ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm khuẩn đƣờng sinh dục dƣới đang là một vấn đề quan trọng của chăm sóc sức khỏe sinh sản trong cộng đồng. Uớc tính trên thế giới có khoảng 180 triệu phụ nữ mắc Trichomonas, từ 10% đến 50% phụ nữ trong độ tuổi sinh sản bị nhiễm khuẩn âm đạo, trung bình 75% phụ nữ đã từng bị viêm âm đạo do nấm Candida trong đời [49]. Tại Việt Nam, tỷ lệ NKĐSDD dao động trong khoảng 40% - 64% [12]. Nghiên cứu tại Hải Phòng, Cần Thơ cho thấy trong số phụ nữ mắc bệnh NKĐSDD, tỷ lệ nhiễm khuẩn âm đạo khoảng 30%, nấm Candida albican khoảng 8% và Trichomonas khoảng 1% [19].
Bệnh nhiễm khuẩn đƣờng sinh dục dƣới (NKĐSDD) ảnh hƣởng đến sức khỏe và chất lƣợng cuộc sống của ngƣời phụ nữ[17]. NKĐSDD nếu không phát hiện và điều trị sớm có thể để lại những hậu quả nghiêm trọng liên quan đến thai nghén nhƣ sẩy thai, đẻ non, thai chết lƣu, dị tật bẩm sinh và nặng nhất là vô sinh thứ phát. Bệnh NKĐSDD đƣợc phát hiện sớm và điều trị đúng theo phác đồ thì bệnh sẽ hết hẳn và không để lại những hậu quả cho phụ nữ [15]. Tỷ lệ NKĐSDD của phụ nữ có liên quan đến phá thai[48], một số yếu tố cá nhân nhƣ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp; kiến thức về vệ sinh phụ nữ [19].
Tuy nhiên trong nghiên cứu này chƣa tìm mối liên quan về yếu tố y tế, tƣ vấn và truyền thông về tuân thủ điều trị, cũng nhƣ hiệu quả điều trị của đối tƣợng nghiên cứu. Mặc dù địa bàn nghiên cứu có khác nhau nhƣng việc xác định một số yếu tố liên quan về vấn đề NKĐSDD trong cộng đồng là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Năm 2017 tỷ lệ mắc bệnh tại xã này là 44% , cao hơn so với tỷ lệ chung của toàn huyện là 41,8% [13].093 phụ nữ khám phụ khoa bao gồm phụ nữ có vấn đề khó chịu mới đi khám và cũng có phụ nữ đi khám định kỳ và điều trị phụ khoa 482 trƣờng hợp mắc NKĐSDD vì vậy tỷ lệ mắc bệnh NKĐSDD trong năm 2017 cũng chƣa mang tính đại diện tỷ lệ mắc bệnh trong cộng đồng. 2 Xã Đồng Phú là 1 trong 4 xã cù lao thuộc vùng nông thôn sâu huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
Điều kiện sống, nghề nghiệp, học vấn, nhận thức về phòng bệnh, chăm sóc y tế của ngƣời dân ở đây chƣa tốt, tỷ lệ mắc bệnh NKĐSDD cao. Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài “Thực trạng nhiễm khuẩn đƣờng sinh dục dƣới ở phụ nữ 18-49 tuổi có chồng tại xã Đồng Phú, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long và một số yếu tố liên quan năm 2018”. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần cải thiện chƣơng trình phòng chống bệnh NKĐSS tại xã. 3 Mục tiêu nghiên cứu 1/ Mô tả thực trạng mắc bệnh nhiễm khuẩn đƣờng sinh dục dƣới ở phụ nữ 18-49 tuổi có chồng, tại xã Đồng Phú, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long năm 2018.
2/ Xác định một số yếu tố liên quan đến thực trạng nhiễm khuẩn đƣờng sinh dục dƣới ở phụ nữ 18-49 tuổi có chồng tại xã Đồng Phú, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long năm 2018. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đƣờng sinh dục dƣới và bệnh nhiễm khuẩn đƣờng sinh dục dƣới 1. Định nghĩa và đặc điểm giải phẫu Theo hƣớng dẫn chuẩn quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) [25], nhiễm khuẩn đƣờng sinh sản (NKĐSS) là một thuật ngữ rộng bao gồm các bệnh nhiễm khuẩn lây truyền qua đƣờng tình dục (LTQĐTD) và các bệnh NKĐSS khác không lây truyền qua đƣờng tình dục.
