Chương 1. Cơ sở lý luận Quản lý nhà nước về ATVSLĐ. Thực trạng Quản lý nhà nước về ATVSLĐ trong các doanh nghiệp trên địa bàn KCN Hòa Khánh, quận Liên Chiều, thành phố Đà Nẵng. Một số giải pháp hoàn thiện công tác Quản lý nhà nước về ATVSLĐ trong doanh nghiệp trên địa bàn KCN Hòa Khánh, quận Liên Chiều, thành phố Đà Nẵng.
Tong quan tài liệu nghiên cứu Việc thực hiện các qui định pháp luật về ATVSLĐ ở nước ta đi vào hệ thống và nề nếp từ năm 1994 (trước đó chúng ta cũng đã có “Điều lệ tạm thời về Bảo hộ lao động” ban hành năm 1964, “Pháp lệnh về Bảo hộ lao động” ban hành năm 1991). Bộ luật Lao động ra đời và có hiệu lực từ năm 1995, khi đó thuật ngữ "An toàn và vệ sinh lao động" bắt đầu được sử dụng rộng rãi. Bộ luật Lao động năm 2012 ra đời tiếp tục đề cập đến một chương về lĩnh vực ATVSLĐ. Trong xu thế Hội nhập nền kinh tế thế giới, đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Cải thiện điều kiện lao động, đảm bảo sức khoẻ cho người lao động, bảo vệ môi trường là nhiệm vụ hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong nhiều thập kỷ tới của nước ta. Do đó, năm 2015 Luật ATVSLĐ ra đời là cơ sở pháp lý quan trọng không chỉ giải quyết được những thách thức về công tác ATVSLĐ hiện nay cũng như thúc đây sản xuất ở Việt Nam trong thời gian tới, mà còn có ý nghĩa xã hội và nhân văn to lớn. Luật ATVSLĐ được Quốc hội Việt Nam ban hành ngày 25/06/2015 đã quy định được những nội dung chủ yếu và mới so với các quy định pháp luật về ATVSLĐ hiện hành. Tuy nhiên, hệ thống các văn bản pháp lý được ban hành nhằm đảm bảo việc chấp hành các quy định của Nhà nước về công tác ATVSLĐ trong doanh nghiệp vẫn còn chồng chéo, phân tán gây khó khăn cho việc triển khai thực hiện thực tế tại doanh nghiệp.
Nội dung về ATVSLĐ được quy định trong nhiều văn bản luật và nhiều văn bản do Chính phủ, các Bộ, ngành ban hành trong đó đối tượng được điều chỉnh hiện nay thường chỉ áp dụng đối với khu vực có quan hệ lao động, trong khi các đối tượng lao động khác như lao động làm việc thông qua cai thầu, lao động tự do, học nghề, tập nghẻ vẫn chưa có những quy định cụ thẻ, chỉ tiết. Đã có nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu kinh tế, các chuyên gia đầu ngành nghiên cứu đề tài này ở các thời gian và cấp độ khác nhau: Năm 2004, đề tài độc lập cấp Nhà nước “Nghiên cứu cơ sở khoa học để xây dựng hệ thống tiêu chuẩn và hệ thống quản lý an toàn và vệ sinh lao động phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần bảo vệ sức khỏe lao động trong quá trình hội nhập” đề cập đến tông quan tình hình phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ về an toàn và vệ sinh lao động trên thế giới, khu vực và ở Việt Nam hiện nay. Xác định trọng tâm phát triển khoa học công nghệ về an toàn và vệ sinh lao động trong quá trình hội nhập khu vực, những vấn đề cấp thiết của chiến lược an toàn-vệ sinh lao động trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghiên cứu thực trạng và các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý an toàn và vệ sinh lao động ở Việt Nam (PGS.TS Nguyễn An Lương làm chủ nhiệm đề tài, mã đề tài KHCN.
Năm 2007, đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu những biện pháp tuyên truyền, phô biến về an toàn, vệ sinh lao động tại các doanh nghiệp” do Cục An toàn lao động - Bộ LĐTBXH thực hiện (mã đề tài CB 2007-02-02). Mục tiêu nghiên cứu Đề xuất những biện pháp tuyên truyền, phô biến an toàn vệ sinh lao động gắn với xây dựng văn hóa an toàn trong các doanh nghiệp, nhằm nâng cao nhận thức, kiến thức về an toàn vệ sinh lao động của người sử dụng lao động và người lao động, góp phần giảm thiểu tai nạn lao động, bảo vệ sức khỏe người lao động. Kết quả nghiên cứu Đề tài đã phân tích, đánh giá thực tiễn công tác thông tin, tuyên truyền về an toàn vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp và nhận thức, ý thức của người sử dụng lao động, người lao động, làm cơ sử xây dựng biện pháp tuyên truyền, phổ biến an toàn vệ sinh lao động hữu hiệu, góp phần quan trọng nâng cao nhận thức, ý thức của người sử dụng lao động và người lao động tại các doanh nghiệp trong giai đoạn hội nhập. Năm 2008, Luận án thạc sĩ của tác giả Lê Thị Phương Thúy nghiên cứu đề tài “Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động, sự cần thiết của việc ban hành các quy định pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ”.
