Thực trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn thường gặp ở cộng đồng Việt Nam (2018-2019)

Chuyên khảo phân tích Luận án thực trạng kháng kháng sinh của một số vi khuẩn thường gặp ở cộng đồng và một số yếu tố, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Y học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề Tài Nghiên Cứu

2018-2019

181
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Kháng sinh và sự đề kháng kháng sinh

2.1.1. Lịch sử phát hiện kháng sinh và đề kháng kháng sinh

2.1.2. Kháng sinh và phân loại kháng sinh

2.1.3. Cơ chế sự đề kháng kháng sinh

2.2. Gánh nặng bệnh tật của vi khuẩn kháng kháng sinh và thực trạng kháng kháng sinh của một số vi khuẩn đáng quan tâm trên thế giới

2.2.1. Gánh nặng bệnh tật do kháng kháng sinh

2.2.2. Thực trạng vi khuẩn Klebsiella pneumoniae kháng thuốc

2.2.2.1. Các gen và mức độ kháng của vi khuẩn K.pneumoniae

Tóm tắt

I. Thực trạng kháng kháng sinh ở vi khuẩn cộng đồng tại Việt Nam

Kháng kháng sinh đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng tại Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh vi khuẩn cộng đồng. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG), kháng kháng sinh là một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với sức khỏe toàn cầu. Tình trạng này không chỉ gây ra gánh nặng bệnh tật mà còn ảnh hưởng đến kinh tế. Số liệu ước tính cho thấy vào năm 2019, có khoảng 1,27 triệu ca tử vong do vi khuẩn kháng thuốc trên toàn cầu. Tại Việt Nam, việc sử dụng kháng sinh không kiểm soát trong cộng đồng và chăn nuôi là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này. Mặc dù Bộ Y tế đã có những kế hoạch hành động, nhưng việc thực hiện vẫn chưa đồng bộ và thiếu dữ liệu đánh giá mức độ kháng kháng sinh trong cộng đồng.

1.1. Nguyên nhân kháng kháng sinh

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng kháng kháng sinh ở Việt Nam bao gồm việc sử dụng kháng sinh không hợp lý trong điều trị bệnh và trong chăn nuôi. Việc này không chỉ làm gia tăng tỷ lệ vi khuẩn kháng thuốc mà còn làm giảm hiệu quả điều trị. Theo nghiên cứu, nhiều người dân vẫn chưa có kiến thức đầy đủ về việc sử dụng kháng sinh, dẫn đến việc tự ý sử dụng mà không có sự chỉ định của bác sĩ. Điều này tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển cơ chế kháng thuốc. Hơn nữa, việc thiếu các biện pháp kiểm soát và giám sát tình trạng kháng kháng sinh trong cộng đồng cũng góp phần làm trầm trọng thêm vấn đề này.

1.2. Tình hình kháng kháng sinh tại Việt Nam

Tình hình kháng sinh tại Việt Nam đang ở mức báo động. Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ vi khuẩn kháng thuốc ngày càng gia tăng, đặc biệt là các vi khuẩn như E. coli và Klebsiella pneumoniae. Những vi khuẩn này không chỉ kháng với các loại kháng sinh phổ biến mà còn có khả năng kháng với nhiều nhóm kháng sinh khác nhau. Theo báo cáo của TCYTTG, E. pneumoniae là một trong những tác nhân kháng kháng sinh phổ biến nhất, với tỷ lệ đa kháng cao. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng mà còn gây ra gánh nặng kinh tế lớn cho hệ thống y tế. Việc thiếu dữ liệu và nghiên cứu về tình trạng kháng kháng sinh trong cộng đồng càng làm cho việc đưa ra các chính sách can thiệp trở nên khó khăn.

1.3. Giải pháp và khuyến nghị

Để giải quyết tình trạng kháng kháng sinh, cần có một chiến lược toàn diện và đồng bộ từ các cơ quan chức năng. Việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về việc sử dụng kháng sinh hợp lý là rất cần thiết. Các chương trình giáo dục sức khỏe nên được triển khai rộng rãi để người dân hiểu rõ hơn về tác hại của việc lạm dụng kháng sinh. Bên cạnh đó, cần thiết lập hệ thống giám sát và báo cáo tình trạng kháng kháng sinh trong cộng đồng để có thể đưa ra các biện pháp can thiệp kịp thời. Các nghiên cứu về cơ chế kháng và các yếu tố liên quan cũng cần được đẩy mạnh để có cái nhìn tổng quan hơn về tình hình kháng kháng sinh tại Việt Nam.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) nhận định kháng kháng sinh là một trong mười mối đe doạ về sức khoẻ, sự phát triển và an ninh y tế toàn cầu. Việc phát hiện ra penicillin và các kháng sinh khác là một tiến bộ y học quan trọng trong thế kỷ qua. Tuy nhiên sau đó là sự xuất hiện của các vi khuẩn làm giảm tác dụng của các thuốc kháng sinh. Sự xuất hiện nhanh của các vi khuẩn kháng với các loại kháng sinh mới ra đời dẫn đến việc các nhà sản xuất không đầu tư để nghiên cứu và sản xuất các loại kháng sinh do hiệu quả kinh tế thấp.

