Khảo sát tình hình thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm ở các cơ sở bánh kẹo tại TP.HCM

Chuyên khảo phân tích Luận văn khảo sát tình hình thực hiện vsattp ở một số cơ sở bánh kẹo tại tphcm, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đồ Án Tốt Nghiệp

2008

88
5
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT LUẬN VĂN

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG

1.1. Giới thiệu đề tài

1.2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

1.3. Giới hạn đề tài

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH VSATTP

2.1. Giới thiệu Trung tâm TCS

2.2. Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm trong cả nước

2.3. Tình hình VSATTP tại Thành phố Hồ Chí Minh

2.3.1. Đặc điểm tình hình

2.3.2. Những mặt cần khắc phục

2.3.3. Tình hình Cơ sở Bánh kẹo

2.4. Khái niệm về VSATTP

3. CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

4.1. Đánh giá cơ sở

4.2. Đánh giá về trang thiết bị, dụng cụ

4.3. Điều kiện con người

4.4. Các biện pháp khắc phục

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Tài liệu tham khảo

Phụ lục A: Ngộ độc thực phẩm

Phụ lục B: Danh sách cơ sở bánh kẹo

Phụ lục C: QĐ 11/2006/QĐ-BYT

Phụ lục D: Mức thu lệ phí VSATTP

Phụ lục E: QĐ 41/2005/QĐ-BYT

Phụ lục F: Mức xử phạt đối với hành vi vi phạm VSATTP

Phụ lục G: QĐ 39/2005/QĐ-BYT

Phụ lục K: Bảng đánh giá VSATTP

Tóm tắt

I. Khảo sát vệ sinh an toàn thực phẩm tại cơ sở bánh kẹo TP

Đề tài "Khảo sát vệ sinh an toàn thực phẩm tại cơ sở bánh kẹo TP.HCM" được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng và hiệu quả của các cơ sở sản xuất bánh kẹo trong việc tuân thủ các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong bối cảnh ngày càng nhiều sản phẩm bánh kẹo không đạt tiêu chuẩn được phát hiện, việc khảo sát này không chỉ giúp xác định các vấn đề tồn tại mà còn đề xuất các giải pháp khắc phục. Đặc biệt, sự gia tăng của các vụ ngộ độc thực phẩm do bánh kẹo kém chất lượng đã làm dấy lên mối lo ngại cho người tiêu dùng. Theo thống kê, trong các năm gần đây, số vụ ngộ độc thực phẩm liên quan đến bánh kẹo đã có xu hướng gia tăng, điều này cho thấy sự cần thiết phải tăng cường công tác kiểm tra và giám sát tại các cơ sở sản xuất.

1.1 Tình hình thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm

Tại TP.HCM, có hơn 36.000 cơ sở sản xuất thực phẩm, trong đó bao gồm nhiều cơ sở sản xuất bánh kẹo. Mặc dù có hơn 70% cơ sở đã được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, nhưng thực tế cho thấy vẫn còn nhiều cơ sở vi phạm quy định. Việc kiểm tra và xử lý vi phạm còn gặp nhiều khó khăn do quy mô nhỏ của các cơ sở sản xuất và thiếu sự quản lý chặt chẽ. Những vi phạm phổ biến bao gồm việc sử dụng nguyên liệu không đảm bảo chất lượng, điều kiện vệ sinh không đạt yêu cầu, và việc không ghi nhãn rõ ràng cho sản phẩm. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng mà còn làm giảm uy tín của ngành sản xuất bánh kẹo tại Việt Nam.

