dự phòng lây truyền HIV từ m sang con chiếm tỷ lệ thấp. Theo nghiên cứu của cùng tác giả (2007) tỷ lệ nhiễm HIV ở phụ nữ mang thai tại huyện Bình Chánh chiếm tỷ lệ cao (1,05%); Kiến thức đúng về phòng lây truyền HIV/AIDS từ m sang con thấp (35%) và thực hành đúng về phòng lây truyền HIV từ m sang con cũng thấp (25%) [50]. Việc tăng cƣờng các hoạt động truyền thông về dự phòng lây truyền HIV từ m sang con cho các thai phụ là giải pháp can thiệp hiệu quả và ít tốn kém gíup giảm tỷ lệ lây 3 truyền HIV từ m sang con [13].
Nếu các thai phụ có đƣợc kiến thức đúng, thái độ tốt và thực hành an toàn, tích cực thì sẽ giúp giảm nhanh chóng một cách có hiệu quả tốc độ lây truyền HIV từ m sang con trong cộng đồng, từ đó giúp giảm tỷ lệ mắc và chết vì AIDS ở thai phụ. Truyền thông giáo dục sức khỏe đóng vai trò quan trọng trong công tác dự phòng lây truyền HIV từ m sang con, cần phải làm cho ngƣời thai phụ biết nguy cơ và cơ chế lây truyền đồng thời giáo dục cho mọi ngƣời cách thức phòng chống trên cơ sở đó góp phần hạn chế và ngăn cản sự lây nhiễm từ m sang con [5]. Thực trạng trên cho thấy, công tác dự phòng lây truyền HIV từ m sang con hiện nay rất cần đƣợc quan tâm và chú trọng. Vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra các giải pháp can thiệp có hiệu quả để dự phòng lây truyền HIV từ m sang con là điều hết sức cần thiết để góp phần ngăn chặn đại dịch HIV/AIDS.
Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành về dự phòng lây truyền HIV từ m sang con ở phụ nữ mang thai tại huyện Bình Chánh và quận Bình Tân thành phố Hồ Chí Minh năm 2010 nhƣ thế nào? Yếu tố nào liên quan tới kiến thức, thái độ và thực hành về dự phòng lây truyền HIV của thai phụ? Hiệu quả can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe về dự phòng lây truyền HIV từ m sang con ở phụ nữ mang thai tại địa bàn trên, năm 2010-2012 nhƣ thế nào? Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Hiệu quả can thiệp dự phòng lây truyền HIV ở phụ nữ mang thai tại hai quận/huyện thành phố Hồ Chí Minh, năm 2010-2012”, nhằm mục tiêu: 1. Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về dự phòng lây truyền HIV từ m sang con và các yếu tố liên quan ở phụ nữ mang thai tại huyện Bình Chánh và quận Bình Tân thành phố Hồ Chí Minh năm 2010. Đánh giá hiệu quả can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe về dự phòng lây truyền HIV từ m sang con ở phụ nữ mang thai tại địa bàn trên, năm 2010-2012 4 CHƢƠNG 1. Tổng quan về lây truyền HIV từ mẹ sang con ở phụ nữ mang thai trên Thế giới, Việt Nam và thành phố Hồ Chí Minh.
Tổng quan về HIV/AIDS HIV- Human Immunodeficiency Virus, là một loại vi rút do nhóm khoa học ngƣời Pháp thuộc viện Pasteur Paris phát hiện trong hạch bạch huyết của bệnh nhân vào năm 1983 và gọi là LAV- Lymphadenopathy Associated Virus, là vi rút có liên quan đến viêm hạch. Năm 1984, Gallo và các nhà khoa học ngƣời Mỹ cũng phân lập trong máu bệnh nhân vi rút gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải và đặt tên là HTLV III- Human T Cell Lymphotropic Virus III, là vi rút hƣớng tế bào lympho T ở ngƣời. Năm 1986, hội nghị danh Pháp quốc tế về vi rút đã thống nhất tên gọi là HIV- Human Immunodeficiency Virus týp 1 hay HIV-1. Năm 1986, nhà khoa học ngƣời Pháp lại phân lập một loại vi rút khác ở Tây Phi gây suy giảm miễn dịch ở ngƣời, có cấu trúc kháng nguyên khác với HIV-1, gọi là HIV-2.