Hơn nữa ở các quốc gia đang phát triển, thiếu các biện pháp can thiệp nhằm kiểm soát tình trạng vi khuẩn kháng với các loại kháng sinh. Những điều này có thể dẫn chúng ta quay lại một kỷ nguyên không kháng sinh [284]. Vi khuẩn kháng kháng sinh gây ra gánh nặng bệnh tật và kinh tế lớn trên phạm vi toàn cầu. Số liệu ước tính vào năm 2019, trên toàn cầu sẽ có 1,27 triệu ca tử vong do vi khuẩn kháng thuốc và 4,95 triệu ca tử vong có liên quan đến vi khuẩn kháng kháng sinh [191].

Báo cáo giám sát mới nhất của TCYTTG năm 2021 cho thấy E.pneumoniae là hai trong số các tác nhân kháng kháng sinh phổ biến nhất và là hai tác nhân có tỷ lệ đa kháng, nhiễm trùng huyết rất cao ở cả cộng đồng và bệnh viện. Đây là gánh nặng bệnh tật và kinh tế của toàn cầu, đặc biệt các quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên hầu hết số liệu về vi khuẩn kháng kháng sinh mới chỉ tập trung giám sát và nghiên cứu ở bệnh viện [210]. Việt Nam là một các quốc gia có tình trạng kháng kháng sinh trầm trọng.

Một trong những lý do chính là do sử dụng kháng sinh không kiểm soát tại cộng đồng và trong chăn nuôi [285]. Trong những năm qua Việt Nam đã có những quan tâm nhất định đến kiểm soát kháng kháng sinh. Bộ Y tế đã phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về chống kháng thuốc giai đoạn 2013-2020 và đang xây dựng Chiến lược phòng chống kháng thuốc giai đoạn 2022-2030. Tuy nhiên việc đầu tư nguồn lực cũng như chiến lược trong việc giám sát và quản lý kháng kháng sinh chưa được thực hiện một cách đồng bộ.

Hiện tại, Việt Nam chưa có nhiều số liệu đánh giá mức độ kháng kháng sinh trong cộng đồng, các số liệu hiện có thường của các nghiên cứu với địa điểm nghiên cứu nhỏ hẹp, không ước lượng được mức độ và gánh nặng của kháng kháng sinh. Chúng ta cũng chưa có nhiều nghiên cứu yếu tố liên quan đến sự phát triển của vi khuẩn kháng kháng sinh như 2 kiến thức, thực hành về sử dụng kháng sinh ở người và trong chăn nuôi. Vậy chúng ta cần đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: Thực trạng kháng kháng sinh của các vi khuẩn nhiễm khuẩn tại cộng đồng ở Việt nam hiện nay ở mức độ nào?” Chính vì sự cần thiết và ý nghĩa thực tiễn đã nêu ở trên chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Thực trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn ở cộng đồng và các yếu tố liên quan ở Việt Nam, năm 2018-2019”. Để đảm bảo mức độ đại diện, nghiên cứu cần thực hiện tại một số địa phương của cả 3 miền Bắc, Trung và miền Nam.

Các kết quả của nghiên cứu sẽ góp phần định hướng trong việc xác định ưu tiên, mức độ của vấn đề để đưa ra các chính sách, kế hoạch hành động và can thiệp phù hợp trong giai đoạn 2020-2030. Nghiên cứu được thực hiện với các mục tiêu như sau: 1. Xác định tỷ lệ và đặc điểm kháng kháng sinh của một số loại vi khuẩn thường gặp của người bệnh đến khám tại trạm y tế xã một số tỉnh Việt Nam, 2018-2019. Mô tả thực trạng kiến thức và sử dụng kháng sinh của người bệnh đến khám tại trạm y tế xã một số tỉnh Việt Nam, 2018-2019.

Xác định mối liên quan kiểu gen của một số chủng vi khuẩn kháng kháng sinh phổ rộng phân lập được từ người bệnh đến khám tại trạm y tế xã một số tỉnh Việt Nam, 2018-2019. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Kháng sinh và sự đề kháng kháng sinh 1. Lịch sử phát hiện kháng sinh và đề kháng kháng sinh Trước đầu thế kỷ 20, các cách điều trị nhiễm trùng chủ yếu dựa trên các phương pháp y học dân gian.