1.2 Quy trình đánh giá vệ sinh an toàn thực phẩm

Quy trình đánh giá vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở bánh kẹo bao gồm việc kiểm tra các yếu tố như điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, quy trình sản xuất, và điều kiện vệ sinh của nhân viên. Để thực hiện khảo sát, nhóm nghiên cứu đã tiến hành thu thập dữ liệu từ 15 cơ sở sản xuất bánh kẹo tại TP.HCM. Các tiêu chí đánh giá được xây dựng dựa trên các quy định của Bộ Y tế và các tiêu chuẩn quốc tế. Kết quả khảo sát cho thấy nhiều cơ sở vẫn chưa tuân thủ đầy đủ các yêu cầu về vệ sinh thực phẩm, dẫn đến nguy cơ ngộ độc thực phẩm cao. Do đó, cần có sự can thiệp kịp thời từ các cơ quan chức năng để nâng cao nhận thức và cải thiện điều kiện sản xuất tại các cơ sở này.

1.3 Đề xuất giải pháp khắc phục

Dựa trên kết quả khảo sát, một số giải pháp khắc phục đã được đề xuất nhằm nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất bánh kẹo. Trước hết, cần tăng cường công tác thanh tra và kiểm tra định kỳ tại các cơ sở sản xuất để phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm. Thứ hai, cần tổ chức các khóa đào tạo về vệ sinh an toàn thực phẩm cho nhân viên tại các cơ sở sản xuất nhằm nâng cao nhận thức và kỹ năng thực hành. Cuối cùng, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và các tổ chức xã hội để tuyên truyền, giáo dục người tiêu dùng về việc lựa chọn sản phẩm an toàn, từ đó góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

05/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG 1.1 Giới thiệu đề tài: Bánh kẹo là sản hẩm thực phẩm không chỉ cung cấp nguồn năng lượng bổ sung, món ăn giải trí, mà còn là món quà tặng giá trị. Hiện nay, bánh kẹo Việt Nam rất phong phú và đa dạng về chủng loại. Tuy nhiên, công tác đảm bảo chất lượng bánh kẹo không phải cơ sở nào cũng thực hiện tốt. Tình trạng cho bột đá vào kẹo, sữa làm bánh kẹo chứa melamine, cơ sở sản xuất không hợp vệ sinh, bánh trung thu kém chất lượng …tất cả cho thấy ý thức thực hiện VSATTP tại các cơ sở bánh kẹo còn hạn chế.

Vậy, cơ sở bánh kẹo tại Thành phố Hồ Chí Minh ra sao? Tại sao cơ sở sản xuất bánh kẹo lại không đảm bảo vệ sinh sản xuất? Nhằm tìm hiểu tình hình sản xuất bánh kẹo tại Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi thực hiện đề tài “Khảo sát tình hình thực hiện VSATTP ở một số cơ sở bánh kẹo tại Thành phố Hồ Chí Minh”. Đề tài sẽ thống kê các cơ sở vi phạm; tìm ra các sai phạm thường vi phạm; tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra phương án khắc phục.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn: Đề tài giới thiệu hai nội dung chính là “ Quy trình đánh giá VSATTP tại cơ sở sản xuất bánh kẹo” và “Khảo sát 15 cơ sở sản xuất bánh kẹo tại Thành phố”. Đề tài cũng cập nhật một số thông tin, văn bản pháp luật về quản lý VSATTP để tham khảo và giới thiệu các mẫu đơn đăng ký theo quy định. Đề tài là một bảng báo cáo tình hình thực hiện VSATTP trên thực tế sản xuất bánh kẹo tại Thành phố.3 Giới hạn đề tài: 1.1 Những khó khăn của đề tài: - Khó khăn trong việc khảo sát tại cơ sở sản xuất - Thiếu kinh nghiệm trong đánh giá.

