Chương 1: Tổng quan Chương 2: Đánh giá thực trạng công tác an toàn vệ sinh lao động trên công trình tuyến đường bộ trên cao Chương 3: Xây dựng hệ thống quản lý an toàn sức khoẻ môi trường tuyến đường bộ trên cao Luan van 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan công tác an toàn vệ sinh lao động ở Việt Nam 1. Chủ trương và chính sách của nhà nước về công tác an toàn vệ sinh lao động Ở nước ta, đối với mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội thì công tác ATVSLĐ là một yếu tố quan trọng và không thể tách rời. Trong vài năm gần đây, công tác này luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm đặc biệt, trong “Nghị quyết đại hội Đảng IX về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 – 2010” đã nêu và nhấn mạnh cần phải chú trọng đảm bảo an toàn lao động…Trên cơ sở đó, đã nhiều văn bản pháp luật về ATVSLĐ đưa vào áp dụng để hướng dẫn các tổ chức thực thi.
Chính sách của Nhà nước về công tác ATLĐ được quy định toàn diện, từ việc chủ động về đầu tư nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ; hỗ trợ ngăn ngừa, chia sẻ rủi ro/thiệt hại về TNLĐ và BNN; linh hoạt trong xây dựng cơ chế đóng/hưởng bảo hiểm TNLĐ và BNN; hỗ trợ huấn luyện cho NLĐ làm việc không theo hợp đồng lao động.đến việc tạo điều kiện để bảo đảm ATLĐ trong quá trình lao động của người sử dụng lao động đối với NLĐ cũng như các bên liên quan. Nội dung quản lý nhà nước về an toàn lao động Quản lý nhà nước về ATVSLĐ gồm các nội dung như sau: - Xây dựng, ban hành/công bố và tổ chức thực hiện văn bản quy định/quy phạm pháp luật về ATVSLĐ theo thẩm quyền phân công quản lý. - Tuyên truyền/phổ biến và giáo dục pháp luật về ATLĐ. - Theo dõi, thống kê, cung cấp thông tin về TNLĐ và BNN.
Xây dựng chương trình, hồ sơ quốc gia về ATLĐ. - Quản lý tổ chức và hoạt động dịch vụ của tổ chức về lĩnh vực ATLĐ. Luan van 7 - Tổ chức và triển khai nghiên cứu và ứng dụng khoa học - công nghệ về ATLĐ. - Thanh kiểm tra, giải quyết tố cáo/khiếu nại và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về ATLĐ.
- Bồi dưỡng và đào tạo về ATLĐ. - Hợp tác quốc tế về ATLĐ. Trên cơ sở đó, Nhà nước ta đã ban hành hệ thống các văn bản pháp luật, cụ thể như: - Điều 56 trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam – phiên bản được sửa đổi tại kỳ họp lần thứ 6 Quốc hội khóa 13 năm 2013 có quy định “Nhà nước ban hành chế độ, chính sách về bảo hộ lao động, Nhà nước quy định thời gian lao động…chế độ nghỉ ngơi, chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động”; Điều 29, 39 và 61 của Hiến pháp có đề cập đến công tác bảo hộ lao động. - Trong Bộ luật Lao động được ra đời ngày 01/5/2013, nội dung Chương IX có 20 điều về ATVSLĐ, ngoài ra một số chương khác cũng đề cập đến công tác này.
- Luật Bảo hiểm xã hội ra đời ngày 29/6/2006, có quy định về quyền lợi bảo hiểm cho NLĐ (như TNLĐ, BNN, ốm đau, thai sản …). - Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân nước CHXHCN Việt Nam ban hành năm 1989, quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động phải trực tiếp chăm lo, bảo vệ, tăng cường sức khỏe cho NLĐ. - Luật Bảo vệ môi trường nước CHXHCN Việt Nam ban hành năm 2005. - Luật PCCC ra đời ngày 29/6/2001, quy định về trách nhiệm PCCC của người đại diện cao nhất của doanh nghiệp.