Các quan sát được thực hiện trong phòng thí nghiệm về kháng sinh giữa các vi sinh vật đã đưa đến những phát hiện về các kháng sinh tự nhiên được tạo ra từ vi sinh vật. Năm 1895, Vincenzo Tiberio, nhà vật lý học ở đại học Naples đã phát hiện rằng nấm mốc (Penicillium) trong nước có hoạt động kháng khuẩn tốt. Sau khi hợp chất hóa trị ban đầu tỏ ra có hiệu quả, những hợp chất khác cũng được theo đuổi cùng dòng điều trị, nhưng nó không được thực hiện cho đến năm 1928 khi Alexander Fleming quan sát kháng sinh chống lại vi khuẩn từ một loài nấm trong Penicillium. Đến năm 1941, kháng sinh đầu tiên là penicilin đã được sản xuất để dùng trong lâm sàng điều trị các bệnh nhiễm trùng và cho đến nay các kháng sinh vẫn là vũ khí tối ưu nhất chống lại các bệnh nhiễm trùng.

Tuy nhiên ngay sau khi phát hiện kháng sinh là sự xuất hiện sự đề kháng của vi khuẩn. Đã có một số cảnh báo đã được nhắc tới trước khi kháng sinh được sử dụng phổ biến. Bài phát biểu tại lễ nhận giải Nobel của Alexander Fleming đã được viện dẫn nhiều lần như một lời cảnh báo của ông rằng “Không khó để tạo ra một vi khuẩn kháng thuốc penicillin trong phòng thí nghiệm bằng cách cho chúng tiếp xúc với một lượng không đủ để giết chết chúng…đó là một điều nguy hiểm mà một người đã có thể sử dụng dưới liều, và vi khuẩn của người đó đã tiếp xúc với một lượng thuốc không đủ giết chết chúng và làm chúng kháng” [15]. Vài năm sau khi kháng sinh được giới thiệu, các vi khuẩn phát triển cơ chế để chống lại kháng sinh đã được sử dụng.

Vi khuẩn có một số cách chia sẻ vật liệu di truyền, đôi khi không liên quan đến loài, và dẫn đến việc càng mở rộng các chủng kháng kháng sinh. Khoảng cách thời gian là rất ngắn giữa việc giới thiệu một loại kháng sinh được sử dụng và thời điểm kháng của nó với các vi khuẩn khác nhau (Hình 1), do đó việc nghiên cứu cơ chế kháng và cơ chế di truyền của chúng là một trong những ưu tiên quan trọng trong chiến lược giảm tốc độ và tác động của kháng thuốc. Khoảng cách về thời gian kháng sinh được bắt đầu sử dụng và thời gian phát hiện kháng 5 1.1 Kháng sinh và phân loại kháng sinh [2] • Kháng sinh: kháng sinh là những chất do vi sinh vật tiết ra hoặc những chất hóa học bán tổng hợp, tổng hợp, với nồng độ rất thấp, có khả năng đặc hiệu kìm hãm sự phát triển hoặc diệt được vi khuẩn. • Phân loại kháng sinh: Cho đến nay, khoa học đã tìm ra rất nhiều các nhóm kháng sinh mà mỗi nhóm có tác dụng tốt trên những loại vi khuẩn khác nhau.

Dựa theo cấu trúc hóa học, kháng sinh được phân loại thành các nhóm chính sau: Bảng 1.1: Phân loại kháng sinh STT Nhóm cấu Tên thuốc Tác dụng trúc 1 Nhóm β-lactam: Peniciline Penicilin V, penicilin G, Cầu khuẩn Gram dương, methicilin, oxacilin, Gram âm, amoxicilin, nhóm penicilin Cephalosporin Cephalosporin thế hệ Gram dương, Gram âm 1,2,3,4,5 Carbapenem Imipennem, meropenem, Tác đụng rộng trên cả vi doripenem, ertapenem khuẩn kị khí và hiếu khí, vi khuẩn gram dương Monobactam Aztreonam Vi khuẩn hiếu khi gram âm và vi khuẩn kị khí Ức chế β- Acid clavulanic, sulbactam và Ức chế các vi khuẩn tiết lactamase tazobactam men beta-lactamase như Acinetobacter. 2 Aminoglycosid Kanamycin, gentamicin, Vi khuẩn gram âm neltimicin, tobramycin, amikacin. 3 Nhóm Erythromycin, oleandomycin, Các vi khuẩn gram Macrolid roxithromycin, dương và một số vi clarithromycin, khuẩn không điển hình dirithromycin, azithromycin, spiramycin, josamycin 6 4 Nhóm Lincomycin và clindamycin Các vi khuẩn gram lincosamid dương và một số vi khuẩn không điển hình 5 Nhóm Cloramphenicol và Cả gram âm và gram phenicol thiamphenicol dương 6 Nhóm cyclin Chlortetracyclin, Có phổ kháng khuẩn oxytetracyclin, rộng trên cả các vikhuẩn demeclocyclin, methacyclin, Gram-âm và Gram- doxycyclin, minocyclin. dương, cả vi khuẩn hiếu khí và kỵ khí 7 Nhóm peptid Glycopeptid (vancomycin, Chủ yếu trên các chủng teicoplanin): vi khuẩn Gram-dương Polypetid (polymyxin, Trực khuẩn Gram-âm colistin Lipopeptid (daptomycin Gram-dương hiếu khí và kỵ khí 8 Nhóm 4 thế hệ quinolon Không có nguồn gốc tự quinolon nhiên, toàn bộ được sản xuất bằng tổng hợp hóa học.