- Tài liệu tham khảo thường là các quy định và nghị định mang tính tổng quát và không cụ thể cho ngành nghề bánh kẹo.2 Khắc phục khó khăn: - Xây dựng bảng đánh giá thật chi tiết các chỉ tiêu khảo sát - Tham khảo tài liệu về những quy định về Cơ sở đủ điều kiện VSATTP - Ghi nhận khó khăn của doanh nghiệp - Đặt câu hỏi về các chứng chỉ phải có, và kiến thức VSATTP của công nhân. 2 3 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH VSATTP 2.1 Giới thiệu Trung tâm TCS: Trung tâm Đào tạo – Tư vấn & Hỗ trợ Doanh nghiệp Việt Nam (gọi tắt là Trung tâm TCS) thành lập ngày năm 2007. Giám Đốc : Võ Xuân Bội Lâm Hình 2.1 Logo TCS Địa chỉ : 102 Vũ Huy Tấn, Phường 13, Quận Bình Thạnh, TP.HCM Điện thoại : (08) 4046 743 Fax: (08) 4646 744 Mã số thuế : 0304458183 Email : tcscenter@foodsafety.vn Website : www.vn Lĩnh vực hoạt động: - Đào tạo, huấn luyện và cấp “Giấy chứng nhận đã tham gia khóa huấn luyện kiến thức cơ bản về VSATTP” theo quyết định 43/2005/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ y tế. - Đào tạo, tư vấn và hỗ trợ Doanh Nghiệp đạt chứng chỉ GMP, GHP, SSOP, HACCP, ISO 9001:2000 … - Công bố sản phẩm thực phẩm mới cho Doanh nghiệp - Quảng cáo Doanh nghiệp và sản phẩm Doanh nghiệp đạt chuẩn trên website www.vn Trung tâm được Cục An Toàn Vệ Sinh Thực phẩm cấp Giấy xác nhận “Trung tâm đủ điều kiện tham gia giảng dạy, tập huấn VSATTP theo quyết định số 43/2005/QĐ – BYT ngày 20/2/2005 của Bộ trưởng Bộ y tế”.

Trung tâm là 1 trong 10 đơn vị duy nhất ở Việt Nam có chức năng cấp “Giấy chứng nhận đã tham gia lớp tập huấn kiến thức cơ bản về VSATTP”.1 Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm trong cả nước: Bảng 2.1 Bảng thống kê tình hình ngộ độc thực phẩm từ năm 2000 - 2007: Nguyên nhân Không rõ Vi sinh vật Hóa chất Độc tố tự nhiên Năm nguyên nhân 70 vụ 37 vụ 53 vụ 53 vụ 2000 32,8 % 17,4 % 24,9 % 24,9 % 94 vụ 41 vụ 78 vụ 32 vụ 2001 38,4 % 16,7 % 31,8 % 13,1 % 92 vụ 55 vụ 55 vụ 16 vụ 2002 42,2 % 25,2 % 25,2 % 7,4 % 117 vụ 46 vụ 51 vụ 24 vụ 2003 49,2 % 19,3 % 21,4 % 10,1 % 82 vụ 18 vụ 33 vụ 12 vụ 2004 56,5 % 12,4 % 22,7 % 8,3 % 74 vụ 12 vụ 39 vụ 19 vụ 2005 51,4 % 8,3 % 27,1 % 13,2 % 64 vụ 18 vụ 42 vụ 41 vụ 2006 36,8 % 10,9 % 25,5 % 24,8 % 90 vụ 19 vụ 67 vụ 72 vụ 2007 36,3 % 7,7 % 27 % 29 % [2,157,157] Trong những năm gần đây, người tiêu dùng không ngừng lo lắng khi mua những thực phẩm trên thị trường. Bởi lẽ, chưa hết nguy cơ nước tương chứa 3-MCPD , lại đến dịch tiêu chảy cấp từ mắm tôm. Bên cạnh đó, các thông tin về vấn đề rau sạch mà không sạch, ngộ độc thực phẩm tại các căn tin , quán ăn tập thể. Vấn đề kiểm tra và cấp giấy chứng nhận VSATTP cho các cơ sở, quán ăn, Doanh nghiệp còn mang tính thủ tục và hình thức.