Các bệnh NKĐSS gây ra bởi các vi sinh vật thƣờng có mặt tại đƣờng sinh sản hoặc do các vi sinh vật từ bên ngoài vào thông qua hoạt động tình dục hoặc qua các thủ thuật y tế. Nhiễm khuẩn đƣờng sinh dục dƣới bao gồm: - Các nhiễm khuẩn LTQĐTD nhƣ nhiễm Chlamydia, bệnh lậu, Trichomonas, bệnh giang mai, bệnh hạ cam, herpes sinh dục, sùi mào gà sinh dục và nhiễm HIV. - Nhiễm khuẩn nội sinh do tăng sinh quá mức các vi sinh vật có trong âm đạo của phụ nữ nhƣ viêm âm đạo - âm hộ do nấm men. - Nhiễm khuẩn y sinh là các nhiễm khuẩn do thủ thuật y tế không vô khuẩn.
Nhiễm khuẩn đƣờng sinh dục dƣới là một trong các căn nguyên quan trọng nhất gây bệnh tật và tử vong cho bà mẹ và trẻ em trong thời kỳ chu sinh [25]. Nhiễm khuẩn đƣờng sinh dục dƣới (NKĐSDD) ở phụ nữ là cách gọi đề cập đến vị trí nơi các nhiễm khuẩn tiến triển. Theo đó, nhiễm khuẩn đƣờng sinh dục dƣới là tình trạng viêm nhiễm các bộ phận của cơ quan sinh dục dƣới ngoài phúc mạc: âm hộ, âm đạo và cổ tử cung [23]. Dựa vào đặc điểm về giải phẩu, ngƣời ta chia đƣờng sinh dục nữ thành 2 phần, cụ thể bao gồm: Đƣờng sinh dục trên gồm: tử cung, vòi tử cung và buồng trứng; đƣờng sinh dục dƣới gồm: âm hộ, âm đạo, phần dƣới của cổ tử cung [23].
Sinh lý âm đạo bình thƣờng Khí hƣ là chất dịch có dạng sệt, trắng, trong, không mùi, dai và có thể kéo thành sợi (gần những ngày trứng rụng) …, nguồn gốc từ các tuyến Bartholin của âm hộ, âm đạo. Chính chất dịch sinh lý âm đạo đƣợc tiết ra từ các tuyến giúp bảo vệ âm 5 đạo không bị khô, và bảo vệ niêm mạc âm đạo phòng chống các bệnh NKĐSDD và trong sinh hoạt tình dục [9]. Tuy nhiên do môi trƣờng ẩm nên nếu chị em phụ nữ không vệ sinh đúng thì rất dễ dẫn đến mắc các bệnh NKĐSDD, chính vì vậy làm cho âm đạo không bị khô, bảo vệ niêm mạc âm đạo, tuy nhiên môi trƣờng âm đạo có nhiều vi khuẩn có lợi tuy nhiên âm đạo chỉ thay đổi pH> 4,5 thì dịch nhầy sinh lý có thể thay đổi và trở thành bệnh lý. Sinh lý bệnh nhiễm khuẩn đƣờng sinh dục dƣới Âm hộ và tiền đình là nơi thƣờng hay gặp chứng hoại sinh ở da; một trong những nguyên nhân dẫn đến sự rối loạn vi khuẩn là do dùng thuốc thụt rửa âm đạo không đúng cách, sự sử dụng kháng sinh tại chỗ hay toàn thân và một số bệnh mãn tính gây suy nhƣợc cơ thể.
Các biểu hiện bệnh lý tại đƣờng sinh dục dƣới thƣờng xảy ra khi: Môi trƣờng acid ở âm đạo thay đổi, Lớp biểu mô dày của âm đạo, là hàng rào sinh lý hữu hiệu ngăn chặn sự xâm nhập và phát triển của vi khuẩn [28]. Sự khép kín âm đạo ở trẻ em và phụ nữ chƣa quan hệ tình dục, âm đạo là một khoang ảo đƣợc giữ và khép kín bằng cơ xung quanh của âm đạo; đây cũng là hàng rào bảo vệ sinh lý [15] [2]. Vì vậy đối với phụ nữ chƣa quan hệ tình dục ít bị NKĐSDD và trong âm đạo luôn có mặt các vi khuẩn có lợi nhƣ hàng rào bảo vệ âm đạo, tuy nhiên ngƣợc lại với phụ nữ có quan hệ tình dục thì dễ mắc bệnh NKĐSDD và các vi khuẩn có lợi cũng dễ bị thay đổi nếu nhƣ phụ nữ có những thói quen không phù hợp thì nguy cơ mắc các bệnh NKĐSDD rất cao. Triệu chứng lâm sàng của nhiễm khuẩn đƣờng sinh dục dƣới Bệnh lý về nhiễm khuẩn đƣờng sinh dục dƣới thƣờng biểu hiện một hội chứng gồm 3 triệu chứng chính: là ra khí hƣ, ra máu bất thƣờng và đau bụng dƣới.
