Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA HOÀN THIỆN PHÁP LUAT VE AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG 11. Khái niệm về an toàn, LLL Khái nig lộng Đây la một khái niêm cơ bản trong Luật An toàn, vệ sinh lao đông năm 20151, được quy pham hóa như sau: “án foản lao đông là giải pháp phòng chỗng tác động của các yếu tổ nguy hiém nhằm bảo ddim không xdy ra thương tật, tử vong đối với cơn người trong quá trình lao động” Nhu vậy, ATLĐ theo Luật năm 2015 là phương pháp, phương án để loại bd các yếu tổ nguy hiểm cho con người (người lao động và những người xung quanh) trong điều kiện, môi trường làm việc để không gây tổn thất về tính mang, không tác đông xêu đến sức khỏe hoặc bat cứ sự nguy hiểm não đến con người va tải sản trong quá trnh lao động, Để lam rõ khái niệm nay, cũng ngay tại Diéu 3 của Luật, yêu to nguy hiểm được giải thích là "la yếu tổ. gập mắt an toàn, làm tin thương hoặc gay tir vong cho con người trong quả: Trình lao đông"^ ATLD luôn có mỗi quan hệ mật thiết, gin bó với công cụ va phương tiện lao động, và đây chính là những yêu tố quan trong không chỉ ảnh hưỡng đến sự an toàn của NLD mà còn ảnh hưỡng tới hiệu suất lao đông, do đó, mỗi quan hệ nay cén được đặc biệt quan tâm. Điển nay được chứng minh từ thực tế, để có thể tô chức các hoạt đông sin cuất, linh doanh, con người trước hết phải sử dụng các công cụ, phương tiện lao động thông qua kỹ năng, chuyên.
môn, tay nghề được đảo tạo để sản xuất ra sản phẩm, hảng hóa. Công cụ, phương tiên cảng hiển đại, tiên dung, day đủ, khoa hoc thi tính năng an toản. cho con người cảng được nang cao. Tuy nhiên, dù công cụ, phương tiện thô sơ hay tinh vi, hiện đại, tiện nghỉ thì vấn dé mau chí 2 Init Antodn si ah họ déngnim 201 khoản £ Đu3, Gath thngấ: 10 sẽ quyết định đến mức độ an toàn của môi trường lam việc va sự ảnh hưởng, đến những người xung quanh.
Trong những bối cảnh nhất định, công cụ cảng hiện đại, tính năng an toàn công được bao đầm, nhưng nêu dé xay ra nguy cơ mất an toàn thì chính những công cu, phương tiên hiện đại lại có mỗi nguy hiểm to lớn gap nhiêu lan những công cu, phương tiên thô sơ. Chính diéu nay khiến cho khái niêm ATLĐ trong Luật được nhắn mạnh là "các giải pháp", ngiĩa là con người sẽ la nhân tổ quyết định chính sự an toàn của con người trong quá trình lao động Khai niệm "an toàn lao động" cân được hiểu một cách biện chứng trong mỗi quan hệ giữa người lao đông - người sử dung lao động - hệ thống máy moc, thiết bị, công cụ, nha zưởng và những yếu tổ. khách quan (thiên tai, bão lũ hoặc các điểu kiện thời tiết khác), chủ quan. (trình độ, năng lực, thái độ.) của cả một bô may vận hành qua trình lao động, sản suất để đảm bảo sự an toán trong lao động, cũng chính là sự an toàn của ‘mot 2 hội thu nhỗ.
Tom lại, có thé hiểu ATLD ia tổng thé nhitng biện pháp nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe của NLD bằng cách tạo điều kiện cho NLD được làm việc trong một môi trường an toàn, không tôn tại những yếu tô nguy hiểm có thé gây chẩn thương hoặc tử vong cho NLD và niiững người xung quanh. Khái niệm vệ sinh tao động Tương tự như ATLĐ, VSLĐ được Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 dé cập đến với tính chất 1a một thuật ngữ pháp lý cân được hiểu thống nhất vẻ mặt nội ham khái niệm Theo đó, "VSLD la giải pháp phòng. ching tác đồng cũa yếu tổ cô hai gậy bênh tat, lầm suy: giãm sức khỏe cho con người trong quả trùnh lao ang"? Nên như ATL được liên hệ tới "yêu tổ nguy hiểm" thì VSLĐ được tham chiếu bởi "yếu tổ nguy hại", tức là đã có sự khác nhau về mức độ. Theo từ điển Tiếng Việt thì "nguy hiểm" nghĩa là gây hai lớn cho con người, cô th đến từ vong, còn "nguy hai" được dé “Toe Anton, vì chữ lo đông năm 2015,1hoän 3 Đền3, Gi thếng " cập tới ở khía cạnh bênh tật gây hại, anh hưởng dén sức khöe con người".