Mới đây 4 5 nhất là việc phát hiện sử dụng bột đá CaCO3 vào sản phẩm kẹo ở Hà Nội, tình hình sử dụng Melamine trong sữa. Không dừng lại đó, trong khi kiểm tra sữa chứa melamine lại phát hiện sữa hết hạn sử dụng, sữa kém chất lượng … Theo ông Vũ Vinh Phú – Phó Giám đốc Sở Thương mại Hà Nội kiêm Phó Ban chỉ đạo Vệ sinh an toàn Thực phẩm (VSATTP): - Các quy định về công tác VSATTP có nhiều nhưng chưa thực sự cụ thể. Pháp lệnh về VSATTP ra đời từ tháng 10/2003 nhưng đến nay vẫn chưa có thông tư hướng dẫn. - Công tác khen thưởng, xử lý kỷ luật chưa mạnh để khuyến khích người sản xuất kinh doanh làm ăn nghiêm túc.

- Nhiều hộ sản xuất, kinh doanh vì lợi nhuận mà bất chấp các quy định về đảm bảo VSATTP. Bên cạnh đó công tác giáo dục tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng cho mọi người dân, hộ sản xuất kinh doanh về công tác đảm bảo chất lượng VSATTP còn ít, nội dung hình thức tuyên truyền chưa phong phú. - Và quan trọng hơn là cách quản lý chưa đi từ gốc. Đối với hàng hóa là thực phẩm tươi sống, chế biến, rau xanh phải quản lý từ trang trại đến bàn ăn (quản lý tho chuỗi), từ đó mới thực hiện triệt để được công tác đảm bảo chất lượng VSATTP hiện nay.

Theo Tiến sĩ Trần Đáng (Nguyên Cục trưởng Cục An toàn vệ sinh thực phẩm Việt Nam) thì có nhiều nguyên nhân, trong đó: - Ý thức của người dân, người dân còn quá thiếu ý thức trong việc sản xuất và chế biến thực phẩm không an toàn để bày bán ở các chợ, các khu dân cư, trên đường phố. Qua điều tra, chúng tôi thấy số người hiểu đúng về VSATTP chưa đầy 45%, trên 55% số người được hỏi chưa hiểu đúng về vấn đề này. - Do chính quyền cơ sở, mà cụ thể là chính quyền phường, xã chưa vào cuộc một cách quyết liệt. Nguyên nhân của chuyện này là chế tài chưa nghiêm, Chính phủ đã quy định hình thức xử lý là cách chức người đứng đầu chính quyền phường, xã nếu không làm tròn trách nhiệm về quản lý, chống vi phạm VSATTP.TS Trần Thị Trung Chiến (Nguyên Bộ trưởng Bộ y tế) thì do: - Hệ thống tổ chức quản lý chưa đủ mạnh, hệ thống kiểm nghiệm yếu chưa đáp ứng kịp công tác quản lý, hệ thống thanh tra còn thiếu nhiều nhân lực, đặc biệt là kinh phí đầu tư cho công tác bảo đảm VSATTP còn quá thấp.

- Sự quan tâm của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và của nhân dân còn hạn chế. Trên thị trường, thực phẩm giả, thực phẩm không bảo đảm chất lượng, vệ sinh, an toàn còn lưu thông khá phổ biến và chưa được kiểm soát. Bên cạnh đó, môi trường đất, nước, không khí bị ô nhiễm, nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm chưa chú trọng đến công tác VSATTP, nên nguy cơ ô nhiễm thực phẩm còn cao. Số vụ ngộ độc Năm ( Nguồn phụ lục A) Hình 2.2 Biểu đồ mô tả số vụ ngộ độc từ 2000 đến 2007 Theo biểu đồ, ta thấy số vụ ngộ độc thực phẩm tăng mạnh từ năm 2005 -2007.