Nhƣ vậy, HIV có 2 serotype là HIV-1 và HIV-2. HIV là một vi rút sao mã ngƣợc có chứa men quan trọng chuyển đổi RNA thành DNA, đó là men sao chép tăng sinh trong tế bào ký chủ. HIV-1 là nguyên nhân gây bệnh phổ biến nhất trên thế giới, còn HIV-2 thì chiếm ƣu thế ở Tây Phi và Ấn Độ. Tuy nhiên, hiện nay HIV-2 đã đƣợc báo cáo ở Nam Mỹ, Canada và Hoa Kỳ.
Một số bệnh nhân nhiễm phải vi rút HIV-2 đã có biểu hiện lâm sàng của AIDS, một số chƣa có triệu chứng rõ rệt, loại siêu vi này có tính gây bệnh yếu, thời kỳ nhiễm trùng không triệu chứng thƣờng kéo dài [51]. AIDS- Acquired Immune Deficiency Syndrome, là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do nhiễm vi rút HIV. Bệnh AIDS lần đầu tiên đƣợc phát hiện vào tháng 6 năm 1981. Trung tâm phòng chống bệnh tật Hoa kỳ xác định 5 từ năm nam thanh niên đồng tình luyến ái bị viêm phổi nặng do Pneumocitis carini ở Los Angeles.
HIV tấn công và tiêu hủy dần tế bào miễn dịch, làm suy giảm hệ thống miễn dịch của cơ thể. AIDS là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm vi rút HIV. Do hệ thống miễn dịch bị tổn thƣơng, cơ thể không thể tự bảo vệ trƣớc các bệnh nhiễm tr ng cơ hội hoặc các biến đổi tế bào mà một ngƣời bình thƣờng có thể chống đỡ đƣợc. Những bệnh này là nguyên nhân dẫn đến tử vong.
Thời gian trung bình từ khi nhiễm HIV cho đến khi tử vong do AIDS là khoảng 10 năm. Một số rất ít sẽ bị AIDS trong vòng 2 năm sau khi nhiễm HIV [45]. Giai oạn nhi m HIV v ng tru ền HIV t m sang con 1. Các giai đoạn nhiễm HIV Giai oạn tiền nhi m: Khi cơ thể bị nhiễm HIV, HIV sẽ đƣợc sản sinh rất nhanh.
Tình trạng này kéo dài nhiều tuần lễ cho đến khi hệ thống nhiễm dịch của cơ thể bắt đầu có phản ứng. Những tế bào chủ yếu tham gia vào việc diệt trừ các tế bào lympho nhiễm HIV là tế bào lympho CD 4. Tuy nhiên việc sản sinh đủ số lƣợng CD 4 kéo dài nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng. Vào thời điểm hệ thống miễn dịch bắt đầu phản ứng, nhiều ngƣời nhiễm HIV sẽ bị một số triệu chứng sơ nhiễm nhƣ: Sốt, mệt mỏi, ớn lạnh, khó chịu.
Những triệu chứng này sẽ mất đi sau khoảng 2 tuần. Giai oạn cửa sổ: Chỉ sau khi hệ thống miễn dịch đã phản ứng, với sự tồn tại của kháng thể sẽ có phản ứng dƣơng tính. Giai đoạn sau nhiễm, khi mà HIV đƣợc sản sinh nhiều nhƣng các xét nghiệm tìm kháng thể cho kết quả âm tính, đƣợc gọi là giai đoạn cửa sổ. Với sự phát triển của các xét nghiệm có độ nhạy cao hơn cũng nhƣ các xét nghiệm tìm kháng nguyên HIV, giai đoạn cửa sổ đang dần dần đƣợc rút ngắn lại.