Nghiên cứu đã phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ và việc thực thi pháp luật trên thực tế trong các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam. Đánh giá kết quả, những bất cập và nguyên nhân của những bắt cập, tồn tại. Đề xuất một số yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ; sửa đổi, bổ sung một số quy định an toàn, vệ sinh lao động cho lao động nữ. Tăng cường công tác phô biến, giáo dục pháp luật; nâng cao chất lượng hoạt động của tô chức công đoàn; tăng cường công tác quản lý, thanh tra, xử phạt, nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ.
Năm 2010, đề tài nghiên cứu “Xây dựng quy trình quản lý an toàn - vệ sinh lao động trong các loại hình doanh nghiệp” do Cục An toàn Lao động thực hiện. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá thực trạng quá trình thực hiện hệ thống quản lý ATVSLĐ tại cơ sở và các doanh nghiệp; khuyến nghị xây dựng quy trình quản lý ATVSLĐ trong các cơ sở và doanh nghiệp. Năm 201 1, đề tài giữa Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Bộ Khoa học công nghệ “Điều tra đánh giá ảnh hưởng hoạt động của các khu công nghiệp đến phát triển kinh tế xã hội, sức khỏe người lao động và môi trường xung quanh: đề xuất các giải pháp phát triển bền vững cho các khu công nghiệp Việt Nam” do GS.TS Lê Vân Trình làm chủ nhiệm đề tài (mã đề tài CTPH-2010/01/TLĐ-BKHCN). Năm 2011, đề tài cấp Bộ '“Nghiên cứu xây dựng và áp dụng thử mô hình quản lý rủi ro dé góp phần nâng cao hiệu quả công tác ATVSLĐ ở các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ” của Viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động (Tiến sĩ Nguyễn Thắng Lợi làm chủ nhiệm, mã đề tài 209/13/TLĐ).
Năm 2012, Cục An toàn lao động phối hợp với Viện Khoa học Lao động và Xã hội đã tiến hành triên khai thí điểm “Hệ thống quản lý ATVSLĐ tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực có nguy cơ cao như khai thác đá, sản xuất vật liệu xây dựng” tại hai tỉnh Hà Nam, Quảng Ninh và khu vực làng nghề. Theo đó, các doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn được lựa chọn để áp dụng thí điểm sẽ được các chuyên gia trong lĩnh vực ATVSLĐ tư vấn cũng như hỗ trợ kinh phí giúp xây dựng hệ thống quản lý ATVSLĐ ở đơn vị mình như: cung cấp các tài liệu, thiết bị an toàn, xây dựng góc bảo hộ lao động, công tác huấn luyện. Nhằm giúp doanh nghiệp xây dựng hệ thống quản lý ATVSLĐ vừa đảm bảo tuân thủ đúng các quy định của pháp luật vừa giúp doanh nghiệp thực hiện tốt công tác ATVSLĐ, giúp giảm thiêu TNLĐ và BNN. Trên cơ sở này tông kết, rút kinh nghiệm đề hoàn thiện quy trình xây dựng mô hình.
Từ đó nhân rộng việc áp dụng hệ thống quản lý ATVSLĐ trong cả nước. Năm 2013, đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu xây dựng phương pháp đánh giá hiệu quả tác động của huấn luyện An toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động” của Viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động chủ trì, do kỹ sư Trương Hòa Hải làm chủ nhiệm đề tài (mã đề tài 21 1/09/TLĐ). CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUAN LY NHA NUOC VE AN TOAN, VE SINH LAO DONG 1. NHUNG VAN DE CHUNG CUA QUAN LÝ NHÀ NƯỚC VẺ AN TOAN, VE SINH LAO DONG 1.
Các khái niệm cơ bản - An toàn lao động: là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tô nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động. - Vệ sinh lao động: là giải pháp phòng, chống tác động của yếu tố có hại gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe cho con người trong quá trình lao động. - Điều kiện lao động: là tông thê các yếu tố về tự nhiên, xã hội, kinh tế, kỹ thuật được biểu hiện thông qua các công cụ và phương tiện lao động, đối tượng lao động, quá trình công nghệ, môi trường lao động và sự sắp xếp, bố trí chúng trong không gian và thời gian, sự tác động qua lại của chúng trong mối quan hệ với người lao động tại chỗ làm việc, tạo nên một điều kiện nhất định cho con người trong quá trình lao động. - Môi trường lao động: là phạm vi không gian gắn với quá trình lao động trong đó thể hiện đối tượng lao động, phương tiện, tổ chức lao động và các yếu tố kinh tế, xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình lao động.
- Nguy cơ: là khả năng tiềm ân gây nên sự có nguy hiểm cho quá trình sản xuất, tác hại sức khỏe tính mang cua NLD trong quá trình lao động. - Rủi ro: Tai nạn, bệnh tật, sự có không mong đợi, ngoài ý muốn đã xảy ra. - Yếu tô nguy hiễm: là yêu tô gây mắt an toàn, làm tôn thương hoặc gây tử vong cho con người trong quá trình lao động. - Yếu tố có hại: là yêu tô gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe con người trong quá trình lao động.
- Tai nạn lao động: là tai nạn gây tôn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thê hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động. - Bệnh nghề nghiệp: là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đối với người lao động.