Nguyên nhân do ý thức của người sản xuất, người nuôi trồng chưa cao. Các cơ sở sản xuất rau sạch nhưng chưa đạt chuẩn, thuốc bảo vệ thực vật và thuốc kháng sinh được sử dụng bất hợp lý, công tác thanh tra kiểm soát chưa thật sự hiệu quả. 6 7 Số người ngộ độc Năm (Nguồn phụ lục A) Hình 2.3 Biểu đồ minh họa số người ngộ độc thực phẩm từ năm 2000 đến 2007 Bảng 2.2 Kết quả xử lý các vi phạm VSATTP năm 2007 Số lượng Tỷ lệ TT Mức độ xử lý (Cơ sở) (%) 1 Tổng số cơ sở được thanh tra, kiểm tra 363.541 2 Số cơ sở vi phạm 52.650 14,48 3 Mức độ cảnh cáo (cơ sở)/Cơ sở vi phạm 32.457 61,64 4 Mức độ phạt tiền (Cơ sở)/Cơ sở vi phạm 13.964 25,9 5 Tổng số tiền phạt (VNĐ) 3.000 6 Mức độ đóng cửa (cơ sở)/Cơ sở vi phạm 236 0,45 8,67 7 Mức hủy sản phẩm (cơ sở)/Cơ sở vi phạm 4.566 [2] 7 8 Nghị định 45/NĐ-CP ngày 26/4/2005 (phụ lục F) đã quy định mức độ xử phạt cho cụ thể từng hành vi. Tuy nhiên, hình thức xử phạt là khó thực hiện bởi các cơ sở sản xuất nhỏ, quy mô kinh tế hộ gia đình là chủ yếu, sai phạm nhiều điểm trong cùng một mục quy định.

Khó khăn trong xử phạt sẽ dẫn đến mức độ xử phạt đối với các doanh nghiệp còn khá nhẹ, bình quân mỗi doanh nghiệp chỉ mất khoảng 40.000 đồng cho 1 cơ sở vi phạm sau đợt kiểm tra. Hình thức xử phạt sẽ không đủ mạnh để doanh nghiệp có ý thức tốt hơn. Sản phẩm không đạt sẽ gây ra những hậu quả không lường trước được. Nguy cơ ngộ độc thực phẩm cũng sẽ không ngừng tăng.

Vì vậy, cần nghiêm khắc hơn với những sai phạm cơ bản. Đồng thời với xử phạt là tìm giải pháp hỗ trợ khắc phục sai phạm cho doanh nghiệp.2 Tình hình VSATTP tại Thành phố Hồ Chí Minh: 2.1 Đặc điểm tình hình: Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố lớn và đông dân nhất nước (dân số chính thức gần 7 triệu người, với hơn 2 triệu dân nhập cư và khách vãn lai). Thành phố có 24 quận huyện và 322 phường xã. Hiện nay Thành phố có hơn 36.000 cơ sở sản xuất, kinh Hình 2.4 Lựa chọn thực phẩm doanh thực phẩm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết với tiêu đề Khảo sát tình hình thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm ở các cơ sở bánh kẹo tại TP.HCM của tác giả Lê Đức Anh, dưới sự hướng dẫn của Ths. Nguyễn Anh Trinh từ Trường Đại Học Kỹ Thuật Công Nghệ TP. HCM, tập trung vào việc đánh giá hiện trạng vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất bánh kẹo ở Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn tổng quan về các quy định và tiêu chuẩn an toàn thực phẩm hiện hành mà còn chỉ ra những thách thức mà các cơ sở này phải đối mặt trong quá trình thực hiện. Độc giả sẽ nhận được thông tin hữu ích về tình hình thực phẩm, góp phần nâng cao nhận thức về an toàn thực phẩm trong cộng đồng.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh quản lý nhà nước và an toàn thực phẩm, có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ về quản lý an toàn vệ sinh lao động tại khu công nghiệp Hòa Khánh, Đà NẵngKiến thức an toàn thực phẩm cho người chế biến thức ăn đường phố tại huyện Chư Păh, Gia Lai năm 2022. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức về an toàn thực phẩm và quản lý nhà nước trong lĩnh vực thực phẩm.