9 Các nhóm Nhóm co-trimoxazon, nhóm kháng sinh 5-nitro-imidazon, nhóm khác oxazolidion 1.2 Cơ chế sự đề kháng kháng sinh [3] Sau khi vào tế bào, kháng sinh được đưa tới đích tác động sẽ phát huy tác dụng bằng cách: - Ức chế sinh tổng hợp vách tế bào vi khuẩn - Gây rối loạn chức năng màng nguyên tương, đặc biệt là chức năng thẩm thấu chọn lọc, làm cho các thành phần (ion) bên trong tế bào bị thoát ra ngoài, ví dụ nhóm polymyxin, Daptomycin - Ức chế sinh tổng hợp protein - Ức chế sinh tổng hợp acid nucleic - Ức chế sinh tổng hợp các chất chuyển hoá cần thiết cho tế bào 7 Hình 1.2: Cơ chế tác dụng của kháng sinh [3] Kháng sinh có tác dụng ức chế hoặc tiêu diệt vi khuẩn, nhưng khi trong môi trường có kháng sinh mà vi khuẩn vẫn phát triển thì được coi là sự đề kháng kháng sinh. Phân loại đề kháng kháng sinh Có 2 loại đề kháng: là đề kháng giả và đề kháng thật - Đề kháng giả: Đề kháng giả là có biểu hiện là đề kháng nhưng không phải là bản chất, tức là không do nguồn gốc di truyền. Khi vào trong cơ thể, tác dụng của kháng sinh phụ thuộc vào ba yếu tố là kháng sinh - người bệnh - vi khuẩn. Đề kháng giả có thể do một trong ba yếu tố hoặc có thể kết hợp hai hay thậm chí cả ba yếu tố - Đề kháng thật: có 2 loại là đề kháng tự nhiên và đề kháng thu được.

+ Đề kháng tự nhiên do một số loài vi khuẩn không chịu tác dụng của một số kháng sinh nhất định. aeruginosa không chịu tác dụng của penicilin G, Stapylococcus aureus không chịu tác dụng của colistin. Hoặc vi khuẩn không có vách như Mycoplasma không chịu tác dụng của các kháng sinh beta-lactam ức chế sinh tổng hợp vách. Đề kháng tự nhiên thường mang tính chất đặc trưng theo từng loại vi khuẩn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Thực trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn thường gặp ở cộng đồng Việt Nam (2018-2019)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình kháng kháng sinh trong cộng đồng, một vấn đề ngày càng nghiêm trọng trong y tế công cộng. Nghiên cứu này không chỉ nêu rõ các loại vi khuẩn phổ biến và mức độ kháng thuốc của chúng mà còn chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, từ việc sử dụng kháng sinh không hợp lý đến sự thiếu hiểu biết của người dân. Độc giả sẽ nhận được thông tin quý giá về cách thức kháng kháng sinh ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và các biện pháp cần thiết để cải thiện tình hình.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến kháng sinh và y tế, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: "Kháng Sinh Dự Phòng Trong Mổ Lấy Thai Tại Bệnh Viện Hùng Vương", nơi thảo luận về việc sử dụng kháng sinh trong phẫu thuật, và "Khảo Sát Nhu Cầu Tư Vấn Sử Dụng Thuốc Của Bệnh Nhân Điều Trị Ngoại Trú Tại Bệnh Viện Đại Học Y Hà Nội Năm 2023", bài viết này cung cấp cái nhìn về nhu cầu tư vấn thuốc và cách thức sử dụng thuốc an toàn. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề kháng kháng sinh và quản lý thuốc trong y tế.