- Luật ATVSLĐ được Quốc hội thông qua tháng 5/2015, quy định việc bảo đảm ATVSLĐ; trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan đến ATVSLĐ và quản lý nhà nước về ATVSLĐ. Luan van 8 - Nước ta đã xây dựng chương trình quốc gia về ATVSLĐ từ 2011 - 2015 theo Quyết định 2281/QĐ-TTg ngày 10/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ. Quản lý nhà nước còn bao gồm các Nghị định, Thông tư cần bổ sung, hệ thống tiêu chuẩn qui chuẩn. Hệ thống quản lý an toàn lao động ở Việt nam Trong thời gian qua, công tác quản lý ATVSLĐ ở nước ta đã đạt được kết quả nhất định, điều này được thể hiện ở Nhà nước ta đang dần hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý công tác ATVSLĐ.
Cụ thể là, ngày 25/6/2015 Quốc hội khóa 13 đã ban hành Luật An toàn vệ sinh lao động, nội dung Luật có viết: “đảm bảo an toàn vệ sinh lao động; chính sách, chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trách nhiệm và quyền hạn của các tổ chức, cá nhân liên quan đến công tác an toàn, vệ sinh lao động và quản lý Nhà nước về an toàn vệ sinh lao động” [12]. Tiếp đến là các tài liệu hướng dẫn thực hiện, đồng thời nêu ra yêu cầu tương ứng với đặc thù của mỗi ngành nghề. Công tác ATVSLĐ ở nước ta đã và đang áp dụng mô hình QLNN, cụ thể là: Nhà nước trực tiếp quản lý các Bộ, ngành (như Bộ LĐTBXH, Bộ Công an, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Y tế, Bộ Công thương…). Các Bộ quản lý các địa phương và các khu công nghiệp, cơ sở sản xuất.
Nguồn lực phục vụ cho công tác ATVSLĐ được cơ cấu từ chính quyền đến các nhà máy, xí nghiệp. Hàng năm, thông thường vào tháng 5, Nhà nước có phát động Tháng hành động về ATVSLĐ, trong đó Trưởng ban chỉ đạo là Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Nội dung triển khai Tháng hành động ATVSLĐ gồm có tuyên truyền và kiểm tra công tác ATVSLĐ, diễn ra trên phạm vi toàn quốc. Thông tin ATVSLĐ được tuyên truyền/phổ biến rộng rãi đến NLĐ, nhắc nhở thường xuyên người sử dụng lao động và NLĐ giúp cải thiện hiệu quả triển khai công tác ATVSLĐ.
Hệ thống quản lý an toàn vệ sinh lao động ở Việt Nam Nguồn: [15] Luan van 10 Công tác huấn luyện ATVSLĐ tại các doanh nghiệp có sự thay đổi đáng kể, có thể kể đến như: - Hàng năm, công tác huấn luyện ATVSLĐ được dựa vào kế hoạch sản xuất kinh doanh của tổ chức và ngân sách hoạt động của công tác này tăng đáng kể. Tại các xí nghiệp, nhà máy, Mạng lưới ATVSV được xây dựng rộng khắp, làm cho hiệu quả tuyên truyền về ATVSLĐ đến NLĐ được nâng cao. - Sức khỏe NLĐ được chăm sóc tốt hơn. Ngày càng có nhiều doanh nghiệp tuân thủ nghiêm quy định về khám sức khỏe cho NLĐ, điều này phù hợp với mong muốn và nguyện vọng của NLĐ, đặc biệt là đối với NLĐ phải làm công việc có tính đặc thù cao.
Từ đó, NLĐ có động lực làm việc hơn, đóng góp nhiều hơn vào kết quả kinh doanh của Công ty. - NLĐ được quan tâm, trang bị PTBVCN, giúp giảm nguy cơ tiếp xúc với yếu tố nghề nghiệp tiêu cực, từ đó ngăn ngừa/giảm thiểu được TNLĐ và BNN. - Việc tuân thủ của NLĐ đối với các quy định về ATVSLĐ trong tổ chức được cải thiện rõ rệt. Công tác ATVSLĐ được triển khai, thực hiện tốt thì sức khỏe và khả năng lao động của NLĐ càng được đảm bảo, góp phần nâng cao chất lượng và năng suất lao động.