Trong đó, ra khí hƣ là triệu chứng quan trọng và phổ biến nhất có giá trị trong chẩn đoán tác nhân gây bệnh khác nhau nhờ dựa vào tính chất, màu sắc, số lƣợng khí hƣ thay đổi tùy thuộc vào từng loại. Khí hƣ thƣờng biểu hiện dƣới dạng [14]. 6 - Khí hƣ đặc: màu trắng đặc nhƣ bột, giống nhƣ sữa đặc, đọng trong các túi cùng âm đạo, nhất là túi cùng sau, thƣờng có sự hiện diện của nấm Candida albicans. Vì vậy đây là dấu hiệu tƣơng đối đặc hiệu của nấm Candida albicans tuy nhiên để chẩn đoán chính xác cần phải xét nghiệm soi tƣơi để chẩn đoán chính xác[9].
- Khí hƣ xanh nhạt, có bọt: đục, loãng, có màu xanh nhạt, mùi hôi, số lƣợng nhiều và đọng ở các túi cùng âm đạo, xét nghiệm thƣờng thấy ký sinh trùng roi. Đây cũng là dấu hiệu tƣơng đối để chẩn đoán Trichomonas, tuy nhiên để chẩn đoán chính xác thì cũng cần phải xét nghiệm soi tƣơi để chẩn đoán chính xác và điều trị cho cả ngƣời chồng [9]. - Khí hƣ giống nhƣ mủ: nguyên nhân thƣờng do các tạp khuẩn gây nên. Đây là dấu hiệu không điển hình bởi vì khí hƣ giống nhƣ mủ cũng có thể do lậu cầu khuẩn[9].
- Khí hƣ lẫn máu: thƣờng gặp ở các tổn thƣơng gây loét, trợt tại thành âm đạo, cổ tử cung, Polyp cổ tử cung, ung thƣ cổ tử cung và âm đạo. Tất cả các dấu hiệu trên rất đặc hiệu để nhận biết huyết trắng bệnh lý giúp các chị phụ nữ sớm phát hiện để khám và điều trị kịp thời, đồng thời giúp cho CBYT nhận dạng đƣợc huyết trắng thuộc nhóm nào của bệnh lý. Tuy nhiên để giúp cho CBYT điều trị triệt để cần phải có xét nghiệm soi tƣơi chẩn đoán chính xác để điều trị đúng phác đồ, phòng tránh các trƣờng hợp tái nhiễm và điều trị không triệt để các bệnh NKĐSDD [23]. Tóm lại với đặc điểm giải phẩu sinh lý và bệnh lý của đƣờng sinh dục dƣới có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, có chức năng hết sức quan trọng và đặc biệt ảnh hƣởng trực tiếp đến chất lƣợng sống của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ; với đặc điểm giải phẩu phức tạp và ảnh hƣởng trực tiếp đến việc sinh đẻ, quan hệ tình dục, là đoạn cuối của sự bài tiết kinh nguyệt, các tuyến và nƣớc tiểu.
Đó là thực trạng về NKĐSDD mà ngành y tế cũng nhƣ phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ cần quan tâm, nếu phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ không có đủ kiến thức, điều kiện sinh hoạt, điều kiện ngành y tế, và các thói quen không tốt sẽ là những yếu tố liên quan trực tiếp đến NKĐSDD của phụ nữ 18-49 tuổi có chồng. CÁC DẠNG NHIỄM KHUẨN ĐƢỜNG SINH DỤC DƢỚI Các dạng NKĐSDD cần đƣợc nêu rõ các dạng viêm, đƣợc trình bày và giải thích đầy đủ về các dạng lâm sàng của từng dạng viêm nhƣ: Viêm âm hộ, viêm âm đạo, viêm âm đạo do nấm men, viêm âm đạo do Trichomonas, viêm âm đạo do vi khuẩn, viêm cổ tử cung…, từng đặc điểm giải phẫu, từng đối tƣợng, tiền sử bệnh và các đặc điểm cá nhân, đó là những yếu tố rất quan trọng và cần thiết để mô tả tình trạng NKĐSDD của phụ nữ 18-49 tuổi có chồng, và xác định các yếu tố liên quan dẫn đến NKĐSDD.