Yêu tổ nguy hại, theo Luật năm 2015 là "yếu 13 gậy bệnh tật, làm suy giảm sức khốe con người trong qué trành lao động "5 ‘Voi cách tiếp cận vẻ ngữ nghĩa như trên, vệ sinh lao động được hiểu lả một lĩnh vực khoa học, công nghệ có tính chuyền ngành nghiên cứu việc quản. lý- nhân dang, đánh giá vả kiểm soát nguy cơ của các tác hai nghề nghiệp cũng như các mỗi nguy hai đến sức khöc con người. Trên cơ sở đó để xuất các giải pháp, biên pháp pháp cãi thiên môi trường, điều kiên lam việc nhằm. bao vê sức khỏe, nâng cao hiệu suất lao động vả phòng ngừa bệnh nghề nghiệp cho người lao động, Muỗn đạt được kết qua nảy, các nba nghiên cứu.
phải nhân điện được các yêu tô nguy hai, phân tích được các đặc điểm nhận. dạng đối với các tác hai nghệ nghiệp, các mỗi nguy hai đến sức khöe người lao đông và những người sung quanh. Việc nghiên cửu những biển đổi sinh: hóa, tâm sinh ly, trang thai tâm than, mức đô căng thẳng do các tac động có hại của nghề nghiệp đến các chi thể lao động, đặc biệt là người lao đông trực tiếp là nhiệm vụ cần thiết. Từ đó tiếp tục nghiên cửu sâu hơn các biện pháp phòng ngừa vả kiểm soát nguy cơ của các tác hại nghề nghiệp, nghiên cứu xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn vệ sinh sức Ihde, môi trường, điều kiện.
lâm việc, các chế đô bão về và kiểm tra việc thực hiện các quy định vẻ bảo đâm vệ sinh lao động, nghiên cứu xây dựng các tiêu chuẩn khám tuyển, khám. sức khde dịnh kỹ và khám bệnh nghề nghiệp ‘Nhu vậy, VSLD là tổng hợp những cách thức, giải pháp dé đảm bao ôi trường lao động sạch số, an toàn, thoáng mát, giúp ngăn chăn những yêu 18 độc hai, nguy hiém tác động trực tiếp hoặc gián tiếp, có thé gay bệnh tat hoặc suy giãm sức Rhôe cho NLD Hong Phê (Ci bin 1693), Từ dn Thing Vit, Viên Ngô ng học, Văn Khok học số hội Vi Nema 69 “Loe Antoin, vì chữ lo đông xăm 2015,1hoïn 3 Đền3, Gi thểng 11. Mi quan hé giữa an toàn lao động và vệ sinh lao động Về mit khái niêm, dit được tiếp cân với các nội ham tương đối khác, nhau nhưng an toàn lao động và vệ sinh lao đông luôn có mối quan hệ gin gũi, tác động hỗ trợ lẫn nhau néu dat được những tiêu chi tích cực va cũng tác động sấu dén nhau nêu có những yêu tổ tiêu cực. ‘Néu hiểu và đất trong một chuỗi các tiêu chí la yêu cầu của qua trình.
sản xuất thì an toán lao đông là tinh trang loại ba được các yếu tổ nguy hiểm, có thể đến mức gây chấn thương hoặc tử vong cho người lao động (hoặc người xung quanh), chẳng hạn như. cháy nd, điện giật, vat/dan rơi, đồ sập, văng bản, khí độc. va vệ sinh lao động la yêu cầu về điều kiện, môi trường làm việc của từng loại công việc, ngành nghề dé sức khỏe người lao đông không bị ảnh hưởng xấu, từ đó đăm bảo chất lượng, hiệu suất lao động va sự gin bö lâu dai trong lĩnh vực nghề nghiệp iu hiểu theo nghĩa là biện pháp áp dụng trong sẵn zuất thi an toàn. lao động là tổng hợp các biên pháp nhằm loại trừ các yêu tổ nguy hiểm phát sinh trong quả trình lao đông đảm bao cho người lao động được lam việc trúng didu liệt an fan: Ve nữ lao động l6 hệ tiếng cắc biện pháp, phượng, tiện vé tổ chức và kế thuật vệ sinh nhấm phòng ngừa sự tác động của các yêu 6 hại trong sản xuất đối với người lao động, Với cùng ý nghĩa là bao đấm.
sức khée, tinh mang người lao động, công tác an toan lao động và vệ sinh lao động luôn được tiễn hành đồng thời, hỗ trợ nhau, tạo nên môi trường lao động, thuận lợi, có tác dụng khích lệ người lao đông yến tâm làm viếc khi cảm nhân. được chắc chắn những tiêu chí, diéu kiên lao đông của minh được dim bảo an toan về sức khỏe, tính mang của ban thân va những người xung quanh. Mặc dù có mối quan hệ gin gũi, thống nhất nhưng xét trên phương, dign ngôn ngữ và pháp lý, cần hiểu rõ đó là hai mặt khác nhau của một vẫn. đề, và luôn có sự tách biệt 16 răng như Luật ATVSLD năm 2015 đã thực hiện khải niêm hóa thành quy pham.
Điễu nảy được đính bởi giữa hai nội 3 ‘ham này có su khác nhau chủ yêu về mục đích định hướng và mục tiêu cụ thể để đạt được. Theo đó, việc triển khai thực hiện các biện pháp, giải pháp an toán trong quá trình lao động ở bat cứ khâu, đoạn nao déu có ý nghĩa quyết định trong việc ngăn ngừa tai nan lao động va những sw cổ khác có thé phát sinh trong quả trình làm việc gây thiệt hại trực tiếp cho người lao động, thiệt hai gián tiếp cho người xung quanh vả những tài sản khác. Đối với VSLĐ, định hướng mục tiêu của công tác nay trước hết được đất ra với các đơn vị sit dung lao động, người sử dung lao đông nhằm mục đích kién tao một môi trường lao động lấy sức khöe con người lam trong tâm, từ đó hướng tới các tiêu chí zanh, sach, trong lành, hạn chế đền mức thập nhất các tác nhân sinh— lý - hóa nguy hại, giảm thiểu tình trang người lao động mắc các bệnh nghề nghiệp hoặc các bệnh truyền nhỉ ễm khác trong quá trình tham gia lao động. Pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.