Đánh giá công tác quản lý nhà nước về an toàn lao động tại Việt Nam hiện nay Như vậy, Nhà nước và các Bộ ngành đã ban hành nhiều văn bản quy định về công tác ATVSLĐ, với nội dung chính gồm: Chính sách, chế độ trang bị PTBVCN và chăm sóc sức khỏe NLĐ; các quy định/quy chuẩn kỹ thuật. Công tác triển khai thực hiện, mặc dù đã có các quy định nhưng tính thực thi và hiệu lực còn chưa cao. Có tình trạng này là do: Sự chưa phù hợp giữa văn bản pháp luật với tình hình sản xuất thực tế; Các tiêu chuẩn/quy chuẩn kỹ thuật đã được ban hành ở nước ta, chủ yếu được xây dựng và phát triển dựa trên các tiêu chuẩn nước ngoài mà chưa được quan tâm đầu tư đúng mức để tính phù hợp với điều kiện thực tế của nước ta; Sự quản lý về Luan van 11 lao động cũng như công tác ATVSLĐ ở các địa phương còn lỏng lẻo góp phần làm giảm tính thực thi các quy định về ATVSLĐ; Sự thiếu hụt nguồn nhân lực từ trong các Bộ, tỉnh, doanh nghiệp, khu công nghiệp…trong công tác thanh kiểm tra và việc xử lý vi phạm về ATVSLĐ còn chưa thực sự nghiêm minh; Khối doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa quan tâm đầu tư đúng mức cho công tác ATVSLĐ; Thụ động về tuyên truyền và kiểm tra, chủ yếu triển khai thực hiện khi được Nhà nước phát động vào các dịp như Tháng hành động ATVSLĐ. Còn NLĐ thì chưa chủ động thực hiện các biện pháp, quy định về ATVSLĐ…đều góp phần làm cho việc thực hiện và đảm bảo công tác ATVSLĐ ở nước ta gặp nhiều khó khăn.
Tình hình TNLĐ trong các năm từ 2016 đến 2020 được thống kê tại bảng 1.1 Theo thông báo của Bộ Lao động - Thương Binh và Xã hội về tình hình tai nạn lao động, trong 05 năm qua từ 2016 đến 2020 thì năm 2015 số vụ tai nạn lao động ở mức cao nhất. Bảng thống kê cũng cho thấy năm 2020 số nạn nhân nữ có xu hướng giảm so với năm 2019. Con số thống kê số vụ TNLĐ năm 2016 cho thấy: - Năm 2016: 06 tháng cuối (thời điểm bắt đầu thực thi Luật ATVSLĐ), có 393 vụ TNLĐ, trong số 445 người bị nạn thì số người chết 151 và số người bị thương nặng là 97. - Năm 2017: TNLĐ tăng mạnh các về số vụ và số nạn nhân, cả nước có 1.266 người bị nạn, trong số đó có 234 người bị thương nặng và 262 người bị chết.
- Năm 2018: TNLĐ giảm số vụ, có tất cả là 907 vụ (so với năm 2017 giảm 300 vụ) số người bị nạn là 970 (so với năm 2017 giảm 296 người). Nhưng tăng đột biến về số người bị thiệt mạng và số vụ có người thiệt mạng, có 394 vụ có người bị thiệt mạng (tăng 57,6% so với năm 2017) và số người thiệt mạng là 417 (tăng 59,16% so với năm 2017). Luan van 12 Bảng 1. Bảng thống kê tình hình tai nạn lao động từ năm 2016 đến năm 2020 NĂM 2016 NĂM 2017 NĂM 2018 NĂM 2019 NĂM 2020 Tăng (+) Tăng (+) Tăng (+) ST Tăng (+) / Tăng (+) / Chỉ tiêu thống kê Số Số / Số / Số / Số T giảm (-) giảm (-) lƣợng lƣợng giảm (-) lƣợng giảm (-) lƣợng giảm (-) lƣợng (%) (%) (%) (%) (%) 1 Số vụ 7588 -0.473 4,81 2 Số nạn nhân 7806 0.